Thuyết tiến hóa (TTH) do Charles Robert Darwin đưa ra vào năm 1859 (1). Hầu như đa số giới trẻ trên thế giới đều tin vào TTH. Lý do vì thuyết này được dạy trong trường học như một sự thật khoa học vững chắc.
Đại cương thuyết này cho rằng từ khởi thủy trái đất nhờ có những điều kiện thích hợp, một đơn bào vật chất (vô cơ) ngẫu nhiên chuyển thành một đơn bào có sự sống (hữu cơ). Sự việc xảy ra trong một cái ao nhỏ ấm áp (warm little pond) với các điều kiện hóa học phù hợp (ammonia, phosphoric salts, ánh sáng, nhiệt, điện...). Qua thời gian, đơn bào tự tiến hóa thành nhiều tế bào và kết thành một sinh vật sống. Rồi sinh vật gốc sinh sản ra nhiều sinh vật. Sau đó (qua nhiều năm) một số sinh vật di cư lên bờ. Chúng biến đổi cơ thể để thích nghi với hoàn cảnh trên cạn. Chúng là vật tổ sinh ra nhiều nhánh tổ khác. Những nhánh tổ này sinh ra mọi sinh vật. Kết quả, nhờ có cuộc tiến hóa mà trái đất có những sinh vật mới được tạo ra theo thời gian. Con người và loài khỉ linh trưởng có cùng một ngành tổ.
Công thức tiến hóa do Darwin đưa ra có 3 luật chính. 1) Sự sống tự xuất hiện do ngẫu nhiên. 2) Sự biến đổi bắt buộc phải có để thích nghi với hoàn cảnh sống. 3) Vạn vật sinh tồn dựa trên luật đào thải (còn gọi là “thích hợp nhất mới sống sót” - survival of the fittest).
Có rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ TTH. Chẳng hạn một số quốc gia, dùng nó để đề cao chủ nghĩa vô thần, phủ nhận Thiên Chúa. Ở đây tôi chỉ bàn về tình trạng của giới trẻ Công Giáo. Những người đang bị hoang mang giữa TTH và tín lý Công Giáo.
Hiển nhiên hệ thống kiến thức của TTH nghịch với niềm tin của Công Giáo. Nếu sự sống chỉ là ngẫu nhiên mà có thì đời sống sẽ trở thành vô nghĩa. Sự hiện hữu chẳng có một mục đích siêu việt tâm linh nào cả. Những ai tin vào TTH có thể đi đến chủ nghĩa hư vô (nihilism), nơi con người cô đơn không có nơi trú ẩn tinh thần (Thiên Chúa).
Ở giới trẻ, vào tuổi có thể tự suy tư, trí óc của họ bị đẩy vào tình trạng mâu thuẫn trong nhận thức (cognitive dissonance). Cuộc giằng xé giữa đức tin và TTH có thể tạo ra cuộc khủng hoảng tri thức. Theo tâm lý học, cuộc khủng hoảng buộc nạn nhân phải tìm ra lối thoát. Thông thường trí óc giới trẻ hợp với lời giải thích của nhà trường, do đó họ phủ nhận lời dạy của kinh thánh. Điều này dẫn tới sự mất tin tưởng vào tôn giáo khiến họ rời khỏi đạo.
Dĩ nhiên TTH không phải là nguyên nhân duy nhất khiến giới trẻ bỏ đạo, nhưng nó là một trong những nguyên nhân chính rất khó dung hòa. Tuy nhiên TTH chỉ là một trong muôn vàn thử thách về đức tin. Kitô hữu có thể vượt qua thử thách này nếu chúng ta biết sự thật về nó.
Những người theo TTH có một niềm tin trước, sau đó họ cố đi tìm bằng chứng hỗ trợ cho định kiến của họ. Sự việc trở nên lố bịch khi không tìm được bằng chứng họ ngụy tạo ra bằng chứng.
Ernst Haeckel nhà sinh học, gs tại Đại học Jena, Đức. Năm 1868, ông xuất bản cuốn “Lịch sử sáng tạo tự nhiên” (Natürliche Schöpfungsgeschichte), trong đó ông đưa ra những hình chụp quang tuyến về phôi bào của các loài. Căn cứ vào sự giống nhau của chúng, ông tuyên bố chúng có cùng một tổ tiên. Chẳng hạn có sự tương đồng giữa phôi người và phôi cá. Trong cả 2 phôi người ta thấy có cái “mang”. Ông giải thích phôi thai trong quá trình phát triển sẽ lần lượt "tái hiện" lại các giai đoạn trưởng thành từ tổ tiên của chúng. Đầu tiên nó có cái mang giống như cá, rồi trong những tuần tiếp theo nó sẽ có dạng giống như bò sát, rồi giống thú, rồi cuối cùng mới “tiến hóa” thành người.
