Đức Giêsu nói với một thanh niên đến với Người, “Anh hãy theo tôi ” Người ấy thưa, “Xin cho tôi về chôn cất cha tôi trước đã.” Đức Giêsu bảo, “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa” (Lc 9: 59-60;Mt 8:21-22).(1)
“Kẻ chết chôn kẻ chết” là một nghịch lý, bởi vì chỉ có người còn sống mới có thể chôn người chết. Nhưng nếu Đức Giêsu nói “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ” như vậy có những người đang sống đã bị Đức Giêsu coi là đã chết. Suy ra con người có hai cái chết. Một cái chết về thể vật lý (thể xác) và một cái chết về thể tâm linh (linh hồn). Những ai thể xác còn sống nhưng linh hồn đã chết thì cũng coi như là “kẻ chết”. Câu nói của Đức Giêsu có thể hiểu là “Hãy để những người đã chết về đời sống thiêng liêng lo việc mai táng những người chết thể xác của họ.”
Các học giả đều đồng ý rằng khi người đàn ông nói " Xin cho tôi về chôn cất cha tôi trước đã ", ông ta không có ý nói cha mình vừa mới qua đời vào ngày hôm đó. Theo phong tục Do Thái, khi có người chết, việc chôn cất thường diễn ra cùng ngày hoặc ngày hôm sau. Nếu người cha qua đời, người con phải ở nhà để lo việc tang ma, không thể đi ra ngoài nói chuyện với Đức Giê-su. Trong sự kiện này chỉ có 2 trường hợp có thể xảy ra.
Trường hợp 1. Cha anh ta đã chết lâu rồi, xác hiện đang đặt trong hang đá chờ cải táng. Theo tục lệ mai táng của người Do Thái, xác mới chết được đặt trong một hang đá. Một năm sau xác đó được cải táng, hài cốt chuyển vào một chiếc hộp nhỏ, rồi đặt vào mồ. Bấy giờ mới thật sự gọi là hoàn tất việc chôn cất. Có thể người đàn ông xin về cải táng xác cha theo tục lệ tổ tiên.
Trường hợp 2. Hiện tại cha anh ta vẫn còn sống. Anh ta xin về nhà sống với cha cho đến khi cha qua đời. Sau khi hoàn tất quyền thừa kế, rồi mai táng cha... Sau đó anh sẽ đi theo Đức Giêsu.
Cả hai trường hợp đều là sự từ chối “Con xin theo Thầy… nhưng không phải bây giờ.” Đức Giêsu đã dùng những điều mà người đàn ông cho là một trách nhiệm quan trọng, như một thử thách phải vượt qua, để cải hóa tâm trí anh ta. Người nhấn mạnh rằng đi rao giảng Nước Trời là một sứ mệnh mang lại sự sống thật, không thể chờ đợi sau những nghi thức tang lễ xã hội.
Đón nhận sự thâm sâu câu nói của Đức Giêsu, Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cho biết, khi Thiên Chúa trực tiếp kêu gọi ai, thì không có điều tốt tự nhiên nào được đặt cao hơn lời gọi ấy. Đức Giêsu bẻ gãy ảo tưởng rằng chúng ta có thể theo Chúa khi thuận tiện. “Có những điều ta gọi là trách nhiệm, nhưng thực chất chỉ là nơi trú ẩn để tránh phải sống trọn vẹn.”
Theo Origen, “Ai trì hoãn việc theo Đức Kitô vì những điều coi là chính đáng quan trọng thì người ấy đang sống trong cái chết.” Bởi vì Nước Trời mới thật sự là sự sống thật, quan trọng hơn tất cả.
Trong tác phẩm Đức Giêsu thành Nazareth (Jesus of Nazareth), Giáo Hoàng Bênêđictô XVI tiếp cận câu nói của Đức Giêsu trong tinh thần thần học, thánh kinh học và Kitô học. Người cho biết câu nói đó là một mạc khải về căn tính của Đức Giêsu.“Đức Giêsu không phải là một rabbi bình thường. Người là Thiên Chúa. Bởi vì chỉ Thiên Chúa mới có thể đòi hỏi con người đặt Người lên trên những nghĩa vụ ưu tiên thuộc trần thế.”
Khi Đức Giêsu nói về những kẻ sống nhưng đang chết, Người không đưa ra một bản án tử hình. Người chỉ đưa ra lời cảnh báo về sự tê liệt nội tâm, nơi không có hình bóng Nước Trời. Một nội tâm như thế sẽ dẫn đến sự chết về phần hồn. Ai sống mà không đặt Thiên Chúa lên trên hết, thì dù có giữ luân lý xã hội, họ vẫn đang ở trong “cái chết”. “Sự sống” mà Đức Giêsu mời gọi không chỉ là sự sinh tồn, mà là sự sống trong hiệp thông với Thiên Chúa. Vì vậy Người nói, “Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa.”
