TRIẾT HỌC: CON NGƯỜI LÀ HỮU THỂ CÓ NGÔI VỊ

John Phạm

Con người là một hữu thể có “ngôi vị”. Để làm sáng tỏ được chân lý này, trước hết chúng ta phải biết “ngôi vị” (persona) nghĩa là gì? Sau đó, qua các cặp tương quan trong triết học sẽ giúp ta hiểu hơn về bản chất con người là một ngôi vị.

Về ngôi vị, nó là một danh xưng dùng để chỉ những hữu thể lập hữu hoàn bị nhất trong một bản tính có trí khôn. Ngôi vị con người còn gọi là nhân vị, còn ngôi vị Thiên Chúa và ngôi vị thiên thần có thể gọi là thần vị. Vì mọi hoàn bị đều nảy sinh từ hiện hữu (esse) nên các bản thể trên có được sự hiện hữu. Tuy nhiên, cấp độ hiện hữu của các bản thể trên thì khác nhau: nơi Thiên Chúa thì hiện hữu là do tự bản chất của Người, Người là một Hiện Hữu Thuần Túy; còn các thiên thần và con người thì được thông dự vào esse của Thiên Chúa với một cấp độ cao hơn so với các vật thể khác.

Con người là một hữu thể có ngôi vị do nó có được hiện hữu độc lập (suppositum) từ Thiên Chúa, hay nói cách khác nó chiếm hữu được sự tương tự hiện hữu (esse) của Thiên Chúa một cách trổi vượt hơn; nó mang hình ảnh của Thiên Chúa, và bởi mang hình ảnh của Thiên Chúa nên nó có một phẩm giá cao quý được biểu lộ qua những hành vi mà chỉ có ngôi vị mới có, đó là yêu thương, hiểu biết, tự do, bổn phận, đặc biệt là khả năng khao khát và quy hướng về Thiên Chúa. Tuy nhiên, những hoàn bị trên chỉ thuần túy là những phụ thể, chúng có được là nhờ vào sự hiện hữu, mà hiện hữu chính là hạt nhân thực sự duy nhất của “ngôi vị tính” (personality).

Vậy để hiểu hơn về con người là một hữu thể có ngôi vị, ta sẽ đi tìm hiểu thông qua mối tương quan giữa bản thể / phụ thể, chất liệu / hình thể, yếu tính / hiện hữu.

1. Mối tương quan giữa bản thể / phụ thể

Con người là một hữu thể, tức nó có sự hiện hữu và sự hiện hữu nền tảng của nó phải được kiến tạo bởi bản thể và các phụ thể. Trong hai yếu tố trên, bản thể luôn là yếu tố quan trọng hơn, bởi nó không thay đổi, bền vững và là chủ thể cho những hoàn bị phụ thể hay là cái nền cáng đáng các phụ thể. Bản thể thuộc tiềm năng đối với các phụ thể theo mức độ nó được hoàn thiện bởi các phụ thể riêng của mình. Trong con người, bản thể chính là toàn thể con người (cấu tạo bởi nguyên tố xác và linh hồn), nó là nền tảng, nó đứng vững và có sự hiện hữu riêng, tức là cái nhờ yếu tính và bản chất của nó để ta phân biệt nó là người chứ không phải là cây cối hay con chó, con mèo…

Phụ thể là một hoàn bị thứ yếu phụ thuộc vào bản thể, tự nó không lập hữu nhưng nó chỉ có thể hiện hữu nhờ vào bản thể; nó có sự thay đổi nhưng không làm mất đi bản chất của vật thể, Ví dụ: màu sắc, hình dạng, kích thước... Tuy phụ thuộc vào bản thể, nhưng phụ thể không phải là không quan trọng, bởi vì là một hữu thể thì luôn được cấu tạo bởi cả bản thể và nhiều phụ thể, các phụ thể là hiện thể có ảnh hưởng đến bản thể; nó có vai trò xác định và bổ túc cho các bản thể, giữa chúng có sự phân biệt nhưng không hiện hữu tách biệt.

Đối với con người thì phụ thể có vai trò quan trọng. Xét về phẩm chất, đây là một tùy thể bổ sung và hoàn hảo bản thể, trong hiện hữu cũng như trong hành động, có liên quan đến nhân đức và luân lý con người. Xét về lượng, tức là một tùy thể làm cho vật thể có thể chia ra thành nhiều phần đồng nhất. Xét về mối tương quan, tức là nhờ đó mà một vật thể hướng về vật khác như: với Thiên Chúa, con người với nhau và với vũ trụ. Xét về vị thế phát xuất từ việc sắp xếp các phần của vật thể trong một nơi như: nằm, ngồi, đứng… về ở đâu, khi nào, hoạt động như: hiểu biết, yêu thương… chúng đều là các yếu tố để tạo nên một thể thống nhất trong một hữu thể, điều này giúp ta nắm bắt được nền tảng và nguồn mạch của sự vật là bản thể.

