“NƯỚC SỰ SỐNG”

Pt Giuse Trần Văn Nhật

(Xh 17:3-7; Rm 5:1-2, 6-9; Ga 4:5-42)

Khi bước vào mùa Chay, và khi càng gần đến cuộc thương khó của Đức Giêsu – trong đó Người phải chịu đau khổ và chịu chết – Giáo Hội chọn những bài phúc âm để giới thiệu về Chúa Giêsu nhằm giúp chúng ta can đảm và vững tâm đi theo Người.

Trong phúc âm tuần trước, qua sự biến hình, chúng ta được giới thiệu Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Tuần này, trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari tại giếng nước, Đức Giêsu tự nhận là Mêsia, Đấng Cứu Thế, Người cứu chúng ta bằng cách ban cho chúng ta “nước sự sống” và từ đó sẽ tuôn ra một nguồn nước đem lại sự sống đời đời. Hình ảnh này đã được tiên báo trong Cựu Ước qua bài đọc một hôm nay khi dân Israel khát nước, ông Môsê vâng theo lời Thiên Chúa đập vào tảng đá và từ đó nước đã chảy ra để thỏa mãn cơn khát của họ. Chúng ta thử tìm hiểu xem “nước sự sống” của Chúa Giêsu là gì.

Không ai có thể sống mà không có nước. Trái đất chúng ta có sự sống của đủ mọi loài là vì có nước. Nhưng nước của trái đất chỉ có thể thỏa mãn cơn khát của thể xác chứ không thể thỏa mãn những khát khao tiềm tàng của con người.

Trước hết người ta khao khát có một giá trị nào đó để tự hào và để được tôn trọng. Giá trị đó có thể do học thức, hay bằng cấp đem lại. Giá trị đó có thể từ sự khéo léo về chân tay để làm việc, hay tài năng về các bộ môn nghệ thuật hay thể thao, v.v.. Tuy nhiên, các giá trị do học vấn, tài năng vẫn chưa thỏa mãn được con người vì kiến thức thì mênh mông làm sao biết hết được, và tài năng thì chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nào đó.

Kế đến người ta khao khát tình yêu. Tình yêu là điều thiết yếu cho đời sống con người nhưng tình yêu cũng dễ bị lầm tưởng. Khi tình yêu chỉ quy về bản thân, tình yêu ấy chưa thỏa mãn được sự khao khát sâu xa của con người. Chỉ khi nào tình yêu quy hướng về người khác, lúc ấy cuộc đời mới bắt đầu có ý nghĩa. Đây là đặc điểm của cuộc đời Đức Giêsu khi ở trần gian này.

Đức Giêsu không có giá trị theo tiêu chuẩn thế gian: Người không giầu, không có địa vị trong xã hội, không có bằng cấp, không có thế lực chính trị nhưng Đức Giêsu đã đạt được một giá trị vô cùng cao quý là hy sinh bản thân để cứu nhân loại. Qua tấm gương của Chúa Giêsu, có thể nói giá trị của con người bắt nguồn từ tình yêu, từ lòng thương người. Điều này được nhận thấy trong cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari.

Chúng ta có thể suy đoán rằng người phụ nữ này có nhan sắc nhưng không có hạnh phúc, không có bình an, không được người đời tôn trọng vì bà đã năm đời chồng mà người bà đang sống chung cũng không phải là chồng của bà. Đây là lý do bà phải ra giếng múc nước vào buổi trưa, vì đó là lúc vắng người, không phải đụng chạm, không phải gặp những cái nhìn soi mói, khinh bỉ của những người khác. Nhưng buổi trưa hôm ấy bà đã bị chấn động bởi một thanh niên, tưởng là bình thường, nhưng lại có khả năng thay đổi cuộc đời của bà.

Khi Đức Giêsu gợi chuyện với bà bằng một yêu cầu, “Hãy cho tôi chút nước uống,” có lẽ Người muốn thử xem lòng bác ái của bà như thế nào. Nhưng trong tâm trạng mất bình an của một người không có hạnh phúc, bà không thấy hành động bác ái đó là một cơ hội để cuộc đời bà có giá trị – dù chỉ là một ly nước cho người đang khát (x. Mt 25:31-46).

Quả thật, tính ích kỷ khiến bà chỉ nhìn thấy cái tôi của mình để từ chối chứ không nhìn thấy nhu cầu của người khác. Khi người ta chỉ muốn chiều theo bản tính yếu đuối của con người để thỏa mãn sự độc ác của mình thì họ không thể nào đón nhận được ơn Chúa. Giống như cửa sổ một căn phòng đóng kín thì không thể nào ánh sáng trời có thể lọt vào. Sự thù hận giữa người Do Thái và Samari đã từ xa xưa, nhưng vì tính ích kỷ bà đã làm sống lại sự thù hận ấy để từ chối giúp đỡ. Tâm hồn bà không thể vươn lên trên những tầm thường của con người để sống quảng đại và để thấy được thế nào là một cuộc đời có ý nghĩa.

Chính vì thế khi Đức Giêsu đề cập đến “ơn Chúa” và “nước sự sống” bà không thể hiểu về một đời sống thiêng liêng, cao trọng hơn mà chỉ nghĩ đến nước lưu chuyển trong lòng đất. “Ông không có gầu mà giếng lại sâu, làm sao ông lấy được nước lưu chuyển?”