Sự thực thật bi đát, Ernst Haeckel lấy hình phôi người rồi dựa vào đó ông vẽ ra những hình của phôi cá, phôi khỉ, phôi chó.... Ông đã thêm vào mỗi hình một chút thay đổi. Chính Haeckel đã thú nhận mình làm giả những hình vẽ đó để ủng hộ thuyết tiến hóa của Darwin.
Các nhà sinh học giải thích rằng cái giống như “cái mang” trong phôi thai người, trên thực tế là ống tai giữa, tuyến cận giáp, và tuyến ức đang hình thành. Phần phôi thai trông giống “túi lòng đỏ trứng” là nơi sản xuất máu cho trẻ sơ sinh. Cái “đuôi” trên thực tế là xương sống.
Điều đáng kinh ngạc là những hình vẽ phôi bào của ông vẫn được ghi trong sách giáo khoa. Nhóm ủng hộ TTH vẫn tuyên bố rằng bản hình của Haeckel là “bằng chứng của sự tiến hóa”.(2) Nhiều nhóm chống đối, như Answers in Genesis, Discovery Institute, Jonathan Wells, đã gọi bản hình của Ernst Haeckel là "fraud" (lừa đảo có chủ đích). Sách giáo khoa đã "lừa dối" học sinh.
Một “bằng chứng” khác là "Người vượn Piltdown". Đây là vụ lừa đảo chấn động thế giới trong lịch sử khảo cổ học. Năm 1912, một luật sư kiêm nhà khảo cổ Charles Dawson tuyên bố tìm thấy một hộp sọ tại bãi đá Piltdown, vùng Sussex (Anh). Hộp sọ này có vỏ sọ giống người hiện đại nhưng xương hàm lại rất giống vượn. Các nhà khoa học Anh thời đó tin rằng đây chính là bằng chứng về quá trình tiến hóa từ vượn sang người (còn gọi là người vượn).
Trong suốt 40 năm, mẫu vật này được coi là bằng chứng quan trọng. Tuy nhiên, năm 1953, các chuyên gia của Bảo Tàng Anh và Đại học Oxford đã tiến hành cuộc kiểm tra. Họ công bố rằng “Người vượn Piltdown” hoàn toàn là giả mạo. Kẻ giả mạo đã khéo léo ghép một hộp sọ người hiện đại với xương hàm của một con đười ươi. Răng đười ươi được mài bớt để trông giống cách ăn uống của người. Toàn bộ xương được nhuộm bằng hóa chất để trông có vẻ cổ xưa.(3)
Tiêu biểu cho óc cố chấp của nhóm TTH là định kiến của Francis Crick. Ông là nhà sinh vật học và vật lý học phân tử nổi tiếng. Ông công nhận rằng chiếu theo độ phức tạp về hóa học và sinh học, xác suất để vật chất vô cơ ngẫu nhiên chuyển thành sự sống là không thể có được, hoặc phải là "một phép lạ"(4). Tuy nhiên, để bênh vực TTH, ông đặt ra giả thuyết rằng: “sự sống (dưới dạng vi sinh vật đơn giản) do người ngoài hành tinh mang đến trái đất bằng tàu vũ trụ. Sau đó, những vi sinh vật này tiến hóa theo thuyết Darwin”. Giả thuyết này "đẩy" vấn đề nguồn gốc sự sống ra ngoài trái đất để những người vô thần như Crick vẫn có thể tin theo TTH.
Còn nhiều vụ giả mạo khác nữa, nói chung chúng cho thấy TTH đầy rẫy những kịch tính, tham vọng và cả những sai lầm. TTH như một niềm tin đầy thiên kiến hơn là một kiến thức khoa học.
Niềm tin về quá trình từ một tế bào vật chất vô cơ phát sinh thành sự sống, theo James Tour, đó là sự sai lầm đầu tiên và căn bản của TTH.(5) Nếu tin như vậy thì nhóm TTH không thực sự hiểu gì về cơ chế của tế bào. Họ thổi phồng sự nghiên cứu khiến những tuyên bố của họ trở thành "lừa dối" hoặc "phô trương quá mức".
