Trong tiếng Việt, mối tương quan vợ chồng được diễn tả qua nhiều từ ngữ: chồng được gọi là “hôn phu, phu quân, lang quân”; vợ là “hôn thê, hiền thê”. Hai người là “bạn trăm năm”. Tuy nhiên, ở đây, vì cần phân tích ý nghĩa thần học, chúng tôi xin sử dụng ngôn ngữ trực tiếp là vợ chồng. Có lẽ không ít người sẽ cảm thấy chói tai khi gọi Đức Maria là “vợ” của ông Giuse (hoặc gọi ông Giuse là chồng của Đức Maria), bởi vì hai người đã khấn giữ đồng trinh và không có quan hệ vợ chồng (hai người là “bạn rất thanh sạch”). Tuy nhiên, chính Tân Ước đã ghi nhận rõ ràng rằng Thánh Giuse và Đức Maria là vợ chồng (xc. Mt 1,15.18-20.24; Lc 1,27; 2,5); thậm chí ông Giuse được lệnh của thiên sứ hãy lấy bà Maria làm vợ. Nói cách khác, hai ông bà trở thành vợ chồng do ý muốn của Chúa. Đối với chúng ta, điều quan trọng là cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của mối dây hôn nhân giữa Thánh Giuse với Đức Maria. Hơn thế nữa, Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinô đã khẳng định sự chân thực của mối hôn nhân ấy, rồi từ đó trình bày ý nghĩa cao quý của hôn nhân.
Như đã nói, dựa theo Tin Mừng Matthêu, thiên sứ đã kêu gọi Thánh Giuse hãy lấy Đức Maria làm vợ. Trước đó, hai người đã đính hôn với nhau rồi, và chúng ta không biết vì lý do gì. Nhưng từ khi thiên sứ hiện ra, thì hôn nhân này mang một ý nghĩa chính xác: ông Giuse cần phải lấy bà Maria làm vợ, để con trẻ sinh ra bởi bà Maria được nhận vào dòng dõi của vua Đavit. Ông Giuse cần phải lấy bà Maria làm vợ bởi vì ông được ơn gọi làm cha của đấng Mêsia (RC 2-3.7).
Đồng thời, cả Matthêu lẫn Luca đều nhấn mạnh rằng Đức Giêsu được sinh ra do quyền năng của Chúa Thánh Thần, chứ không do sự giao hợp giữa hai ông bà. Trong lịch sử Giáo Hội, khá nhiều cuộc tranh luận đã nảy lên chung quanh cụm từ “do quyền năng của Chúa Thánh Thần”.
Chúng tôi nghiêng theo ý kiến cuối cùng này. Những cuộc tranh luận để giải thích cuộc thụ thai của Đức Giêsu dưới phương diện sinh học (y học) không ích lợi gì hết, bởi vì điều này không nằm trong lãnh vực mặc khải. Tân Ước chỉ nói cho chúng ta biết rằng “Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và là con của bà Maria”. Dĩ nhiên là trong mỗi trường hợp, tiếng “con” mang một ý nghĩa riêng biệt: “Con Thiên Chúa” không thể hiểu như là con do Thiên Chúa sinh sản ra; một cách tương tự như vậy, “con của bà Maria” không thể hiểu như là con do cuộc giao hợp giữa bà với chồng mình! “Điều đó xảy đến thế nào được?” Đức Maria đã hỏi sứ thần như vậy (Lc 1,34), và lời giải thích của sứ thần chẳng đi vào hết mọi ngóc ngách của phương diện sinh lý! Cả một mầu nhiệm bao trùm việc Thiên Chúa làm người do bởi đức trinh nữ Maria.
