Tiếng Hát Lộ Đức

CHƯƠNG II

Franz Wertel – Dịch giả: Lm. Thomas Túy, O.P.

Quán cà phê mang tên bảng hiệu "Pháp Quốc" tọa lạc sát quảng trường thị trấn. Nó là nơi sinh hoạt thường xuyên của các chính khách Lộ Đức. Họ đến đây để uống rượu, gặp gỡ bạn bè, thảo luận chính trị, kinh tế và các truyện tầm phào khác. Ông Duran, chủ quán đã phải bỏ ra hàng trăm ngàn phật lăng để trang bị cho quán: Ghế bọc vải nhung đỏ, sang nhất thành phố, mặt bàn rượu bằng đá cẩm thạch, hoa cương, lò sưởi tân thời lợp ngói ấm áp, gương soi cỡ lớn choáng gần hết mặt tường, báo chí đủ loại bày sẵn trên kệ, cập nhật hàng ngày từ các tờ báo uy tín của thủ đô Paris, tóm lại đầy đủ tiện nghi đắt tiền.

Quán đông khách hai lần một ngày, vào lúc 11 giờ sáng và bốn giờ chiều, nghĩa là lúc nghỉ trưa và tan sở. Cứ như thói quen, nhà văn Hyacinthe De Lafite tới quán đầu tiên, ông ngồi gọn gàng trong góc quán chờ sẵn. Đồng hồ treo tường dõng dạc điểm mười một tiếng. Những quan chức thị trấn lần lượt xuất hiện. Đầu tiên là bác sĩ Dozous, thày thuốc chính thức của toàn thể người dân thị trấn. Ngày nay chúng ta gọi là giám đốc bệnh viện Lộ Đức. Nhưng lúc ấy thì ông bận rộn chạy từ con bệnh này đến con bệnh khác trong thị trấn. Tuy nhiên không bao giờ ông bỏ lỡ ly rượu giữa giờ với bác sĩ Peyrus, bác sĩ Lacrampé, bác sĩ Balencée và ông chủ quản quan thuế tài chính Jean Baptiste Estrade.

Cuối cùng là thị trưởng Lộ Đức Lacadé béo tốt, ăn vận toàn màu đen. Ông lách qua các dãy bàn để đến chỗ của mình, vui tươi, nhân ái, chào hỏi từng người trong quán. Cùng đi với ông thị trưởng là công tố viên Dutour trẻ tuổi, đầy tham vọng, ông Jacomet ủy viên cảnh binh, một người luôn nghiêm nghị, ngoài 40 tuổi, hai bàn tay to, nặng nề đầy lông lá, vẻ mặt dữ tợn, đe dọa thiên hạ.

Ông thị trưởng chào từng người, bắt tay thân thiện, trong khi chủ tiệm theo sau, rối rít nhận mệnh lệnh và tự thân rót rượu mời: "Dạ, thưa quí vị, tiện nhân xin cáo lỗi: Hôm nay không có báo. Bưu cục phục vụ tồi quá, báo không tới được". Thị trưởng nhìn khắp gian phòng giọng oang oang: "Yên tâm chủ quán ạ, tôi cam đoan sắp tới phục vụ bưu điện sẽ tốt hơn nhiều. Tôi đã yêu cầu cấp trên nhiều lần. Họ đang dự trù lưu thông Lộ Đức - Paris bằng xe lửa."

Chủ quán Duran nhớ ra một châm ngôn mà ông đọc đâu đó trên báo chí: "Giao thông và giáo dục là hai trụ cột của tiến bộ xã hội". Thị trưởng Lacadé tán thành: "Hoan hô chủ quán". Nhà văn Hyacinthe De Lafite lập tức nhập cuộc: "Tôi phản đối ý kiến đánh giá cao giáo dục và giao thông, theo tôi cái mà nhân loại cần để phát triển là đẻ ra một người tài ba, một nhân vật thông minh xuất chúng. Ông ta sẽ đẩy mọi vấn đề đến giải pháp tốt đẹp". Thị trưởng Lacadé nhún nhường một bước: "Đúng là triết lý của một thi sĩ, may mắn huyện ta có một tay gàn. Vậy thì ông ta có bổn phận giúp đỡ nhân dân điều chi đó. Viết lách trên báo chí chẳng hạn, la to lên rằng: tại sao các khách du lịch cứ lạnh nhạt đi qua Lộ-Đức mà đến Cauterits hay Gavarnie tắm? Chúng chỉ là những suối nước hạng hai nếu so với Lộ-Đức. Suối của chúng tôi mới tuyệt hảo, vừa phát hiện, chảy thẳng từ các tảng đá, chất lượng hơn nhiều, chắc chắn có khả năng chữa bệnh. Người ta đã có dự án khai khác. Hiện nằm trong két sắt văn phòng tỉnh của ngài bá tước Massy. Nay mai có hoả xa, nhất định Lộ-Đức sẽ thành công. Vàng và văn minh sẽ tự động tìm đường chảy về đây".

