Sống Với Mạc Khải

NƯỚC TRỜI NHƯ KHO BÁU GIẤU TRONG RUỘNG


Ðức Giêsu dạy rằng, “Nước Trời cũng như kho báu giấu trong ruộng. Người kia tìm thấy bèn chôn giấu trở lại, rồi vui mừng bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13:44).

Đón nhận dụ ngôn, trí óc duy lý của chúng ta không khỏi bật ra những thắc mắc. Tại sao ông kia tìm được kho báu không mang về, lại mất công chôn xuống đất như cũ? Tại sao ông phải bán hết những gì mình có mới mua được mảnh ruộng? Tại sao ông không nói cho chủ miếng đất biết trong ruộng có kho báu? Mua bán kiểu đó phải chăng là một đổi chác bất xứng? Tại sao cuối cùng kho báu vẫn không được moi lên, như vậy mua mảnh ruộng có ích gì? Có lẽ còn nhiều thắc mắc nữa, vì trí óc sẽ dẫn chúng ta đi càng lúc càng xa, nhưng hãy tạm ngừng ở đây. Dù sao chúng ta không thể phủ nhận dụ ngôn trên có ba dấu chỉ: 1) Người kia tìm ra kho báu. 2) Anh ta chôn kho báu trở lại. 3) Anh ta bán hết gia sản để mua mảnh ruộng. Thấu hiểu ba dấu chỉ này mọi vấn nạn của trí óc duy lý sẽ tự trở thành hão huyền.

Nước Trời

Kho báu là Nước Trời, nhưng Nước Trời là gì. Trước hết chúng nên lược qua biểu tượng của tên gọi. Trong kinh điển, thánh Matthêu dùng danh xưng Nước Trời (Kingdom of Heaven). Trong khi đó thánh Luca, thánh Máccô, và thánh Phaolô dùng danh xưng Nước Thiên Chúa (Kingdom of God). Các nhà chú giải thánh kinh đều cho rằng hai danh xưng này được dùng lẫn lộn với ý giống nhau. (1) Nếu phân tích kỹ hơn một chút, chúng ta thấy ý niệm “Nước Trời” đã được Đức Giêsu nêu ra trong kinh “Lạy Cha” qua câu: “Xin cho Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Từ đó chúng ta suy ra danh xưng Nước Trời chỉ để nhấn mạnh vào ý chỉ nguồn gốc. Nước Trời là vương quốc có gốc từ trời xuống chứ không phải là nước ở trên trời. Danh xưng Nước Thiên Chúa nhấn mạnh vào ý “Nước Cha đã trị đến” trên thế gian. Vì vậy cả hai danh xưng đều được dùng để chỉ Nước Trời nơi trần thế.

Nước Trời là một đặc ngữ nói về khái niệm ơn cứu độ. Như chúng ta đã biết ơn cứu độ là một mầu nhiệm rất bao quát về cuộc giải thoát con người trong muôn vàn chiều hướng. Vì vậy thần học đã có khá nhiều dẫn giải về Nước Trời theo những nhận thức đa chiều. Một cách tổng quát, Nước Trời có thể hiểu là thiên đường, là giáo hội, là thế gian, là linh hồn, là lòng người… hay bất cứ nơi nào có sự gặp gỡ giữa con người và Thiên Chúa. (2) Để đi đúng hướng, chúng ta nên hiểu Nước Trời tùy theo chủ đề của dụ ngôn. Mỗi trình thuật mặc khải cho chúng ta một khía cạnh khác nhau về ơn cứu độ. Do đó nhất thiết nên xác định rõ ngụ ý Nước Trời trong dụ ngôn trên.

Trong thư gửi tín hữu Côlôsê, thánh Phaolô cho biết Đức Giêsu là kho báu, “Trong Ngài ẩn chứa kho tàng khôn ngoan và toàn trí” (Col 2:3). Căn cứ vào Phúc Âm theo thánh Gioan, Đức Giêsu là Đấng ẩn giấu. Thánh viết, “Ngài có mặt trong thế gian, thế gian nhờ Ngài mà có, nhưng thế gian không biết Ngài” (Gn 1:10). Như vậy “kho báu” hay “Nước Trời” là biểu tượng chỉ Chúa Kitô, hay cụ thể hơn là lời giảng dạy của Người, tức Phúc Âm. Chính Đức Giêsu cũng nói, “Ta còn phải rao giảng Nước Thiên Chúa cho các thành phố khác” (Lc 4:43). Tổng hợp hai nguồn sử liệu trên, “kho báu ẩn giấu” là Ngôi Lời ẩn giấu. Nhưng không phải Thiên Chúa tự ẩn giấu, mà con người bị u tối che kín, nên có tai mà không nghe, có mắt mà không thấy. “Vì nếu chúng biết, chúng đã chẳng đóng đinh thập giá Chúa cao cả vinh quang” (Cor 2:8).