Năm 2023, James Tour công khai thách thức những nhà nghiên cứu hàng đầu của TTH trả lời 5 vấn đề lớn. Điều kiện là các giải đáp phải dựa hoàn toàn vào điều kiện hóa học, mô phỏng tình trạng trên mặt trái đất trong thời nguyên thủy (prebiotic conditions). Ông tuyên bố họ chỉ cần trả lời được 1 câu hỏi, ông sẽ rút lui, xóa bỏ mọi phê phán của ông về vấn đề này.
Năm câu hỏi ông đưa ra xoay quanh sự thành hình của những tác nhân tạo ra sự sống (origin of life/abiogenesis) và cách các phân tử sinh học phức tạp (protein, RNA, carbohydrate, lipid) hình thành. Thách thức của ông cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp, dù chỉ là 1 câu hỏi.(6)
Trong “an opened letter to my colleagers” (thư ngỏ gửi các bạn đồng nghiệp), James Tour cho rằng xét về mặt khoa học, sự sống xuất hiện trên trái đất không thể nào có được. Xét về mặt toán học, xác xuất ngẫu nhiên tạo ra sự sống không thể nào xảy ra (nhà toán học Francis Crick cũng xác nhận như vậy).
Để có mầm sống phải có vô số những điều kiện khác nhau. Chỉ để cho một điều kiện hiện hữu cũng đã có một xác xuất vô cùng nhỏ. Không những thế, các điều kiện này lại tùy thuộc vào nhau mới có thể hiện diện. Để có hàng nghìn protein phối hợp với nhau trong một hệ thống phức tạp thì gần như bất khả thi về mặt toán học.
Cho dù có sẵn các chất hóa học cũng chưa đủ để tạo ra sự sống. Bởi vì để cho các nucleotide liên hệ với nhau phải có DNA (deoxyribonucleic acid) và RNA (ribonucleic acid). Chúng là một chương trình (mã thông tin) ra lệnh cho những dữ liệu nói trên hoạt động. Vậy DNA và RNA đến từ đâu.
Giả dụ có một phân tử mã (một đơn vị của mã thông tin trong DNA) ngẫu nhiên mà có, cơ hội này có xác xuất nhỏ hơn 1 phần 10 lũy thừa mũ 40. (đáp số của con số này cực kỳ nhỏ, hầu như là zero). Bạn hãy hình dung, khi vũ trụ trôi qua 10 tỷ năm, thời gian đó vẫn chưa đủ cho xác suất 1 phần 10 mũ 40 có thể xảy ra. Tuy nhiên với thời gian dài như vậy những vật liệu cần thiết để tạo ra sự sống đã bị phân hủy mất từ lâu rồi.
Hãy nghĩ, tại sao vũ trụ mênh mông như thế, không đâu có sự sống ngoài quả đất nhỏ xíu này. Sự sống xuất hiện trên trái đất phải là một huyền nhiệm. Có người nói trên sao Hỏa có nước, vậy nó phải có sự sống. Đó là một niềm tin ngây thơ. Nước chỉ là một điều kiện chứ nó không tạo ra sự sống.
Trong bài viết “The shocking truth about life’s origins” (Sự thật gây sốc về nguồn gốc sự sống) James Tour cho rằng TTH đã thổi phồng công trình của họ rồi đưa vào sách giáo khoa. Nhưng nếu căn cứ theo những sách giáo khoa đó thì nguồn gốc sự sống không thể có.
Những gì James Tour đưa ra có thể cũng đã có nhiều người nói, nhưng James Tour đưa ra thì có giá trị hơn vì uy thế của ông.
Hãy xét một trường hợp điển hình trên một phôi bào của người. Khi tinh trùng phối hợp với trứng, nó tạo nên một tế bào. Tế bào này sau đó tự phân ra thành 2 tế bào giống hệt nhau. Rồi cứ như vậy 2 phân ra thành 4, rồi 4 phân ra thành 8... Sau 3 tuần phôi bào có tới 64 tế bào giống hệt như nhau. Chúng được gọi là những tế bào gốc. Bỗng nhiên phép lạ xảy ra, mỗi tế bào gốc tự phụ trách một công việc. Có tế bào tạo ra xương, có tế bào tạo ra tim... rồi đặt những thành quả này vào những vị trí cá biệt. Tay không mọc dưới lưng, phổi không nằm trong bụng... Sau này người ta mới biết chúng làm việc với nhau theo mệnh lệnh của DNA (những mã di truyền) nằm sẵn trong mỗi tế bào. Giới khoa học nhận ra DNA chính là một “chương trình tin học” (biological information) điều khiển các tế bào gốc làm việc để tạo nên một con người. Câu hỏi là, “làm thế nào mà bản thông tin sinh học phức tạp đó xuất hiện”. Ai là “lập trình viên” đã “viết” ra chương trình tin học đó.