Nói xong, thị trưởng dốc cạn chén rượu vào miệng nuốt cái ực, hài lòng vì tài lợi khẩu của mình. Mọi người uống xong rượu, lần lượt đứng lên ra về. Các bà vợ của họ đang đợi ở nhà.

Trước khi Bernadette và Maria từ lớp giáo lý về tới nhà. Hai đứa em trai của các cô là Jean Maria và Justin đang đợi ăn bữa cơm trưa. Bụng chúng đói lắm rồi. Justin 6 tuổi giang rộng cả hai tay đưa cho mẹ xem món quà mà người nào đó vừa cho em trên đường về nhà. Đó là một băng vải nhỏ, màu đỏ, đan bằng len lông cừu.

- Má xem nè, người ta vừa cho con đấy, đẹp quá mẹ nhỉ!
- Giêsu Maria, con năn nỉ xin người ta hả?
- Không, con không xin, tự dưng họ cho con đấy. Cái cô cắp một giỏ đầy những thứ vải như thế này.
- Có phải Antoinette con gái ủy viên cảnh sát Jacomet không?
- Cô ấy bảo con là đứa trẻ nghèo nhất thị trấn nên cho con đấy. Đúng là nhà ta nghèo nhất không má?

Bà Louise chột dạ, không trả lời, lôi cả hai đứa con trai ra bể, lấy cát sát lên mình chúng và chà sạch hai bàn tay nhơ bẩn của chúng, vừa làm vừa nói:

- Không các con ạ, nhà Bouhouhort còn nghèo hơn. Đứa bé của gia đình ấy lại bị bại liệt từ lúc mới sinh ra. Chẳng bao giờ cử động được chân tay, các con là con cái ông chủ tiệm xay lúa thuê đấy. Mai mốt có nước chảy, gia đình ta tha hồ mà giàu. Dòng họ Casterot của mẹ là quí phái, luôn được dân làng kính nể. Mọi sự sẽ đổi khác nếu ba xoay sở được nhà máy xay.

Nói xong bà Louise Soubirous liếc nhìn vào giừơng chỗ chồng nằm. Ông ngửa mặt ngủ ngon lành, giấc ngủ của người công chính, suốt cuộc đời lam lũ nuôi vợ con, mặc dù người đạo đức ít khi ngủ trưa, tuy nhiên, giống như nhiều gia đình nghèo khác, không có phòng riêng, mà phải chen chúc nhau trong một gian phòng chật hẹp, ông Soubirous đã từ lâu tập được thói quen ngủ không gáy. Bà Louise hạ giọng nói nhỏ với các con: "Ba thương hại của các con cần ít phút ngủ để hồi sức khỏe, cả buổi sáng nay làm việc mệt nhọc để nuôi các con. Ngày mai mẹ cũng sẽ giặt thuê cho bà Millet kiếm ít tiền. Chắc là khi xong việc, bà sẽ cho bánh ngọt để mẹ mang về cho các con".

Đúng lúc ấy Bernadette và Maria bước tới cửa nhà. Có thêm Jeanne Abadie nữa. Abadie thông minh, học giỏi, được nhà trường thưởng luôn về môn giáo lý. Bà Louise nhấc nồi cháo hành khỏi bếp, đặt xuống mặt bàn. Bà mở vung, hơi cháo tỏa lan thơm ngào ngạt cả gian phòng. Mấy miếng bánh mì rán nổi lềnh bềnh trên mặt cháo. Bà thở dài nói: "Múc ăn đi các con, cả Jeanne Abadie nữa, có thêm người ăn chẳng sao, không thiếu đâu. Chúng ta có đủ mà". Jeanne Abadie ngồi yên nói: "Thưa bà Louise, thật tình con không đói. Cả nhà cứ tự nhiên dùng đi. Con chỉ thích ngồi ngắm mọi người ăn mà thôi". Khi mọi người bắt đầu ăn cháo, Maria giải thích cho mẹ sự có mặt của Jeanne Abadie:
- Mẹ à, dì Vauzous sai Jeanne đến đây để cùng học giáo lý với chúng con. Hôm nay dì bắt Bernadette đứng trước lớp một buổi.

Bà Louise đặt từng ly rượu vang đỏ trước mặt mỗi con, bà quay qua nói với Bernadette mảnh mai:
- Con à, mẹ đã bàn với ba, lại gởi con đến gia đình Lagues ở Bartres một ít lâu nữa. Con đồng ý không?

Bernadette sáng mắt lên trả lời.
- Con thích lắm mẹ ạ.