Phải chăng vai trò của Thánh Giuse trở nên thừa thãi trong câu chuyện này? Các giáo phụ không nghĩ như vậy, và họ cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của sự hiện diện của ông trong mầu nhiệm này. Các lý do ấy đã được Thánh Tôma tóm tắt lại trong sách Tổng Luận Thần Học (III pars, q.29): như Thánh Ambrôsiô đã nói, Thánh Giuse trở thành chứng nhân cho sự thụ thai trinh khiết của Đức Maria (ý kiến của các giáo phụ Ambrôsiô, Hiêrônimô, Augustinô). Thật vậy, nếu Đức Maria quả quyết rằng mình có con do một phép lạ thì không biết có ai tin nổi hay không; nhưng nếu chính người chồng của mình cũng chứng thực điều đó thì thiên hạ dễ chấp nhận hơn! Dù sao, đối với luật pháp đương thời, Đức Maria cần được Thánh Giuse bảo vệ, kẻo bị ném đá vì tội ngoại tình. Đàng khác, Đức Maria cũng cần được Thánh Giuse giúp đỡ trong suốt thời gian mang thai và nuôi dưỡng Hài nhi Giêsu.
Ngoài những luận cứ còn nằm trên lý luận thường tình, các giáo phụ còn muốn tiến xa hơn nữa, đào sâu thêm khía cạnh triết học về bản chất hôn nhân, cũng như khía cạnh huyền bí của mối tình phu phụ.
Trong lịch sử thần học, cuộc hôn nhân này đã được phân tích dưới nhiều góc cạnh khác nhau.
1/ Vào thời Trung Cổ, các nhà luật học đã tranh luận với nhau về yếu tố cốt yếu của hôn nhân. Theo quan điểm của luật Rôma, hôn nhân được cấu thành do sự thoả thuận của ý chí (consensus); theo quan điểm của luật Germanic, hôn nhân được cấu thành do sự giao hợp vợ chồng (copulatio). Vì muốn dung hoà hai quan điểm đó, giáo luật đề ra học thuyết về “giá thú hữu hiệu và hoàn hợp” (ratum et consummatum). Dĩ nhiên, giá thú của Thánh Giuse chỉ là “thành hiệu”, nhưng “bất hoàn hợp”!
2/ Trước đó, Thánh Augustinô đã suy tư về bản chất hôn nhân dưới khía cạnh triết học và tâm lý, và đã nhìn thấy khuôn mẫu tuyệt vời nơi hôn nhân của Thánh Giuse. Theo quan điểm dân gian cổ truyền, mục tiêu của hôn nhân là sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường. Nhìn dưới viễn tượng của thần học Kitô giáo, theo đó hôn nhân được nâng lên hàng bí tích, nghĩa là được gán thêm giá trị thánh thiêng, Thánh Augustinô vạch ra ba thiện ích của hôn nhân là: con cái, trung tín và chung thuỷ. Tất cả ba thiện ích này đều đạt được nơi hôn nhân của Thánh Giuse với Đức Maria (De nuptiis et concupiscentia, 1,11,13: được RC trích dẫn ở nota 14).
Hơn thế nữa, lý tưởng cao quý nhất của hôn nhân là sự hoà hợp (unio): hai người trở nên một. Tuy nhiên, không nên hiểu sự hoà hợp này về khía cạnh thể xác mà thôi; cần phải lên cao hơn nữa, đó là sự hoà hợp về tâm tình và về tinh thần (mentis affectus).
3/ Suy tư của RC
Như đã nói, tông huấn RC lặp lại đạo lý cổ truyền, khẳng định rằng hôn nhân của Thánh Giuse với Đức Maria là giá thú thật sự: đây là một dữ kiện của Tân Ước. Tông huấn cũng trích dẫn những giải thích của Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinô về bản chất hôn nhân (RC số 7). Tuy nhiên, bên cạnh đặc tính hoà hợp về tâm tình và tinh thần, tông huấn còn muốn nêu bật nhiều yếu tố khác tạo nên sự thông hiệp giữa Thánh Giuse và Đức Maria.
Thiết tưởng không phải là thừa khi nhắc đến những cấp độ của tình yêu, từ chỗ chiếm hữu đến chỗ trao ban, mà thần học đã diễn tả qua những từ ngữ: eros, philia, agape, được đức Bênêđictô XVI phân tích trong thông điệp Deus caritas est (số 3-8).
Trong lịch sử Giáo Hội, đức trinh khiết của Thánh Giuse đã trở thành đề tài cho nhiều cuộc tranh luận, có thể tóm lại vào ba điểm như sau: 1/ phải chăng ông Giuse đã có một đời vợ trước khi lấy bà Maria?; 2/ phải chăng ông Giuse ăn ở sau khi bà Maria sinh con? 3/ phải chăng ông Giuse khấn giữ đồng trinh?