Mảnh ruộng

Nếu kho báu là Lời Chúa bị chôn vùi trong ruộng, vậy phải chăng mảnh ruộng ám chỉ thế gian? Suy diễn này không thể đúng với dụ ngôn trên, vì nó nghịch lý với sự kiện “người kia bán hết những gì mình có để mua mảnh ruộng”. Thật là vô nghĩa khi người đó bán hết tài sản thế gian để mua thế gian. Hơn nữa Thiên Chúa không bao giờ bị giam hãm trong một nơi chốn hay bởi một cơ chế thế gian. Thiên Chúa luôn luôn muốn đi tới gặp gỡ con người. Theo tự điển Bách Khoa Toàn Thư Công Giáo, tìm được Nước Trời là trạng thái ý thức về sự kết hợp với Thiên Chúa trong nội tâm (3). Suy ra “mảnh ruộng” ở đây là biểu tượng nói về bản thân của cá nhân. Kho báu chôn giấu trong ruộng là Nước Trời trong tim của cá nhân. Có lần nhóm biệt phái hỏi Đức Giêsu, “Bao giờ Nước Thiên Chúa đến”. Người đáp, “Người ta không thể nói ‘này ở đây’ hay ‘ở đó’ vì Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc 17:21). Thánh Phaolô lập lại ý tưởng này với dân Côrintô, “Anh chị em là cánh đồng của Thiên Chúa” (1Cor 3:9).

Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu bằng cuộc hành trình của một người đi tìm chân lý hằng sống. Chúng ta nhận ra ngay nhân vật “người kia” là lời khuyến khích của Đức Giêsu ám chỉ cá nhân chúng ta. Kho báu chính là Ngôi Lời, hay là Lời Chúa, tức Phúc Âm. Tìm ra kho báu nằm sâu trong ruộng là ý thức về Nước Trời, cá nhân chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, qua những chiêm nghiệm trong nội tâm. Thiên Chúa là tinh thần nên con người chỉ có thể gặp Thiên Chúa trong tinh thần.

Bán hết những gì mình có

Từ khi tìm ra Nước Trời, ý thức Nước Trời trở thành thách thức về một lối sống theo hướng dẫn của tâm linh. Sống với ý thức này, người tỉnh ngộ phải “bán” đi tất cả, hay nói cách khác phải buông bỏ tất cả, những dục vọng xấu kết tinh của tội lỗi, để “mua” lấy một giá trị vĩnh cửu. Không ai có thể làm tôi hai chủ, nhất là khi hai chủ trái nghịch nhau. “Bán tất cả những gì mình có” hay “bán hết tài sản rồi theo ta” chỉ là cách nói hãy làm trống rỗng bản thân. Trống rỗng để không còn cái tôi vị kỷ, bấy giờ cái chân thân (true self) tự do mới hiện ra. Chúa kêu gọi chúng ta hãy thay đổi nếp sống trọng vật chất để đổi lấy một nếp sống thiên về những giá trị tinh thần.

Vì vậy cuộc mua bán là biểu tượng cho cuộc tái sinh của người theo Chúa. Phần cái tôi tội lỗi chết đi, và cái tôi mới tái sinh. “Cái gì sinh ra bởi xác thịt là xác thịt, cái gì sinh ra bởi Thần Khí là Thần Khí” (Gn 3:6). Từ đó sống là trạng thái kết hợp với Đức Giêsu, Thiên Chúa của sự sống. (4) Thửa ruộng trước kia là mảnh đất bình thường bây giờ là mảnh đất ẩn chứa kho báu. Cá nhân ta trước kia là con người tiền chế, một sản phẩm của xã hội, chỉ biết nhìn ngắm bản thân mình. Bây giờ ta là một nhân vị tự do thoát khỏi bản thân, sống trong tinh thần không chiếm hữu. (5) Suy ra cuộc mua bán này không mang tính lợi nhuận vật chất như kiến thức duy lý đã tưởng. Trái lại nó hàm chứa tình yêu của Thiên Chúa, vì không có bất cứ tài sản thế gian nào có giá trị cân xứng để “mua” được kho báu.