Vừa lúc Bernadette nói xong, ông Francois thức dậy, ông loạng choạng vì còn ngái ngủ, đi tới lò sưởi kiếm mấy cành củi khô ném thêm vào ngọn lửa leo lét. Đó là mấy cành khô cuối cùng còn lại, ông cằn nhằn: "Con cái chi thế này, sau công việc mệt nhoài, bố còn phải đi kiếm củi nữa sao?" Nghe ba nói cả ba chị em la lên một trật:
- Tất cả chúng con sẽ đi ngay chiều nay.

Bà Louise vội vã chen vào:
- Không được. Chỉ có Maria và Jeanne đi mà thôi. Bernadette phải ở nhà, con yếu lắm.

Bernadette thất vọng:
- Thưa mẹ, không sao đâu, con khỏe lắm, đi được mà.

- Đừng vô lý con ạ. Bác sĩ Dozous đã cấm con làm việc nặng nhọc, chỉ có Maria và Abadie đi được mà thôi, chúng nó mạnh khỏe, nếu con theo đi, khi về lại lên cơn suyễn khổ lắm. Con bị nhiều lần rồi, nhớ không?

Bernadette nài nẵng:
- Con khỏe rồi, ở Bartrès con từng làm lụng nhiều ở ngoài trời, mưa cũng như nắng, có làm sao đâu? Con cảm thấy trong mình khỏe hẳn mẹ ạ!

Nói xong cô quay sang phía ba tiếp:
- Bố nhỉ, ba người mang được nhiều hơn phải không ba? Ba cho phép con cùng đi kiếm củi với hai em nhé.

Có tiếng gõ cửa dồn dập. Người đàn bà hàng xóm không đủ kiên nhẫn đợi chủ nhà trả lời, đã xô hai cánh cửa bước vào. Bà nói hối hả như cụt hơi:
- Chị Louise mau sang giúp cháu.
- Lạy Chúa, xin cứu chữa. Có chuyện gì vậy chị Croisine?
- Đứa bé khốn khổ của em lại lên cơn co giật như ba tuần trước, em chẳng còn biết làm sao được nữa. Chị mau sang giúp em. Nó chết mất. Lạy Chúa xin cứu chữa con của con, nó chết mất.
- Bình tĩnh đã nào chị Croisine.

Bà Louise dơm dớm nước mắt tiếp: "Tôi sẽ sang giúp ngay tức thời". Các con đi thôi kẻo muộn, Bernardette tươi cười hỏi mẹ: "Mẹ cho phép con đi chơi nhé?" Bà Louise bước tới tủ quần áo: "Được, nhưng con phải đi tất vào, trời lạnh, choàng cả khăn vai cho ấm, khoác áo ngoài nữa". Bà Louise ân cần dặn con gái. Áo khoác ngoài chỉ là một chiếc áo ngắn nửa lưng, bằng len, màu trắng, phía trên có cái mũ rộng để che hết đầu và vai. Nhà nghèo không có tiền mua áo dài hơn. Bernadette vận nhanh vào mình và chạy theo hai em đã ra đến cổng. Cả ba cô gái bước ra đường.

Gần cây cầu gọi là cầu cũ, ba cô gái nhà quê rẽ tắt về phía giải đất rộng đầy rêu xanh, từ trại Savy dẫn tới con sông, con suối nhỏ cạn nước, cạn đến nỗi không vận hành nổi các bánh xe trại cưa được nữa. Anh chủ trại Antoine Nicolau, còn trẻ, lợi dụng thời gian rỗi việc sửa lại các chỗ hư của bánh xe. Mẹ anh đứng trước cửa nhà nhìn ra cánh đồng thấy các cô gái đi ngang qua, bà buột miệng nói:
- Hẳn là hai cô con nhà Soubirous, đứa thư' ba không biết con ai?
- Nó là con nhà Abadie, tên Jeanne.

Antoine ngưng tay trả lời mẹ, anh đặt kìm búa xuống bên cạnh chỗ ngồi, đứng dậy nhìn ba cô bé. Anh là một thanh niên đẹp trai, cao, hiền, đôi mắt sáng, bộ ria đen, rậm rạp mà anh luôn hãnh diện về nó. Cùng lúc ba cô gái cất lời chào bà Nicolau:
- Chúng cháu kính chào bác.
- Ừ tốt, bố mẹ các cháu ở nhà có khỏe không? Cho bác gởi lời thăm hỏi nhé.
- Thế ra chẳng ai thèm chào con. Antoine phàn nàn.

Bernadette tiến gần đến chỗ chàng thanh niên đứng, chìa tay về phía chàng như muốn thanh minh:
- Anh Nicolau, cho chúng em xin lỗi!
- Mấy cô công chúa đi đâu vậy?
- Chúng em đi kiếm củi, Maria trả lời, cho chúng em qua cầu được không?
- Miễn phí cho các công chúa, Antoine khoát tay cười rộng lượng.

