Năm nay kỷ niệm nửa thế kỷ ra đời một cuốn sách tu đức thời danh của Giáo hội Việt Nam và của Giáo hội toàn cầu mà tác giả là một chủ chăn nổi tiếng hoàn vũ, Đấng Đáng kính Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận (1928-2002). Chúng tôi muốn nói đến cuốn Đường Hy Vọng với “ngìn lẻ một lời” mà nay được dịch ra trên 12 ngôn ngữ.
Đấy không phải là một sáng kiến đột xuất, một ngẫu hứng tu đức của vị giám mục Nha Trang thập niên 70 của thế kỷ trước; nó càng không dừng lại khi đến câu thứ 1001. Tác phẩm nằm trong một tổng hợp lớn lao mà nay được gọi là Linh đạo Hy Vọng của Đấng Đáng kính.
Chúng ta biết rằng ngoài việc kính tin và yêu mến Thiên Chúa, Kitô hữu còn phải sống nhân đức đối thần thứ ba là trông cậy (hy vọng) vào Người. Ơn Quan phòng đã ban cho thời đại chúng ta một chứng nhân kiệt xuất về nhân đức ấy: Đức Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận.
Người đã chứng tỏ mình là con người của Hy vọng trước hết qua khẩu hiệu giám mục “Vui mừng và Hy vọng” (Gaudium et Spes) mà người chọn khi mới nhậm chức, nhằm thực hiện tinh thần của Hiến chế Công đồng cùng tên; thứ đến qua việc thành lập các nhóm Hy Vọng (sau trở thành Tu hội đời Hy vọng và nay sáp nhập vào Tu hội đời Thánh Tâm Chúa Giêsu); tiếp nữa là qua việc viết nhiều tác phẩm về lòng trông cậy Kitô giáo lúc còn làm Giám mục Giáo phận Nha Trang (1967-1975), nhằm giáo dục ý nghĩa của nhân đức này; và nhất là qua việc trải nghiệm nghịch cảnh quản chế lao tù dài lâu (13 năm: 1975-1988) với một lòng trông cậy vào Thiên Chúa không hề suy suyển.
Nghịch cảnh này, người phải lâm vào khi được Tòa thánh đặt làm Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị ngay sau biến cố 30-04-1975. Đến nhiệm sở ngày 07 tháng 05, nhưng hôm 15 tháng 8, người bị đưa về quản chế tại giáo xứ Cây Vông, Giáo phận Nha Trang. Tại đây, trên những tờ lịch cũ, các câu Đường Hy Vọng ra đời và kết thúc năm 1976, cách đây đúng 50 năm.
Lời nói, việc làm và cuộc sống của Đức Hồng y đã thể hiện cách hùng hồn Linh đạo Hy vọng mà người đã để lại cho Giáo hội như một di sản tinh thần quý giá. Và bên cạnh những tác phẩm khác như “Ðường Hy Vọng Dưới Ánh Sáng Lời Chúa Và Công Đồng Vatican II”, “Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng”, “Lời Kinh Trên Đường Hy Vọng”, “Năm Chiếc Bánh Và Hai Con Cá” cùng nhiều bài viết ngắn khác, cuốn Đường Hy Vọng (với 36 mục chính) mà chúng ta đang kỷ niệm nay được coi như biểu tượng và linh hồn của linh đạo mà chúng ta sắp tổng hợp dưới đây.
Linh đạo ấy có nội dung đúng như thần học: Đức Kitô là nguồn hy vọng duy nhất và đích thực cho cho nhân loại, cho gian trần. Qua việc nhập thể và nhập thế, qua lời dạy và gương sáng, qua cuộc khổ nạn và phục sinh của mình, Người đã mở ra chân trời hy vọng bao la, đồng thời vạch ra nẻo đường hy vọng đích thực. Người vừa là hiện thân cho tình yêu của Thiên Chúa, vừa là nguồn cội cho hy vọng của loài người, vì là giải đáp cho mọi thắc mắc sâu xa và giải pháp cho mọi vấn đề chủ yếu của nhân loại. Người là trọn vẹn những gì mà trần gian cần tới hơn hết, là tất cả mọi sự mà phàm nhân mong đợi hơn cả. Người là sự viên mãn của vũ trụ (x. Cl 1,19). Và với tư cách Kitô hữu, ta được trao ban nguồn hy vọng lớn lao ấy trong lòng, rồi được dạy mang nguồn hy vọng ấy cho thế giới.
a. Đường Lối: Sự Hiện Diện
Để được Chúa làm nguồn hy vọng cho bản thân, theo Đức Hồng y, chúng ta phải hiện diện trong lòng Thiên Chúa và Hội Thánh. Để mang Chúa làm nguồn hy vọng cho loài người, chúng ta phải hiện diện giữa lòng thời đại và dân tộc.
Lý do là vì Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta (Em-ma-nu-en) nơi Đức Giêsu, bằng mầu nhiệm Nhập thể. Người đã hiện diện giữa chúng ta qua Con Một mà Người đã ban vì yêu thương chúng ta, yêu thương trước (x. Ga 3,16; 1Ga 4,10). Không những thế, trong Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập thể, cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều đã đến với trần gian, mở rộng lòng đón cả trần gian và nhân loại, lôi cuốn tất cả vào trong mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi.
Hiện diện trong lòng Thiên Chúa bằng cách đón nhận Lời Chúa và Minh Chúa, bằng cách yêu mến Thánh Tâm và Thánh Thể, qua cầu nguyện riêng tư và tham dự phụng vụ. Hiện diện trong lòng Hội Thánh như chi thể sống động của Nhiệm thể, như tình yêu hồn sống của mọi hoạt động (theo cách nói của thánh Têrêxa Hài Đồng), qua một cuộc đời Ki-tô hữu chân chính và tích cực, hành đạo chứ không chỉ giữ đạo.