Hai câu hỏi đầu tiên được đặt ra do sự hiện diện của các “anh em của Đức Giêsu” trong các bản văn Phúc Âm (Mc 6,3). Để giải quyết vấn đề này, hai ý kiến được đưa ra:
1/ Ông Giuse đã có một đời vợ và đã có con. Sau đó, ông goá vợ, lấy bà Maria. Như thế “những anh em của Đức Giêsu” được hiểu như “những người anh cùng cha khác mẹ”. Đây là giải đáp của nhiều ngụy thư Tin Mừng, cách riêng là “Tiền Tin Mừng Thánh Giacôbê” và được nhiều giáo phụ chấp nhận (các giáo phụ bên Đông phương: Origène, Epiphanius, Grêgôriô Nyssa, Cyrillô Alexandria, Theophylact, Theodoretus, Gioan Kim khẩu; bên Tây phương: Ambrôsiô, Hilariô). Ảnh hưởng của nó trên dân gian cũng đáng kể, xét vì nhiều hoạ sĩ vẽ Thánh Giuse như một cụ già. (Nên biết là Cha Jean Gerson đã nêu vấn nạn như thế này: nếu Thánh Giuse già lão như vậy thì làm sao đủ sức mà giúp đỡ thánh gia trong bao nhiêu việc nặng nề, chẳng hạn trong suốt cuộc hành trình sang Ai-cập?)
2/ Ý kiến thứ hai cho rằng sau khi đã sinh ra Chúa Giêsu, bà Maria có quan hệ bình thường với ông Giuse và sinh ra nhiều con nữa: như vậy họ là “em ruột của Chúa”. Lập luận này dựa theo hai câu văn của Tin Mừng:
Những vấn nạn này đã được giải thích trong chương một. Ít là kể từ thế kỷ IV (tín biểu của Thánh Epiphaniô năm 374; công đồng Constantinopolis II năm 553), Hội Thánh công giáo tuyên xưng rằng Đức Maria “trọn đời đồng trinh”, trước và sau khi sinh con (xc. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo số 499).
3/ Đối lại với hai ý kiến vừa rồi, ý kiến thứ ba khẳng định rằng Thánh Giuse cũng hoàn toàn khiết tịnh: ông không có bà vợ nào trước bà Maria, và thậm chí ông đã khấn giữ khiết tịnh cùng với bà Maria.
Tuy điều này không nằm trong đạo lý chính thức của Giáo Hội, nhưng đã được các nhà thần học khẳng định ngay từ thời Trung Cổ, cách riêng với Thánh Albertô và Thánh Tôma Aquinô (Summa Theologica, III, q.28,a.4). Các văn kiện của Huấn Quyền vào thời cận đại cũng quả quyết như vậy (xc. RC số 7; 20, trưng dẫn thông điệp Quamquam pluries).
Thực ra, nên phân biệt nhiều cấp độ chung quanh sự khiết tịnh trọn hảo của Thánh Giuse:
Kiểu hôn nhân mà Chúa Thánh Thần hướng dẫn bà Maria và ông Giuse chỉ có thể hiểu được trong toàn bộ kế hoạch cứu độ và trong khung cảnh một linh đạo cao siêu. Việc thực hiện cụ thể mầu nhiệm Nhập Thể đòi hỏi một sự sinh hạ trinh khiết để nêu bật Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, và đồng thời đòi hỏi một gia đình để bảo đảm cho nhân cách của Hài nhi được phát triển điều hòa.
Chính vì phải góp phần vào mầu nhiệm của Ngôi Lời nhập thể mà ông Giuse và bà Maria đã lãnh nhận ơn thánh để họ vừa sống đặc sủng trinh khiết vừa sống hồng ân hôn nhân. Sự thông hiệp tình yêu trinh khiết giữa Đức Maria và ông Giuse, tuy tạo nên một trường hợp hết sức đặc biệt, gắn liền với việc thực hiện mầu nhiệm Nhập Thể, nhưng vẫn là một hôn nhân đích thực. (xc. tông huấn Redemptoris Custos, số 7).