Ba cô con gái bước nhanh qua cầu, chiếc cầu làm bằng mấy tấm gỗ hẹp, các cô vừa đi vừa lấy thăng bằng hai tay. Sang tới đầu cầu bên kia, các cô dẫm qua đám rêu xanh, rồi đến đám đất hoang mọc đầy bạch thảo thấp lè tè. Đến giải đất sáng nay ông Soubirous đốt rác ô nhiễm. Phía bên trái các cô là hang Massabielle, nửa sáng nửa tối dưới bóng chiều, mấy giải mây đen lang thang trên bầu trời giá lạnh. Ở chỗ này con suối không rộng hơn vài bước. Bỗng Maria chỉ tay về sườn núi trước mặt. "Trên kia nhiều củi khô quá, chúng em sẽ lên đấy luợm, chị Bernadette đợi chúng em ở đây nhé, không cần chị đâu". Liền sau đó, Maria và Jeanme Abadie tháo vội đôi giày gỗ, lội băng qua con suối lạnh buốt. Jeanne xuýt xoa: "Buốt như dao cắt".

Cả hai bước sang bờ bên kia và thoăn thoắt qua bìa rừng rải rác các phiến đá vôi khổng lồ. Họ hối hả lượm những cành khô nằm ngổn ngang mọi nơi. Mặc dầu hai em vẫn ở trong tầm nhìn, nhưng Bernadette cảm thấy cô đơn ghê gớm, muốn lội sang với các em, nhưng không dám trái ý hai em. Trái với lệ thường, mỗi khi được ở một mình Bernadette thường cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Cô gái đưa mắt quan sát chung quanh. Xa xa đàng kia là các ngọn sóng lăn tăn của con suối gần cạn Savy đổ vào sông Gave. Sông Gave giận dữ chảy ào ào qua các mỏm đá, cuộn lên những bọt sóng bạc đầu. Hang Massabielle tràn ngập ánh nắng nhạt của buổi chiều đông lạnh giá. Mặt trời vàng nhạt sắp lặn xuống sau các dãy núi. Chỉ có một chỗ đen ngòm là miệng cái hang, ăn sâu vào vách đá. Vài dây hoa hòâng dại quấn quanh miệng hang, nó mọc ra từ bụi gai xơ xác phía dưới chân hang, nằm im lìm bất động, Bernadette cố gắng lắng nghe, nhưng chẳng có tiếng động nào khác ngoài tiếng ríu rít của hai đứa con gái trên sườn đồi gọi nhau và tiếng ào ào nước chảy của con sông Gave.

- Thây kệ, chúng nó chẳng cần đến mình, Bernadette nghĩ thầm trong bụng, lòng không chút hờn dỗi hay đắng cay. Tuy nhiên ý thức bổn phận trỗi dạy trong linh hồn khiến cô trút đôi giày gỗ ra khỏi chân và ngồi xuống một tảng đá, hai tay chậm rãi gỡ đôi bít tất bằng len trắng ra khỏi đôi chân. Chiếc bít tất chưa tới mắt cá thì tự dưng Bernadette linh cảm một sự thay đổi khác thường. Cô đưa mắt sáng của tuổi thơ quay ngó khắp bốn hướng. Mọi sự vẫn im lặng như cũ. Chẳng có dấu chi khác lạ. Chỉ những đám mây đổi màu xám xịt, hiện tượng thông thường của chiều mùa đông. Mấy đám mây đen di chuyển chậm chạp. Bỗng nhiên Bernadette nghe như cung điệu sông Gave đổi giọng. Nó không còn là tiếng của dòng nước chảy nữa mà là tiếng của một con đường nhộn nhịp. Hay là tiếng của một phiên chợ đông người vọng từ Tarbès tới. Hàng trăm xe ngựa, xe kéo, xe buýt, xe hạng sang cùng chạy đua trên mặt đường lộc cộc. Tiếng ngựa hí, tiếng bánh xe lăn, tiếng vó ngựa đập xuống mặt đường lộ, tiếng la hét, tiếng roi quất vun vút hòa lẫn với nhau cùng một lúc. Nghe giống như một cuộc tháo chạy thác loạn khủng khiếp đổ ngược dòng sông về phía Bernadette ngồi. Tưởng chừng như chỉ trong khoảng khắc nó sẽ ập lên người nàng. Từ trong những tiếng ồn ào gầm thét ấy, cô nghe như có giọng đàn bà kêu la: "trốn đi, chạy trốn đi khi còn có thể". Bernadette nghiến chặt hai hàm răng suy nghĩ. Hình như trước đây cô đã có kinh nghiệm tương tự như vậy rồi? Nhưng khi nào và ở đâu? Có lẽ là trong một giấc mơ?