Hiện diện giữa lòng thời đại như ánh sáng và muối men, vì thế giới hôm nay đang bị bao phủ bởi bóng tối của chủ nghĩa duy vật vô thần, đang ung thối vì một nền văn minh chủ trương hưởng lạc; hiện diện giữa lòng dân tộc như chứng nhân của tình thương, tư do và công lý, với ý thức dấn thân truyền giáo và tinh thần tông đồ nồng nhiệt.
b. Tinh Thần: Chu Toàn Phận Sự
Hiện diện như thế để trao ban Chúa làm Nguồn hy vọng, đó chính là bản chất của ơn gọi Kitô hữu, theo gương Thánh Gia Thất. Do thuộc mọi thành phần, ở mọi môi trường, làm mọi công việc, chúng ta sở hữu một phương tiện để nên thánh và làm tông đồ, đó là phận sự mà chúng ta ai cũng có riêng và phải chu toàn. Chu toàn phận sự bằng cách thánh hóa chính phận sự, thánh hóa bản thân qua phận sự và thánh hóa nhân loại nhờ phận sự. Bởi lẽ chu toàn phận sự là sống Tin Mừng, sống Thiên Ý trong giây phút hiện tại, là cầu nguyện liên lỉ trong hoạt động, là kết hiệp với Chúa qua mọi việc ta làm và tại mọi nơi ta sống.
Thánh hóa phận sự là tìm ý Chúa (Người muốn tôi làm gì lúc này), noi gương Chúa (nếu là Người thì sẽ làm ra sao), theo sự soi sáng và thúc đẩy của Thánh Thần; là đặt tất cả trí tuệ và trái tim vào công việc đang phải làm, làm cho hoàn hảo và làm vì yêu mến. - Thánh hóa bản thân qua phận sự là cách thức biến tâm hồn nên mới, gia đình nên mới, thế giới nên mới (Đường Hy Vọng 20), vì không thể quan niệm thánh thiện ngoài phận sự (Đường Hy Vọng 23), vì các thánh đã nên thánh chính nhờ làm tròn phận sự mình (Đường Hy Vọng 25). - Thánh hóa nhân loại bằng phận sự, nghĩa là nhờ làm phận sự cách hoàn hảo, với lòng yêu mến Thiên Chúa và tinh thần phục vụ anh em, chúng ta thánh hóa môi trường của mình (x. Đường Hy Vọng 24). Qua phận sự giữa xã hội, chúng ta không ngừng tiếp xúc cá nhân với mọi người, bí quyết và phương cách tông đồ mà chính Đức Kitô từng thực hiện. Có thế mới tỏa sáng niềm hy vọng của chúng ta.
c. Phương Thức: SPES
Phương thức tỏa sáng niềm hy vọng đó được ttóm gọn trong chữ SPES (Hy Vọng theo La ngữ). Bốn mẫu tự trong chữ này nói lên 4 điểm của phương thức (cùng mẫu tự P trong Việt ngữ). - Servire (Phụng sự/Phục vụ) Phụng sự Thiên Chúa, phục vụ tha nhân theo tinh thần Tin Mừng và công đồng Vatican II, y như Chúa Giêsu: không đòi hỏi một đặc ân nào, một địa vị nào, một ưu đãi nào, một phần thưởng nào. - Progressione (Phát triển). Bằng cách phát triển con người toàn diện; làm cho con người được hạnh phúc thể xác và tâm hồn, xây dựng nền văn minh sự sống và tình thương, làm cho xã hội trở nên thiên đàng tại thế. - Evangelizatione (Phúc Âm). Bằng cách phúc âm hóa con người, xã hội và thế giới ngày nay đang bàng hoàng và mất hướng vì chối bỏ Thiên Chúa (x. Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng của ĐTC Phanxicô), vì chỉ có Tin Mừng mới là giải pháp, mới là động lực để xây dựng trần gian tốt đẹp, chuẩn bị cho nó thành Trời mới Đất mới. - Sanctificatione (Phận sự). Bằng cách thánh hóa bản thân, tha nhân, môi trường nhờ phận sự như nói trên. Đó là bản chất và cùng đích của nhiệm vụ mà mỗi Ki-tô hữu phải thực hiện theo bậc sống của mình.
Thiết tưởng không có gì bằng nhắc lại lời tán dương của 2 vị chủ chăn Hội Thánh hoàn vũ:
“Đức cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận, bị 13 năm tù đày, trong đó có 9 năm biệt giam, đã để lại cho chúng ta một cuốn sách nhỏ quý giá: Những lời cầu nguyện của hy vọng. Suốt 13 năm tù đày, trong một hoàn cảnh xem ra hoàn toàn tuyệt vọng, việc lắng nghe Thiên Chúa, sự kiện có thể nói với Người đã trở nên cho vị Hồng y một sức mạnh hy vọng luôn gia tăng khiến Đức Hồng y, sau khi được tự do, đã trở nên cho nhiều người trên toàn thế giới một chứng nhân của hy vọng – niềm hy vọng lớn lao không tàn lụi ngay cả trong những đêm dài của cô đơn” (Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI, Thông điệp Spe Salvi [Được cứu rỗi trong hy vọng] số 32).
“Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, khi bị giam cầm trong một trại tập trung, đã không muốn những ngày sống của người chỉ là sự chờ đợi và mong mỏi một tương lai được tự do. Người đã chọn ‘sống giây phút hiện tại, lấp đầy nó bằng tình yêu’; và cách mà người thực hiện đó là: ‘Tôi nắm lấy những cơ hội có được mỗi ngày, để chu toàn những việc bình thường một cách phi thường’” (Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông huấn Christus vivit [Chúa Kitô đang sống] số 148)./.