Linh mục Roberto Pasolini,(2) đưa ra cái nhìn thực tế, một linh hồn chết khi nó chỉ biết sống cho chính mình, cắt đứt mối nối kết với tha nhân và với Thiên Chúa. Họ tự nhốt mình vào một nấm mồ tâm linh ngay khi còn đang thở.
“Chết khi còn sống”xảy ra khi con người quá bận rộn trong những giá trị thế gian. Họ vẫn sống nhưng “ngọn lửa khao khát ý nghĩa tối hậu” đã bị dập tắt bởi những lo lắng bận rộn thỏa mãn thân xác. Chúng chỉ tạo ra những nỗi sợ hãi như sợ bị tổn thương, sợ thất bại, sợ mất mát, và ngay cả sợ Thiên Chúa (theo nghĩa sợ bị phán xét). Khi sợ hãi chiếm hữu, họ khép kín linh hồn lại để tự vệ. Khi linh hồn "đóng băng" nó gây ra cái chết tâm linh.
Do đó “kẻ chết” không phải là người vô đạo mà là người bị mắc kẹt trong những mối ràng buộc trần thế khiến họ không dám bước tới. Họ chết vì không dám bước vào “sự sống”.
Thánh Phaolô kết luận, “Anh em hãy hướng tâm trí về những gì thuộc thượng giới, đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng nơi Đức Ki-tô” (Cl 3:2-3). Những người chết về mặt tâm linh họ chỉ biết lo liệu những công việc trần tục. Những người sống về mặt tâm linh họ sống vì một điều vĩ đại hơn.
Roberto Pasolini đưa ra lời kêu gọi “hãy thức tỉnh”. Muốn hồi sinh trước hết chúng ta phải thức tỉnh để nhận ra những vùng đang chết trong lòng mình. Chúng chính là những nỗi sợ hãi, sự vô cảm, sự ích kỷ... Linh hồn chỉ có thể hồi sinh khi thức tỉnh để thấy mình đang "hấp hối" và sự sống đang tan vỡ. Chính khi chúng ta thấy mình yếu đuối, trống rỗng và bất lực, Thiên Chúa mới có thể can thiệp. Từ đó mình mới có sự hoán cải thực sự để đưa linh hồn trở lại với nhịp đập của tình yêu và sự tự do.
Thánh Phaolô cũng nói tương tự, “Anh em đã chết vì tội lỗi, nhưng nay được sống trong Đức Kitô” (Êp 2,1–5). “Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:13).
Chết là nỗi cô đơn của kẻ từ khước hồng ân và muốn rút vào bên trong chính mình. Nước trời là nơi con người gặp Thiên Chúa. Nơi có sự hiệp nhất thâm sâu giữa con người và Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu đã cầu nguyện, xin cho “con ở trong họ và cha ở trong con ” (Ga 17:23).
Chúng ta nhớ đến câu thánh vịnh 23:4 “Lạy Chúa, dầu qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng”. Thung lũng tối tăm là hậu quả của những cám dỗ tội lỗi dẫn đến cõi chết. Nhưng ngay cả nơi thung lũng tối tăm đó Thiên Chúa vẫn đến tìm chúng ta, như tìm con chiên lạc. Vì vậy những giới răn của Chúa không phải là xiềng xích mà là một thực tại để sống.
Linh ảnh của Ngôn Sứ Ê-dê-ki-en (Ezekiel) đã cụ thể hóa tình trạng kẻ đang chết được hồi sinh.
Ê-dê-ki-en được Thiên Chúa dẫn đi qua một thung lũng ngổn ngang đầy xương khô. Chúa hỏi ông, “Các xương này có thể hồi sinh được không?” Ông trả lời, “Lạy Chúa chính Chúa mới biết điều đó.” Thiên Chúa nói, “Ngươi hãy tuyên sấm trên các xương này, nói rằng Thiên Chúa sẽ đặt Thần Khí vào các ngươi để các ngươi được sống”. Ê-dê-ki-en vâng lời cất tiếng tuyên sấm. Tức thì các xương tự động di chuyển ráp lại ăn khớp với nhau, rồi gân cốt da thịt mọc ra. Nhưng những người sống lại đó “chúng chưa có thần khí”. Thiên Chúa nói, ngươi hãy tuyên sấm “Hỡi Thần Khí, hãy đến thổi vào những người đã chết này.” Ê-dê-ki-en vâng lời cất tiếng tuyên sấm, tức thì Thần Khí bèn nhập vào họ và họ được hồi sinh (Ed 37:1-14).(3)
Thị kiến này là một nền tảng thần học sâu sắc về sự phục hồi sự sống và quyền năng của Thiên Chúa. "Thung lũng xương khô" là hình ảnh những người đang chết vì tội lỗi. Ê-dê-ki-en cũng là hình ảnh của người đối thoại với Đức Giêsu. Thiên Chúa nói “hãy tuyên sấm trên các xương khô”cũng giống như Đức Giêsu nói “hãy đi loan báo nước Thiên Chúa.”