Bỗng dưng mọi sự đều im bặt, cảnh vật như chưa hề thay đổi bao giờ. Vẫn cây cối, dòng sông như cũ. Tiếng ồn ào la hét không còn nữa. Nước vẫn cuồn cuộn chảy bình thường, phẳng lặng. Bất giác Bernadette đưa mắt nhìn khắp nơi xem có chi khác lạ. Đôi mắt cô gái dừng lại trên cửa hang Massabielle. Cụm hoa hồng dại tại sao vặn mình nằm rạp xuống? Hình như có một cơn gió mạnh vừa thổi qua. Nhưng bầu trời vẫn im phăng phắc. Bernadette đưa mắt nhìn lên rặng cây phi lao trên cao để tìm xem gió thổi từ hướng nào, nhưng chẳng thấy động tĩnh chi cả. Các tàn lá cây phi lao không hề lay động. Làm chi có gió trời ? cô tư lự và quay mặt về phía cửa hang. Các dây hồng dại bây giờ bất động, nằm ngay ngắn như cũ.

Bernadette nhắm mắt, rồi mở ra, lặp đi nhắc lại tới 10 lần. Nhưng điều cô trông thấy vẫn y nguyên như cũ. Ánh sáng mặt trời vẫn xám xịt của chiều mùa đông, chỉ trong hốc đá nhọn Massabialle mới rực rỡ như thể bao nhiêu lượng ánh sáng đọng vào đấy cả, một phụ nữ còn trẻ lắm, chừng hơn Bernadette vài tuổi, nhỏ bé và mong manh như sương khói đứng giữa bầu ánh sáng. Bà như từ thế giới huyền bí bên kia tới, nhưng coi rất thật như con người bằng xương thịt vậy, không phải mờ ảo như ma quái, cũng không phải trong giấc mơ ban ngày. Bà đứng ngay ngắn, đầu không chạm đỉnh hang, hai bên không chạm đá tường. Bà vận một chiếc áo dài trắng muốt như bằng tuyết, lóng lánh như các cô dâu con nhà sang trọng. Chiếc khăn dài chùm từ đỉnh đầu xuống tận mắt cá chân, coi kiều diễm, nhưng tóc không chải theo thời trang, nghĩa là quăn tít nhờ các que nhựa hơ nóng rồi giữ lại bằng cái lược đồi mồi như các mệnh phụ thời ấy thường chải, ngược lại, các lọn tóc của bà quăn tự nhiên, màu nâu nhạt, lộ ra ngoài một chút ít dưới mép khăn. Ngang lưng, ngay dưới ngực, bà vận một tấm khăn thắt lưng màu xanh da trời. Ngay cả cô Peyret chuyên may cho các gia đình giàu có ở Lộ-Đức cũng không biết được chất liệu của tấm áo bà mặc. Khi nó óng ánh như satin, khi lại đổ màu sẫm như gấm nhung. Điều làm cô gái Lộ Đức bỡ ngỡ hơn là đôi chân để trần của bà trắng như thạch cao lơ lửng trên mặt đất mãi mà không chạm xuống bụi hồng. Hình như đôi chân ấy chưa bao giờ cất bước hay dạo chơi. Các ngón chân thon dài, trên mu bàn chân gắn bông hồng bằng vàng.

Bernadette rùng mình khiếp kinh, rồi nỗi sợ hãi kéo dài man mác. Tuy nhiên nỗi khiếp sợ không làm cho người ta chạy trốn, nó mới mẻ đến mức cô gái quê mùa cảm thấy như mình chưa hề kinh nghiệm, mặc dầu cô ta từng trải qua nhiều nỗi kinh hãi trong đời. Nó giống như một lực hấp dẫn, nhẹ nhàng áp đặt lên ngực, lên trán, lên trái tim rồi lan tỏa khắp thân thể ngọt ngào, ấm áp như an ủi số phận không may. Tuy suốt đời cô gái nghèo khổ này phải chịu đựng đói rét, chui rúc trong căn phòng tồi tàn Cachôt với năm mạng người khác. Từng đêm phải vật lộn với cơn hen để thở và xem ra tình trạng là vĩnh viễn. Nhưng cô gái nhỏ chưa hề ý thức được nỗi khổ của mình và gia đình. Cô vẫn hồn nhiên sống như bao nhiêu người hàng xóm, láng giềng khác. Giờ đây cô được một niềm an ủi không rõ tên tuổi bao bọc, được cảm thấy tình thương trìu mến hải hà của bà. Sự có mặt của bà trước cửa hang tưởng chừng như một món quà quí báu. Cô bé lấy hết sức bình sinh nhìn vào dung mạo bà khách. Bà đẹp tuyệt vời với đôi mắt xinh tươi , hiền hậu, bà còn rất trẻ, chỉ độ mười lăm, mười sáu tuổi. Nước da mịn màng in dấu vết mùa đông tháng hai lạnh giá. Đôi môi hé mở nhè nhẹ, dịu dàng. Trông bà rất thật đến nỗi Bernadette nghĩ là một người trần chứ không hề nghĩ là một người khách lạ từ trời xuất hiện. Cô gái quê mùa ngây ngất ngắm nhìn như xem một bức tranh đẹp, chẳng còn để ý đến sự việc diễn ra xung quanh, vẻ đẹp lộng lẫy của bà hoàn hảo đến độ nó thu hút trọn vẹn tâm hồn cô.