Trước thái độ của một người chỉ nhìn thấy sự “trần tục”, Đức Giêsu bắt đầu hé mở chân lý “cao siêu” hơn về chính mình, “Ai uống nước này sẽ lại khát; nhưng ai uống nước tôi cho thì sẽ không bao giờ khát nữa; nước tôi cho sẽ trở thành một nguồn nước tuôn trào sự sống đời đời trong người ấy”.

Đức Giêsu đề cập đến một đời sống đầy ơn sủng của Thiên Chúa và đời sống ấy sẽ dẫn đến sự cứu độ. Người phụ nữ Samari không tin rằng người thanh niên trước mặt bà lại có thể là Đấng Cứu Thế nên đã mỉa mai, “Ông cho tôi thứ nước đó đi để tôi không còn khát nữa hay tôi cứ phải đến đây để lấy nước!”

Đã đến lúc Đức Giêsu phải nhắc nhở cho bà biết rằng ngoài nước uống người ta còn khao khát những thứ khác – như tiền tài, danh vọng, sắc dục – nhưng quan trọng nhất là tình yêu. Và khi Đức Giêsu khơi dậy tình yêu với lời yêu cầu, “Hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”, bà đã thấy sự thèm khát của mình. Bởi vì, dù sau năm đời chồng, dù đã được thỏa mãn những tham vọng, nhưng khát khao, cuộc đời bà vẫn bất hạnh vì bà đang sống với một người không yêu thương bà đủ để lấy làm vợ. Bà thèm khát một tình yêu đích thật nhưng lại tìm kiếm trong thú vui nhục dục.

Cuộc đời của Chúa Giêsu cho thấy tình yêu đích thật có hai đặc điểm: thứ nhất là sự hy sinh, và hy sinh lớn nhất là ý riêng của mình. Bởi vì khi yêu thương người khác theo kiểu cách, theo ý muốn của mình, hành động yêu thương có thể trở nên tàn bạo. Vợ chồng yêu thương nhau nhưng không từ bỏ ý riêng của mình, tình yêu ấy sẽ tan vỡ. Cha mẹ yêu thương con cái theo ý riêng của mình, gia đình ấy không có hạnh phúc. Tình yêu đích thật phải có sự tự do, đây là đặc điểm thứ hai.

Cũng như Thiên Chúa được tự do tạo dựng vũ trụ và muôn loài, con người cũng có sự tự do là một phẩm giá vì được thừa hưởng từ Thiên Chúa. Nhưng để thỏa mãn những khát khao, con người phải dùng sự tự do để phục hồi và nâng cao phẩm giá của mình theo hoạch định của Thiên Chúa – chứ không theo ý riêng của mình – nếu không họ vẫn còn thèm khát. Chúng ta có sự tự do lựa chọn: một là theo ý riêng của mình và không bao giờ thỏa mãn; hoặc theo ý định của Thiên Chúa và được no thỏa.

Phẩm giá con người giúp chúng ta có giá trị và phẩm giá ấy xuất phát từ tình yêu. Một người có bằng cấp cao, có địa vị, có nhiều của cải chưa chắc có phẩm giá bằng một bà nhà quê ít học nhưng đã hy sinh cả cuộc đời để chăm sóc chồng con. Một người Công Giáo đạo đức, siêng năng đọc kinh, xem lễ nhưng không hy sinh giúp đỡ người khác, chưa chắc họ có phẩm giá bằng một người ngoại đạo giầu lòng nhân từ và hay giúp đỡ.

Đây là lý do Chúa Giêsu coi hai điều răn “mến Chúa và yêu người” ngang nhau, bởi vì Thiên Chúa là Thần Khí và Người không bị giới hạn ở một nơi chốn, như Giêrusalem hay trong các thánh đường nguy nga, nhưng Thiên Chúa hiện diện ở khắp nơi, nhất là trong những người nghèo đói, kém may mắn để giúp cho những người có lòng tin nơi Thượng Đế một cơ hội thể hiện đức tin của mình và cũng là cơ hội để “lập công” với Chúa khi cho người đói ăn và cho kẻ khát uống. Khi giúp đỡ những người tầm thường nhất là chúng ta giúp đỡ chính Chúa.

Tình yêu là “nước sự sống” mà Chúa Giêsu gieo vào linh hồn chúng ta qua bí tích Rửa Tội. Lời Chúa trong các phúc âm là “nước sự sống” để trở thành “một nguồn nước tuôn trào sự sống đời đời”. Trong “nước sự sống” ấy có Thần Khí của Thiên Chúa để thúc giục và giúp đỡ các tín hữu thi hành những công việc của tình yêu. Khi sống bác ái, khi hy sinh vì tình yêu chúng ta đang thờ phượng Thiên Chúa và đang gặp gỡ Chúa Kitô. Cũng như người phụ nữ Samari, bà không còn khát sau khi được gặp Đức Giêsu – bà đã để lại vò nước bên cạnh giếng – chạy về làng và báo tin mừng cho mọi người, khi có Chúa trong tâm hồn, chúng ta cũng sẽ không còn những khao khát tầm thường nhưng được no thỏa vì một đời sống có ý nghĩa. Chính đời sống có ý nghĩa đó sẽ đưa chúng ta đến sự sống đời đời.