Tại sao kho báu không được đào lên? Người có sự “khôn ngoan của Thiên Chúa” thì không bao giờ mang kho báu ra khỏi mảnh ruộng. Tuy nhiên người với sự “khôn ngoan thế gian” có toàn quyền tự do làm việc ấy. Mang kho báu ra khỏi mảnh ruộng là tách rời ra khỏi Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đưa ra hình ảnh về “những hạt giống rơi trên sỏi đá” và kết quả của sự bất hạnh này, “Bởi đó tôi bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông và sẽ ban cho một dân làm ra hoa quả” (Mt 21:43). Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn rộng tay chờ đón người lầm lạc trở lại tìm kho báu, như người cha chờ đứa con hoang đàng trở về.

Hành trình với Lời Chúa

Kỳ diệu thay Thiên Chúa là Đấng ẩn giấu nhưng đồng thời là Đấng kêu gọi để trao ban tình yêu. Lời kêu gọi đi vào mối hiệp thông giữa cá nhân và Thiên Chúa. Vì vậy có bao nhiêu người trên thế gian thì có bấy nhiêu con đường dẫn đến Thiên Chúa. Những con đường chuyển hóa tâm linh có khác nhau, nhưng chúng vẫn nằm trong hai phạm trù cốt yếu mà dụ ngôn trên đã nêu ra: đi tìm Nước Trời; trống rỗng bản thân.

Rõ hơn bao giờ, Đức Giêsu đã dạy, “Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ khác Người sẽ thêm cho” (Mt 6:33). Ơn cứu rỗi chỉ hiện thực nơi những ai chấp nhận Thiên Chúa, vì vậy trước hết chúng ta phải tìm Nước Trời nơi Thiên Chúa ngự.

Đi tìm Nước Trời là đi tìm chân lý, nghĩa là sống với những câu hỏi lớn để tìm câu trả lời. Người đời thường đặt tâm trí vào những câu hỏi nhỏ. Chúng là những lo âu về đời sống vật chất, chẳng hạn như “tôi phải làm gì vì kho lẫm không đủ to để chứa lúa gạo” (Lc 12:16-21)... Rồi người ta bỏ cả đời đi tìm giải đáp cho những câu hỏi tương tự không bao giờ cạn. Nhưng với câu hỏi lớn “Tôi là ai” là vấn nạn hướng về cõi siêu việt. Những câu hỏi lớn bắt buộc phải có. Nếu không có ta sẽ không đi tìm câu trả lời. Không đi tìm sẽ không bao giờ thấy. Thao thức với những câu hỏi lớn là cuộc hành trình trong chiêm niệm với Đấng vô biên. Bởi vì chính trong những câu hỏi đã ẩn chứa lời thì thầm đầy yêu thương của Thiên Chúa. Rồi đến lúc Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta thức tỉnh đủ để tìm ra kho báu. (6)

Về vấn đề trống rỗng bản thân, tức là giải thoát tội lỗi, chỉ có thể giải quyết bởi Chúa Giêsu Kitô. Cuộc tử nạn trên thập giá của Đức Giêsu là giải đáp chính, phần chúng ta là cuộc hối cải và lòng tin tưởng. Đức Giêsu đã nhiều lần dạy bảo chúng ta, “Hãy hối cải vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4:17).

Đức Giêsu kêu gọi hối cải, vì Người nhận diện những khối đá đè nặng tâm hồn con người. Chúng là lòng tự mãn và tính ích kỷ, nguồn gốc đã gây ra nguyên tội và mọi thứ tội cho con người sau đó. Khi con người chỉ thấy có mình, họ trở thành trung tâm vũ trụ, và chỉ biết yêu chính họ. Còn vướng mắc trong những giá trị vị kỷ sẽ không thể tiếp nhận Nước Trời. Chính Đức Giêsu là gương mẫu của sự khước từ bản thân. Người đã hiến thân, chịu cuộc khổ nạn thập giá, cho con người được cứu rỗi. Thánh Phanxicô thấm nhuần lời dạy của Đức Kitô, thánh nêu ra chứng nghiệm, “Chính lúc quên mình là lúc tìm thấy mình. Chính lúc chết đi là lúc sống thật.”

Tìm ra kho báu, chúng ta tin vào Nước Trời, nhưng Nước Trời không phải là ơn chúc lành. Chúng ta không đặt nặng ý thức về đức tin nhưng phải sống với đức tin. Nước trời là động lực thúc đẩy chúng ta trả lời cho tiếng gọi của Chúa trong tâm chúng ta. Cảm nghiệm sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa vì Chúa hoạt động trong chúng ta. Càng ngày chúng ta càng liên kết với Người. Tuy những yếu đuối, khiếm khuyết và bất lực của chúng ta vẫn còn, nhưng Thiên Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta cải thiện.