Bỗng dưng cô gái nhận ra mình vô lễ trước người khách. Cô đang ngồi trong khi bà khách đứng. Bernadette ngượng ngịu đứng dậy. Bà hài lòng mỉm cười duyên dáng. Cô gái bé bỏng cúi đầu chào như thói quen khi gặp dì giáo viên hay cha Pomian ngoài đường phố. Bà đẹp gật đầu đáp lại tỏ vẻ thân thiện. Bà gật đầu vài lần nữa trong lúc nụ cười trên môi mỗi lúc rạng rỡ hơn. Giữa hai nhân vật, một ban ơn, một nhận ơn, có dòng chảy tình cảm thắm thiết trào dâng. Nó nhẹ nhàng rung động trái tim như tràn đầy êm ái và mừng vui. Cô bé bất giác quì xuống nền đất sỏi vụn, đôi mắt vẫn cắm chặt vào bà lạ trên miệng hang.

Bà giang rộng hai cánh tay tiến tới một bước nhỏ như ao ước ôm Bernadette vào lòng. Bernadette không có ý nghĩ gì về chuyển động cả. Cô quì im lặng ngắm nhìn chăm chú vào bà khách quí phái trước mặt. Bỗng dưng trong đầu óc cô nẩy ra câu hỏi: Bà từ đâu tới? Bà tên là gì? Tại sao bà lại chọn cửa hang Massabielle gớm ghiếc làm nơi xuất hiện? Bernadette hoàn toàn bị cuốn hút bởi nhan sắc rực rỡ của bà nên muốn chắc chắn về bản chất của bà. Nàng giơ tay làm dấu thánh giá như thói quen mỗi khi gặp một biến cố khác thường. Tuy nhiên, cô gặp khó khăn bất ngờ khi muốn giơ tay lên. Nó không theo mệnh lệnh của cô nữa mà treo lủng lẳng nặng nề bên mình giống như một ngoại vật bằng chì đeo vào bên thân. Cô không thể sai khiến được nó, dù chỉ một ngón tay.

Bà lạ đứng trên cửa hang chậm dãi đưa tay phải lên trán và vẽ một dấu thánh giá lớn, dấu thánh giá bà làm giống như một hào quang, sáng ngời, đẹp đẽ. Bernadette chưa hề được xem thấy ai làm như vậy bao giờ. Dấu thánh giá bao chùm thân mình bà, dư ảnh của nó còn bập bềnh mãi trong không khí, linh thiêng và thánh thiện. Bây giờ bernadette cảm nhận như một sức mạnh nào đó hướng dẫn tay cô, kiểu như thày gíao, cầm tay tập viết cho học trò, làm dấu chữ thập trên thân mình, cương quyết và sốt sắng. Bà lạ đứng trên cửa hang mỉm cười hài lòng giống như vừa thực hiện xong một công việc quan trọng và to lớn lắm lắm.

Thời gian đọng lại, không trôi qua nữa, đầy thương mến và ngây ngất. Bernadette muốn nói lên vài lời tôn kính, dịu dàng. Nhưng không dám cất lời trước bà lạ. Cô gái rút cỗ tràng hạt quen thuộc khỏi túi áo, đưa lên cao cho bà lạ coi. Bà lạ thích thú vô cùng, nhìn cô gái âu yếm. Lập tức trên tay bà xuất hiện một tràng chuỗi sáng láng như toàn bằng ngọc trai. Bên dưới là một cây thánh giá bằng vàng ngời ngợi, không biết từ đâu tới. Bernadette cất giọng đọc kinh mân côi. Cô nghe tiếng mình lạ hẳn: "Kính mừng Maria đầy ân phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà..." Cô gái quê chăm chú nhìn bà lạ xem có đọc kinh với mình không? Tuy nhiên môi bà không động đậy. Xem ra bà chỉ đứng giám sát những lời thì thầm của cô bé với lòng trìu mến thiết tha. Sau mỗi kinh kính mừng bà cũng để rơi một hạt ngọc, nhưng đợi cho Bernadette chuyển hạt của mình trước đã. Khi tới kinh sáng danh môi bà mới mấp máy trong yên lặng, như cùng đọc chung với cô gái đạo đức.