Việc nắm bắt này đi theo một tiến trình, lúc đầu ta chỉ nhận thức được những đặc điểm khả giác của sự vật và một số phẩm tính, nhưng vì phụ thể chỉ có thể hiện hữu nhờ bản thể, giữa bản thể / phụ thể là sự cấu tạo toàn khối tạo nên hữu thể, nên ta có thể nhận biết được yếu tính hay bản chất của bản thể qua phụ thể, điều này cũng giúp ta hiểu tốt hơn về các phụ thể. Ví dụ, qua việc nhận thức các phụ thể của con người như: hình thù và những hoạt động thì sẽ dẫn chúng ta đến yếu tính của con người là động vật có lý trí và tự do, giúp ta đánh giá được người khác và các bản thể quanh ta. Đó cũng là những nét biểu hiện của “ngôi vị tính” nơi con người.

2. Mối tương quan giữa chất liệu / hình thể     

Ở trên là mối tương quan giữa bản thể / phụ thể giúp chúng ta hiểu hơn về con người là một hữu thể có ngôi vị, tức nó hiện hữu và sự hiện hữu nó có được là bởi thông dự vào hiện hữu (esse) của Thiên Chúa với một cấp độ cao. Sự hiện hữu này chủ yếu thuộc về bản thể, mà bản thể không phải là điều gì đó đơn thuần, nó được phức hợp bởi hai nguyên lý yếu tính / hiện hữu (esse), vốn có tương quan với nhau như tiềm năng / hiện thể, nhưng yếu tính thì lại được phức hợp bởi chất liệu / hình thể và chúng cũng có tương quan với nhau như tiềm năng / hiện thể.

Trước khi tìm hiểu về mối tương quan giữa yếu tính / hiện hữu, ta sẽ cùng tìm hiểu về mối tương quan giữa chất liệu / hình thể để thấy được yếu tính nơi con người liên quan đến “ngôi vị”. Đối với các sự vật thì sự phức hợp giữa chất liệu / hình thể mới là cái đứng độc lập khi nó được thực hữu hóa qua việc hiện hữu. Nếu đứng tách riêng, thì nó sẽ không tồn tại, bởi không có hình thể thì chất liệu chẳng là gì cả và nó không có thực. Còn nếu không có chất liệu thì hình thế cũng không hiện hữu được (trường hợp này thì không áp dụng đối với hình thế bản thể nơi con người, vì nó chính là linh hồn, mà linh hồn con người thì thiêng liêng, nó có hiện hữu [esse] như một điều gì là của riêng nó, nếu không có chất liệu nó vẫn hiện hữu); chất liệu chia sẻ esse nhờ vào hình thế bản thể, để trở nên tác phẩm của một kiểu bản thể.

Với con người thì không một định nghĩa nào về con người mà lại không đề cập đến chất liệu / hình thể, tức là thân xác / linh hồn của con người, bởi chúng sẽ làm biến dạng bản chất thực sự của con người. Nếu định nghĩa con người mà không có hình thế bản thể (linh hồn), lúc đó con người chỉ là vật chất thuần túy. Còn nếu định nghĩa con người không có chất liệu (thân xác), thì con người chỉ là những bản thể thiêng liêng giống như các thiên thần.

Con người phải là sự phức hợp giữa chất liệu / hình thể, tức thân xác / linh hồn, nghĩa là nó phải có yếu tính. Trong hai yếu tố cấu tạo nên yếu tính thì hình thể quan trọng hơn, vì chất liệu tự nó chỉ là tiềm năng thuần túy và phải hướng về hình thế bản thể, với con người, vì hình thế bản thể (linh hồn) nó có sự hiện hữu riêng và cho phép chất liệu được chia sẻ vào sự hiện hữu đó trở thành thân xác con người. Như vậy, hình thế bản thể xét như một nguyên lý xác định của yếu tính, chính là thứ gì đó giới hạn hoặc thu gọn việc hiện hữu.

Điều này giúp ta phân biệt được giữa con người với các bản thể Thiên Chúa và thiên thần. Nơi Thiên Chúa, vì Người không có sự phức hợp giữa chất liệu / hình thể, nên Người không có yếu tính hay nói cách khác, yếu tính của Người đồng nhất với hiện hữu. Người hiện hữu tự thân như bản chất của riêng Người. Đối với các thiên thần, vì các đấng không có chất liệu nên hình thế hoàn toàn đồng nhất với yếu tính cá biệt và múc trọn loài của mình. Còn con người thì có sự phức hợp chất liệu, hình thế nên có yếu tính và đón nhận sự hiện hữu từ Thiên Chúa như sông nhận nước từ một nguồn suối, nên mang trong mình một ngôi vị.