Dụ ngôn là lời giảng về chân lý siêu việt qua những hình ảnh tượng trưng. Mục đích của dụ ngôn là để người học đạo vượt qua tầng lý lẽ của trí óc để vươn lên tầng trực giác về cõi siêu việt. Chân lý của dụ ngôn nằm đàng sau ngôn từ. Chúng ta phải hòa nhập với cảnh giới của dụ ngôn mới cảm nghiệm được sự thật trong đó. Vì vậy dụ ngôn không nhằm giải thích bất cứ điều gì của thế giới đời thường, nhưng là chìa khóa mở ra một thế giới mới. Nếu chúng ta đã tìm được Nước Trời, bổn phận của chúng ta là phải nói cho người khác biết: tôi nhìn thấy có một kho báu trong tâm hồn của bạn.

Đỗ Trân Duy

-------

(1) Trong Thánh Kinh chúng ta thấy hai danh xưng được dùng như nhau. Phúc Âm theo thánh Matthêu, “Ðức Yêsu nói: "Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần bên” (Mat 4:17). Cùng một sự kiện, thánh Luca thuật lại: “các ngươi biết là Nước Thiên Chúa đã gần bên" (Lc 21:31). Cũng theo Giáo Hoàng Bênêđic XVI, hai danh xưng Nước TrờiNước Thiên Chúa có nghĩa giống nhau. Từ ngữ “trời” (heaven) chỉ là cách diễn đạt “Thiên Chúa” (God) theo ngôn ngữ Do Thái (sách Jesus of Nazareth, p.55).

(2) Xin dẫn chứng một vài ý nghĩa khác nhau về Nước Trời. Nước Trời là thiên đàng: “Ta sẽ trao cho ngươi chìa khóa Nước Trời. Điều gì ngươi cầm buộc dưới đất thì cũng cầm buộc trên trời. Điều gì dưới đất ngươi tháo gỡ thì cũng được tháo gỡ trên trời” (Mt 16:19). Nước Trời là thế gian: “Hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần bên” (Mt 3:2). Nước Trời ở trong tâm hồn: “Người ta không thể nói này ở đây, hay ở đó, vì Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc 17:21). Nước Trời là Vương quốc mới khi Chúa Giêsu tái lâm: “Ta sẽ không uống quả nho nữa, cho đến ngày, ngày Ta sẽ uống thứ mới trong Nước Thiên Chúa” (Mc 14:25).

(3) Nguyên văn: “It is rather a tone of mind (luke 17:20-21), it stands for an influence which must permeate men's minds if they would be one with Him and attain to His ideals; cf. Luke 9:55. It is only by realizing these shades of meaning that we can do justice to the parables of the kingdom with their endless variety.” (Catholic Encyclopedia – Kingdom of God.)

(4) Xin đọc God Is Near Us. Josept Cardinal Ratzinger . 2003. Ignatius Press San Francisco

(5) Linh mục Maurice Zundel cho rằng Thiên Chúa là tài sản tinh thần tối cao, tuyệt đối không thể chiếm hữu. Vì vậy chỉ có ai biết trống rỗng bản thân mới đến được với Thiên Chúa. Xin xem thêm mục “Tán thành việc từ bỏ và việc tư hữu” trong sách Sự Hiện Diện Khiêm Hạ (p.47-50). Tủ sách đoàn kết,T. P. Hồ Chí Minh, 1995. Nguyên tác “L’Humble Présence” 1987.

(6) Henri J. M. Nouwen. Spiritual Direction. Chương I “Who will answer my questions?” nhà xuất bản Harper San Francisco. 2006. Tác giả viện dẫn câu hỏi lớn của thánh Job, “Tại sao sinh ra tôi?” Bạn hữu của ông không ai trả lời được. Họ còn thừa dịp chế nhạo, “Chừng nào ông mới chịu ngừng ném những lời rác rưởi vào tai chúng tôi?” Rồi Thiên Chúa trả lời ông bằng câu hỏi, “Khi ta khiến mây che phủ đại dương thì ngươi ở đâu?” Câu hỏi này đã thức tỉnh thánh Job. Ông nhận ra mầu nhiệm tạo dựng vũ trụ trong tình yêu của Thiên Chúa.