Nhóm TTH không thể trả lời được câu hỏi này. Dĩ nhiên trước sự vô cùng phức tạp của DNA, không ai dám nói nó ngẫu nhiên mà có.
Francis Collins, nhà di truyền học nổi tiếng người Mỹ, từng là lãnh đạo Dự án Bộ gen Người (Human Genome Project), đã thẳng thắn gọi mã di truyền DNA là "ngôn ngữ của Chúa" (language of God). (7)
Theo ông, bộ gen của người gồm khoảng 3 tỷ "chữ cái" trong mã DNA . Chúng không chỉ là những dữ liệu sinh học mà còn như cuốn sách hướng dẫn, vô cùng phức tạp, vô cùng kỳ diệu và siêu việt do Thiên Chúa viết ra.
Khái niệm DNA là "ngôn ngữ của Chúa", ngoài Francis Collins, cũng có khá nhiều khoa học gia, triết gia và thần học gia nổi tiếng khác tin như vậy. Xin nêu ra vài nhân vật tiêu biểu.
Antony Flew, giáo sư tại Đại học Oxford, Aberdeen, Keele và Reading ở Vương quốc Anh, và tại Đại học York ở Toronto, Canada. Một triết gia vô thần khét tiếng nhất thế kỷ 20. Ông đã gây ra một chấn động trong giới triết học khi tuyên bố thay đổi quan điểm để tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa. Lý do ông cho rằng sự phức tạp của DNA và khả năng lưu trữ thông tin của nó không thể hình thành ngẫu nhiên. Ông lập luận rằng cấu trúc DNA cho thấy “có một trí tuệ siêu việt của Đấng Sáng Thế đã can thiệp".
Werner Arber, Nhà sinh học phân tử người Thụy Sĩ, từng đoạt giải Nobel Sinh Lý Học và Y Học (1978). Ông cho biết cơ chế tiến hóa và sự biến đổi của DNA không thể do ngẫu nhiên mà có. Ông nhìn nhận các quy luật sinh học đã biểu hiện có một ý chí sáng tạo thông minh hướng dẫn.
Hugh Ross, nhà thiên văn học và là người sáng lập tổ chức Reasons to Believe (Những lý do để tin). Ông đã kết hợp các dữ liệu khoa học về DNA và sự điều chỉnh vũ trụ (fine-tuning) để chứng minh rằng DNA là một thông điệp được mã hóa tỉ mỉ từ Đấng Tạo Hóa dành cho con người.
David Gelernter là một tín đồ Thiên Chúa giáo. Khi còn là sinh viên ông đã bị khủng hoảng tri thức rồi tin vào TTH.(8) Sau khi trở thành giáo sư đại học Yale, với sự nghiên cứu kỹ lưỡng, ông tuyên bố “Giving Up Darwin” (Từ Bỏ Darwin). Đó là tựa đề bài viết phản bác của ông. Theo Gelernter, trong kỷ nguyên Cambri (cách đây khoảng 500 triệu năm) có sự bùng nổ đa dạng của hầu hết các ngành động vật lớn (phyla). Kỷ Cambri kéo dài khoảng 5-10 triệu năm, khung thời gian đó chỉ như cái chớp mắt của địa chất. Thời gian đó không đủ để một sinh vật chuyển từ dạng này qua dạng khác. Ngoài điều kiện thời gian, chúng còn đòi hỏi một lượng thông tin di truyền vô cùng lớn. Nhưng những sinh vật này đã xuất hiện cùng lúc mà không ai tìm ra dạng chuyển tiếp từ các sinh vật trước đó.
Trong khi đó chính Darwin đã thừa nhận rằng nếu không tìm thấy các dạng trung gian, lý thuyết của ông sẽ sụp đổ. Nhóm theo TTH vẫn chưa tìm thấy bằng chứng về các dạng trung gian.
Nhiều khoa học gia khác cũng có cùng quan điểm như Gelernter. Điểm đặc biệt ở đây là trước kia họ là những người ủng hộ TTH Darwin.
David Berlinski, giáo sư triết học và toán học của Columbia University, Mỹ. Trong “The Deniable Darwin” (thuyết Darwin có thể bị phủ nhận) ông cho rằng mô hình Darwin hiện đại (neo-Darwinism) dựa vào các đột biến nhỏ tích lũy dần dần để tạo nên thể lớn. Trên thực tế các thay đổi nhỏ không đủ để tạo ra những cấu trúc lớn phức tạp. Ngược lại các đột biến lớn lại thường gây ra tai hại hơn là hữu ích.