Chưa khi nào Bernadette lần hạt chậm rãi đến vậy. Hình như kinh văn côi có sức mạnh giữ bà lạ đứng lại trên miệng hang. Phần khác Bernadette e ngại người cô yêu mến hết lòng phải đứng lâu trong cái hang gớm ghiếc mà dân làng thường hay khiếp sợ. Bà sẽ mệt mỏi trong giá lạnh, nhưng kinh Kính mừng thứ ba mươi vừa đứt, nỗi e sợ đó biến mất. Chính bản thân cô gái cũng không cảm thấy đau đớn quì gối trần trên sỏi đá và cũng không nhận ra cái lạnh cắt da cắt thịt của bầu không khí giữa mùa đông. Sự êm đềm ấp áp phước lộc bao trùm cả thân thể cô .

Khoảng hai mươi phút sau Jeanne Abadie và Maria trở lại điểm xuất phát. Con suối vẫn êm ả chảy róc rách. Họ vui mừng vì lượm được khá nhiều củi. Những cành khô từ sườn núi và rõ ràng họ không thể mang hết về nhà. Tuy nhiên họ vẫn không nghĩ tới Bernadette. Khi gần đến suối, Maria phát hiện chị mình quì trên đám sỏi vụn, dáng điệu kỳ lạ, tay phải cầm tràng hạt, chiếc bít tất trắng nằm chơ vơ trên mặt đất bên cạnh, nét mặt nhợt nhạt như người đã chết, đôi môi trắng bệnh không còn chút máu, toàn thân bất động, hai mắt cắm thẳng về phía cửa hang. Trên bộ mặt đọng lại nét cười huyền bí, kín đáo, đầy hạnh phúc, coi giống hệt người hàng xóm qua đời mấy bữa trước. Maria hốt hoảng sợ hãi, nàng hét thất thanh: "chị Bernadette", không thấy tiếng chị trả lời, nàng bật lên khóc: "Giêsu Maria lạy Chúa. Có lẽ chị tôi đã chết rồi". Jeanne Abadie chen vào: "Nếu Bernadette giả vờ, nhát chúng ta. Tao có cách đánh thức nó dậy". Nói xong Jeanne cúi xuống nhặt một viên sỏi ném thẳng vào người Bernadette. Viên đá trúng ngay giữa ngực. Bernadette ngẩng đầu, ngơ ngác nhìn chung quanh, màu hồng đỏ dần dần trở lại da mặt nàng, trước hết là đôi má, rồi đến hai tai, môi miệng. Cô gái nhỏ hít vào một hơi dài, rồi hỏi tự nhiên: "cái gì vậy?"

Từ lúc viên đá trúng ngực cho đến khi cất được tiếng nói "cái gì vậy", thời gian chỉ là khoảng khắc, nhưng Bernadette đã đi quãng đường dài tâm lý, không thể đo lường bằng bất cứ phương pháp nào không gian hay thời gian. Cô đã trải qua từ cõi vô hình đời đời trở lại dương gian. Khi viên đá chạm ngực thì bà lạ biến mất, không còn có mặt tại cửa hang nữa. Cô gái không biết bà bước đi bằng cách nào? Bà lừa cô vào giây phút đãng trí rồi bước đi hay tan dần ra không khí? Vì tinh tế bà đã lợi dụng biến cố viên đá để chia tay khéo, kẻo cô gái quá buồn rầu vì cuộc từ giã đầy luyến tiếc?

Bây giờ thì cô phải trả giá cho cuộc chia ly đó, ngơ ngác, sợ hãi, nuối tiếc, không hiểu biến cố vừa xảy ra. Cô gái quờ quạng trở về thực tế. Đây có phải là tảng đá cô vừa ngồi, quen thuộc và vững chắc? Đây là tay phải, tay trái, hai chân tôi không? Cô gái dò dẫm khó nhọc trở về với cụ thể? Cuối cùng cô mới bật lên được tiếng "cái gì vậy". Maria gắt gỏng với chị: "Trời đất, chị làm em hết hồn". Trong lòng Bernadette cảm nhận tình thương em gái, nói to: "Chị sẽ sang bên ấy với các em". Rồi cô cởi nốt chiếc tất bên chân trái, cầm đôi giày gỗ lên tay và lội băng qua con suối, nước mùa đông lạnh buốt. Từ lúc xem thấy bà lạ, Bernadette hình như mạnh bạo, can đảm hơn, cô cũng cảm thấy mình như lớn hơn, khỏe khoắn hơn. Đến giữa dòng, nước sâu ngập đầu gối, cô dừng lại nói:
- Nước ấm như nước rửa chén bát mà các em kêu lạnh buốt. Đúng là các em lừa dối chị.

Maria giận dữ nói:
- Cái đầu chị làm sao rồi đấy. Đôi chân chúng em hãy còn lạnh cóng đây này vì thứ nước rửa bát của chị. (ở các xứ lạnh người ta đun nước nóng để tắm hay rửa bát đĩa).