Chúng ta phải nhìn nhận rằng đây là trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người: Đức Maria vừa là trinh nữ vừa là mẹ, Thánh Giuse vừa trinh khiết vừa là chồng. Sự nghịch lý này chỉ có thể giải thích được ngay từ cội rễ của nó là mầu nhiệm Nhập Thể: Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là con người.
Dù sao, trong chế độ Tân Ước, hai nếp sống hôn nhân và trinh khiết không tương phản với nhau, nhưng được kêu gọi để bổ túc cho nhau trong việc diễn tả một mầu nhiệm của sự kết hiệp huyền nhiệm của Đức Kitô với Hội Thánh (xc. Ep 5,32). Dĩ nhiên, để có khả năng diễn tả mầu nhiệm này, chúng ta cần nhận được ân sủng của Thiên Chúa: ân sủng để dâng hiến con tim toàn vẹn cho Thiên Chúa, ân sủng để trao ban hỗ tương trong đời vợ chồng.
Do đó, cũng như Đức Maria là mẫu gương cho các trinh nữ và các bà mẹ, thì Thánh Giuse cũng là mẫu gương và bảo trợ cho những người chồng cũng như những người trinh khiết (nam hoặc nữ). Thiết tưởng trong quá khứ chúng ta thường nhấn mạnh rằng sự “độc thân vì Nước Trời” là một “ơn gọi” (một đặc sủng: xc 1Cr 7,7; Mt 19,10-12), nhưng ít lưu ý đến hôn nhân cũng là một “ơn gọi”: đôi bạn cần ân sủng của Chúa để đón nhận nhau theo đức ái chứ không chỉ vì đam mê (cũng như Thánh Giuse nhận Đức Maria làm vợ “theo ý Chúa”). Bí tích hôn nhân được thiết lập nhằm đạt đến lý tưởng ấy.
Các tác phẩm thần học về Thánh Giuse thường nói đến các đặc ân mà Thiên Chúa ban cho Người, dựa theo vài nguyên tắc chung của đường lối quan phòng đã được Thánh Tôma Aquinô phát biểu dựa theo giáo huấn của các giáo phụ.
1/ Khi Thiên Chúa đã tuyển chọn người nào vào một sứ mạng đặc biệt thì Người cũng ban những ơn huệ cần thiết (kể cả trên bình diện tự nhiên) để chu toàn sứ mạng (“illos quos Deus ad aliquid eligit, ita praeparat et disponit ut ad id ad quod eliguntur inveniantur idonei”: Summa Theologica III, q.27, a.4, c)
2/ Ai càng gần gũi với nguồn mạch ân sủng, thì càng nhận được những hiệu quả dồi dào của ân sủng (“quanto aliquid magis appropinquat principio in quolibet genere, tanto magis participat effectum illius principii”: Sum.Theol. III, q.27, a.5,c).
Từ nhũng nguyên tắc vừa rồi, các nhà thần học lý luận thế này: ở trên đời này, có ai được Thiên Chúa uỷ thác trách vụ cao quý như là Đức Maria và Thánh Giuse? Vì thế, sau Đức Mẹ, Thánh Giuse chắc chắn đã lãnh nhận những ân huệ tương xứng với ơn gọi của mình. Một cách tương tự như vậy, ngoài Đức Mẹ ra, thử hỏi có ai gần gũi với Chúa Giêsu nguồn mạch ân sủng và thánh hoá như Thánh Giuse? Vì thế chắc chắn là người đã được thánh hoá bởi đủ mọi thứ nhân đức.
Nói chung, các tác giả thường bàn đến những đặc ân và nhân đức sau đây.
Cũng như Đức Maria được đặc ân vô nhiễm nguyên tội và hồn xác lên trời, hẳn Thánh Giuse cũng được chia sẻ hai đặc ân ấy.
1/ Vô nhiễm nguyên tội
Dựa theo ý kiến của nhiều nhà thần học (Gerson, Isolani, thánh An-phong, vv), nếu Thánh Gioan Tiền hô đã được thánh hoá ngay từ trong lòng mẹ (xc. Lc 1,41-44), thì đâu có lý do gì mà Thánh Giuse lại không được ân huệ đó?