3. Mối tương quan giữa yếu tính / hiện hữu

Sau khi đã tìm hiểu mối tương quan giữa chất liệu / hình thể là những yếu tố cấu tạo nên yếu tính, ta tiếp tục tìm hiểu về mối tương quan giữa yếu tính / hiện hữu để thấy rõ được con người có sự hiện hữu (esse) và cách thức hiện hữu (yếu tính) như thế nào từ ngôi vị.

Xét về yếu tính, trước hết nó là một danh xưng gán cho tiềm năng trực tiếp và riêng biệt của hiện hữu, để cùng với sự hiện hữu đó nó kiến tạo nên bản thể, đem lại cho bản thể một cách thức hiện hữu loại biệt; nó xác định bản thể đó thuộc về hữu thể nào, tức là cái mà qua đó một hữu thể thể hiện chính mình. Yếu tính được thu gọn vào một hình thế nhất định, nên nó giới hạn esse vào một cấp độ nhất định. Esse chỉ cái chung chung, còn yếu tính giới hạn nó, tạo thành cái gì đó có sự khác biệt hay là sự chuyên biệt hóa cách thức hiện hữu của một vật thể. Nơi con người, cái yếu tính đó là cái bản chất hay là tính nhân loại (tính người) trong con người của mình.

Xét về hiện hữu (esse), đó chính là hiện thể của yếu tính, tức nó là một hoàn bị thâm sâu nhất của sự vật và là nguồn mạch cho mọi hoàn bị khác; nó không chỉ đơn thuần là tồn tại (cái thể hiện bên ngoài), bởi nó có vai trò kiến tạo đối với tất cả mọi sự có trong một sự vật. Hiện hữu cũng là điểm chung giữa Thiên Chúa, thiên thần và con người, cũng như các thụ tạo khác, nhưng với cấp độ khác nhau tùy thuộc vào yếu tính vốn giới hạn hiện hữu theo nhiều cách.

Với Thiên Chúa, hiện hữu chính là yếu tính của Người, Người sở hữu cách viên mãn và tuyệt đối mọi hoàn bị hiện diện nơi các thụ tạo. Còn các hữu thể thụ tạo, chúng có được hiện hữu là nhờ sự thông dự vào hiện hữu của Thiên Chúa. Nơi thiên thần và con người thì đặc biệt hơn các thụ tạo khác, nó mang hình ảnh Thiên Chúa. Con người có được việc hiện hữu không phải là sự phức hợp giống như các sự vật vật chất, nhưng là bởi linh hồn nó cho phép thân xác là chất liệu được chia sẻ vào, mà linh hồn (có yếu tính thiêng liêng, bất tử) giống như thiên thần, nên có sự hiện hữu riêng được đón nhận từ Thiên Chúa trong việc tạo dựng, sự hiện hữu của linh hồn thực hữu hóa thân thể và kiến tạo nên gốc rễ cho mọi hoạt động của ngôi vị.

Qua phân tích trên, ta thấy được con người là kết hợp từ yếu tính / hiện hữu, chúng hữu hạn là do sự hiện hữu của chúng bị giới hạn bởi chính yếu tính của nó, tuy chúng không phân ly trong hữu thể, nhưng có sự phân biệt, giữa chúng có mối tương quan như tiềm năng / hiện thể. Điều này giúp ta thấy rõ hơn về sự lệ thuộc của thụ tạo vào Thiên Chúa, chúng luôn khao khát và quy hướng về Thiên Chúa – Đấng đã cho chúng sự hiện hữu, và qua đây ta cũng thấy được sự hiện diện thân mật của Thiên Chúa nơi các hữu thể thụ tạo.

Thông qua mối tương quan giữa bản thể / phụ thể, hình thể / chất liệu và yếu tính / hiện hữu cho chúng ta thấy rõ được tại sao con người là một hữu thể có “ngôi vị”. Đó là một món quà mà Thiên Chúa đã ban cho cách nhưng không nơi con người, nhưng món quà đó cũng đòi hỏi chúng ta phải cố gắng sống làm sao để chu toàn phẩm giá cao quý đó. Nhờ tự do chúng ta phải biết làm chủ những hành vi riêng của mình, có tinh thần trách nhiệm về việc làm của mình, biết chu toàn bổn phận và cố gắng giúp hoàn thiện con người của mình mỗi ngày một hơn. Vì là một hữu thể có ngôi vị, con người phải sống với một tình yêu vô vị lợi đối với nhau như Đấng đã ban cho ta một ngôi vị vì Người yêu ta vô vị lợi. Điều quan trọng nữa là con người chỉ có thể hoàn thiện thực sự, khi nó biết quy hướng tất cả mọi sự trong Thiên Chúa là Đấng hoàn thiện tuyệt đối.