Như vậy dù con người có sa ngã hay lạc hướng đến mức không còn hy vọng sống, lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn có thể tạo ra một khởi đầu mới từ đống đổ nát. Người sẽ mở huyệt mộ để họ nhìn ra khung cửa đầy ánh sáng đang chờ đón họ.
Có hai sự sống cũng như có hai sự chết. Đó là hai cuộc đời của "hình hài" (thể xác) và "thần khí" (linh hồn). Mặc dù các bộ xương có gân, có thịt và da, nhưng chúng vẫn chỉ là những “tử thi” ngây ngô. Chúng chỉ thực sống khi có sự sống của linh hồn. Qua hướng nhìn Kitô học, Chúa Giêsu là Đấng ban ân sủng Thần Khí để biến đổi những tâm hồn "đã chết khô" vì tội lỗi. Để họ có thể “đứng thẳng lên” trở thành con cái Thiên Chúa. Bấy giờ họ mới có sự sống thật. “Thần Khí làm cho anh em trở nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên Áp-ba! Cha ơi!” (Rm 8:15).
Tuy nhiên sự sống thật không đến từ khả năng tự thân của con người. Xương không tự mọc ra thịt, thần khí không thể tự có. Cuộc hồi sinh là một hồng ân từ Thiên Chúa qua sự tiếp nhận của chính cá nhân nào muốn đón nhận.
Tóm lại thiếu sự thúc tỉnh, thiếu Lời Chúa hướng dẫn, đời sống chúng ta chỉ là mớ hỗn loạn. Đời sống sẽ trở nên khô cằn và lạc hướng trong vô vọng. Sự hiện hữu chỉ còn là một thung lũng đầy xương khô (biểu tượng cho sự chết trong tội lỗi).
Có thể nhiều người đang đối diện với câu hỏi, tại sao Thiên Chúa không tự cứu những người chết nhưng lại dùng ông Ê-dê-ki-en. Cũng như tại sao Đức Giêsu lại muốn “Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa.”
Thay vì hành động trực tiếp một cách độc lập, Thiên Chúa muốn con người tham gia thể hiện ý muốn của Người. Thiên Chúa không muốn loài người chỉ biết thụ động nhận ơn. Thiên Chúa muốn họ là “cộng sự viên”, là “người trồng cây”, còn Thiên Chúa khiến cho cây lớn lên (1 Cr 3:6-9). Thiên Chúa dùng con người đi rao truyền tin mừng cứu độ, bởi vì "Làm sao họ tin Đấng họ chưa nghe? Làm sao nghe nếu không có người rao giảng. Làm sao mà rao giảng, nếu không có người được sai đi? Đẹp thay những bước chân của sứ giả đi loan báo tin mừng" (Rm 10:14-15). Đó là mô hình cứu rỗi của Thiên Chúa.
Tới đây chúng ta có một hình ảnh khác về những người được nghe lời rao giảng. Có một phẩm tính siêu việt trong tiến trình tạo dựng con người, đó là yếu tố tự do. Con người có thể khước từ hay chấp nhận lời kêu gọi của Thiên Chúa. Thánh Augustinô nói, "Thiên Chúa dựng nên con người không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người".(4) Vì vậy chỉ những ai được nghe lời rao giảng và tin vào Thiên Chúa, người đó mới xứng đáng được cứu rỗi.
Thiên Chúa đã dùng Ê-dê-ki-en nói với những mảnh xương khô (dù có vẻ vô lý), Đức Giêsu muốn “một người đến với Người” hãy đi loan truyền Nước Trời (dù ông đang có vướng mắc). Hai sự kiện này đã dạy chúng ta về sự quan trọng của đức tin và đức vâng lời triệt để. Để rồi sau đó chúng ta trưởng thành trong mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa. "Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng chính Ta là Đức Chúa” (Ed 37:14).
Hãy nghe theo huấn truyền của Thiên Chúa, bởi vì có thể chúng ta đang có vẻ rất sống… nhưng lại chưa từng sống, hay tệ hơn chúng ta đang chết. Đã có những người dám bỏ lại “những ngôi mộ an toàn” để bước theo một lời gọi làm họ run sợ. Nhưng chính khi nghe theo lời của Thiên Chúa, họ nhận ra đời sống từ giây phút đó mới thật sự bắt đầu. Chúng ta hãy đón nhận câu nói của Đức Giêsu, “Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa” để làm kim chỉ nam cho chính đời sống mình.