Nhà sinh học Michael Behe, giáo sư Khoa học Sinh học, Đại học Lehigh ở Pennsylvania, và là Nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Khoa học và Văn hóa của Viện Discovery. (9) Ông đã lấy kiến trúc con mắt làm bằng chứng. Mắt có khoảng hơn chục ngàn loại tế bào khác nhau hợp lại. Khi hoạt động mắt tạo ra hơn 20 phản ứng từ những chất protein. Mắt còn có rất nhiều bộ phận liên hệ như dây nơron, bắp thịt, lăng kính, dung dịch, màng che… để tạo nên một cấu trúc thu hình kỳ diệu. Nếu chiếu theo TTH, mầm sống đầu tiên chỉ có dạng rất thô sơ, chưa thể có con mắt. Tại sao thế hệ sau lại có con mắt? Chẳng lẽ hàng chục ngàn các loại tế bào khác nhau, hằng ngàn những bộ phận nhỏ kỳ diệu đều tình cờ từ hư vô nhảy ra cùng một lúc để tạo nên con mắt. Cấu trúc của mắt quá phức tạp đến mức không thể nào tin được nó ngẫu nhiên mà có. Về mặt toán học, để có hàng nghìn protein phối hợp với nhau trong một hệ thống phức tạp như vậy thì bất thể khả thi.
Hiện tại, người chống đối TTH nổi bật nhất gs James M. Tour, giáo sư Đại Học Rice. Ông đưa ra vấn đề cốt lõi abiogenesis (nghĩa là sự sống phát sinh từ vật chất vô sinh). Ông khảng định đó là điều khoa học hiện tại hoàn toàn không thể chấp nhận.
Một trong những bài viết nổi tiếng nhất của ông là "Time Out" (Đến lúc dừng lại), xuất bản trên tạp chí Inference: International Review of Science, 2019. Đây là lời ông kêu gọi gửi cho nhóm TTH đang nghiên cứu về nguồn gốc sự sống. Họ nên "time out" để nghiêm túc đánh giá lại vấn đề. Bởi vì nhiều khám phá được công bố chỉ là "sophistry" (lập luận khéo léo nhưng giả tạo), không thực sự tiến gần đến việc tạo ra sự sống. Ông nói “Kết luận của tôi: đã đến lúc từ bỏ Darwin như một lời giải thích toàn diện cho sự đa dạng của sự sống... Tôi công nhận chọn lọc tự nhiên có thể giải thích trong một loài nhỏ (vi mô - microevolution). Nhưng chuyển đổi từ một loại sinh vật này sang loại khác (vĩ mô - macroevolution ) là một vấn đề không thể xảy ra. Chúng ta chưa hề có một bằng chứng nào.” (ghi chú thêm: chẳng hạn vi khuẩn COVID có thể biến dạng để tránh né thuốc chủng, nhưng chúng vẫn là vi khuẩn. Chúng không thể chuyển từ vi khuẩn qua vi trùng.)
Những phản ứng phủ nhận TTH có rất nhiều, nhưng có lẽ nói thẳng và mạnh mẽ nhất là David Berlinski. Trong cuốn sách “The Devil's Delusion: Atheism and Its Scientific Pretensions” (Ảo tưởng của Quỷ dữ: Chủ nghĩa vô thần và những tham vọng khoa học của nó).(10) Ông lập luận rằng: Khoa học không chứng minh được Thiên Chúa không tồn tại. Những nhà khoa học vô thần đang phóng đại vai trò của khoa học. Họ biến nó thành một dạng "tôn giáo" với những thành quả giả tạo (pretensions) vượt quá khả năng của khoa học. Khoa học là tri thức của con người, nó đầy mâu thuẫn và chưa hoàn thiện. Đôi khi chính các phát hiện khoa học lại gợi ý về một sự sắp đặt có mục đích siêu việt hơn là sự ngẫu nhiên thuần túy.
Đối với Kitô hữu chúng ta, ai cũng thấy khoa học dù có tiến xa đến đâu cũng không thể trả lời được các câu hỏi lớn về ý nghĩa cuộc sống, về nguồn gốc linh hồn của con người, về mục đích cuối cùng của vũ trụ. Chúng ta cũng thấy những phép lạ đã và đang xảy ra trên thế giới. Chúng là những dấu chỉ Thiên Chúa đang hiện diện. Quyền năng và tình yêu thương của Người vượt trên luật tự nhiên. TTH nói riêng và khoa học nói chung không có thẩm quyền trong các vấn đề siêu hình và đạo đức.