Tuy trước đây nhiều tác giả chấp nhận đạo lý “vô nhiễm nguyên tội” cách dễ dàng, nhưng ngày nay, người ta tỏ ra dè dặt hơn. Lập luận của thần học không thể chỉ trên phương pháp suy diễn, nhưng còn phải được kiểm chứng với nền tảng mặc khải nữa. Việc Thánh Giuse không mắc tội tổ tông không dựa trên cơ sở của Kinh Thánh và Huấn Quyền.
2/ Hồn xác lên trời
Dựa theo đoạn văn của Mt 27,52-53 (sau khi Chúa Giêsu sống lại, nhiều vị thánh cũng được phục sinh), Cha Francisco Suarez và Thánh Francois de Sales cho rằng Thánh Giuse cũng được liệt vào số những người đó, nghĩa là đã được sống lại cả linh hồn lẫn thân xác.
Về điểm này, chúng ta cũng có thể đưa ra nhận xét tương tự như đối với đặc ân vô nhiễm nguyên tội.
Chúng ta thấy trong Tân Ước, Thánh Giuse đã được mệnh danh là “công chính” (công bình chính trực: Mt 1,19). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người chỉ có một nhân đức mà thôi. Các nhà thần học tìm cách thiết lập danh sách các nhân đức dựa theo những tiêu chuẩn khác nhau.
Có lẽ Cha Isolani là người đầu tiên tán giải các nhân đức của Thánh Giuse dựa theo những chữ cái ghép thành tên riêng (IOSEPH trong tiếng latinh): Iustitia (công bằng), Oboedientia (vâng lời), Sapientia (khôn ngoan), Experientia (kinh nghiệm), Patientia (nhẫn nhục), Humilitas (khiêm nhường). Các nhà giảng thuyết như Bossuet không tiếc lời ca ngợi đời sống đức độ của người, dựa theo danh sách cổ truyền các nhân đức (Tin, Cậy, Mến, Khôn ngoan, Công bằng, Mạnh bạo, Tiết độ), hoặc tám mối phúc thật, hoặc bảy ơn Chúa Thánh Thần. Một danh mục dài hơn có thể tìm thấy trong kinh cầu Thánh Giuse.
Dĩ nhiên, mỗi thời đại thích nhấn mạnh đến một vài nhân đức đặc biệt. Một cách tương tự như vậy, mỗi hàng ngũ (giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân) hoặc chức nghiệp cũng thích đề cao một điểm nổi bật (lao động, thợ mộc), như sẽ thấy trong mục tới khi bàn về những mẫu gương.
Trong quá khứ, nhiều tác giả còn thêm hai phụ lục sau đây:
1/ So sánh vị trí cao trọng của Thánh Giuse với các thánh khác, cách riêng với Thánh Gioan tiền hô (xc. Mt 11,11: “Trong số những phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy giả”), các thánh tông đồ (luôn được xếp vào hàng đầu trong danh sách đặc sủng, thí dụ Ep 4,11).
Người ta tìm cách phân biệt nhiều khía cạnh khác nhau. Ông Gioan Tẩy giả lớn nhất xét theo Cựu Ước; sự so sánh này hết giá trị khi bước sang Tân Ước (“Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”: Mt 11,11). Thánh Giuse lớn xét về gần gũi với nguồn mạch ân sủng; các thánh tông đồ lớn xét về mặt phẩm trật.
2/ Cấp đẳng lòng sùng kính dành cho Thánh Giuse. Theo thần học, các việc tôn kính được phân làm ba cấp độ: a) latria (adoratio): “thờ phượng”, dành riêng cho Thiên Chúa; b) dulia (veneratio): “tôn kính”, dành cho các thánh; c) hyperdulia, “biệt kính”, dành cho Đức Maria. Có người muốn chỉ định cấp thứ bốn cho Thánh Giuse là protodulia.
Những văn kiện gần đây của Toà thánh tuy tiếp tục đề cao vị trí cao cả vô song của Thánh Giuse trong kế hoạch cứu độ (thí dụ tông huấn RC số 8; 20), nhưng không đả động đến vấn đề so sánh cao thấp với các vị thánh khác.