Bernadette qua suối, nhập bọn với các em. Đống củi kiếm được chia làm ba bó nhỏ. Tuy nhiên củi đủ cỡ to nhỏ và đầy gai góc. Bó được gọn gàng không phải là dễ. Bernadette làm rất nhanh tay và xem ra có khả năng và thành thạo nhất trong nhóm. Lúc gần xong, cô đột nhiên hỏi hai em: "Các em có gặp thấy ai không?" Maria và Jeanne Abadie lạ lùng nhìn chị, trong bụng thắc mắc về câu hỏi. Hình như Bernadette đã thay đổi nhiều, già dặn hơn, khỏe khoắn, cương quyết hơn bình thường. Maria hỏi lại chị: "Sao, chị xem thấy gì à?" Jeanne Abadie giương to hai mắt , hau háu đợi câu trả lời.

- Không, chị chẳng trông thấy chi cả!

Bernadette trả lời các em cộc lốc, rồi nhanh nhẹn sỏ bít tất vào chân, giẫm lên đôi giày gỗ, đội bó củi lớn nhất lên đầu kiểu như các bà nhà quê quen làm. Hai cô gái khác cố gắng lắm mới nhấc nổi bó củi của mình lên vai. Bernadette dứt khoát nói với hai em: "Chúng ta về lối tắt ngang qua ngọn núi". Nói xong cô cất bươc đi từng sải dài trên mặt đá sỏi vụn. Jeanne và Maria lẽo đẽo theo sau ở một quãng xa, lối đi rất nhỏ và dốc. Những tảng đá không rêu trơn trượt vì nước mưa đêm qua. Nhất là giải đất xuống núi trước mặt rất nguy hiểm, dễ trượt chân như chơi nếu không bước đi cẩn thận. Maria thở hổn hển:

- Lạy Chúa, em chẳng theo được chị nữa đâu. Bernadette đặt bó củi xuống đất, chạy ngược lại chỗ em gái. Không nói một lời, nàng đỡ lấy bó củi trên vai em, chạy lên dốc núi. Tới đỉnh cô bước nhanh hơn. Maria thấy nguy hiểm la to lên: "Đồ quỉ, sao chị chạy nhanh như vậy, chị điên à. Chị không biết rằng về nhà lại thở không được à". Bernadette không trả lời, lòng cô đang ngổn ngang những biến cố vừa xảy ra ở hang Massabielle. Nói hay không nói về bà lạ cho các em nghe? Nếu nói ra hậu quả sẽ thế nào? chúng nó có tin không? Cô gái nén lòng tự nhủ: "Thôi thì ta chẳng nói ra:" Jeanne Abadie nghe thấy Bernadette thở dài hỏi: "Chị nói thầm điều chi vậy, Bernadette?" Bernadette dừng lại nói nhỏ: "Chị có truyện này muốn kể cho các em nghe. Nhưng nghe xong phải giữ bí mật, không được mách với ai. Mẹ mà nghe được thì bà đánh tao chết. Thề đi Maria?"

- Em xin thề, chị biết đấy, em luôn giữ bí mật cho chị.
- Tao hứa chứ không thề, Jeanne Abadie nói, thề những điều lặt vặt, có tội trọng đấy. Nào nói đi, chuyện gì xảy ra ở hang Massabielle?

Bernadette hít vào một hơi dài. Giọng nói run run vì vui mừng và hồi hộp: "Chị trông thấy một bà khách lạ đứng ở cửa hang, vận toàn đồ trắng, thắt lưng xanh da trời, mỗi bàn chân có một bông hoa hồng bằng vàng". Maria nổi giận khi nghe chị kể, nàng ném bó củi xuống mặt đất. "Em biết mà, chị dọa em trong rừng vắng. Nhưng chị chẳng thể làm em khiếp sợ với cái bóng ma ngu ngốc của chị vận toàn áo trắng".

- Chị muốn làm dấu thánh giá, Bernadette kể tiếp, nhưng không làm được. Tay phải chị rã rời như khúc gỗ treo bên mình. Sau đó chị làm được theo mẫu của bà ta.

Đột nhiên Bernadette ngừng kể, nằm lăn ra mặt đất: "Chị mệt lắm rồi, nghỉ chút đã". Hai cô gái khác cũng ném bó củi xuống đất và ngồi bên cạnh Bernadette. Họ ngạc nhiên nhìn nét mặt trắng bệch và vô cảm của Bernadette. Một lát sau Bernadette buột miệng nói vội: "Giữ lấy chị, mau giữ lấy chị, chị muốn trở lại hang Massabielle". Jeanne Abadie nháy mắt chế nhạo: "Hay mày tin rằng bà khách còn ở đó đợi mày?", Bernadette thản nhiên trả lời: "Vì, tao biết bà ta đang đợi tao ở đó".

Hôm ấy bà Louise Soubirous trải qua một ngày vất vả. Bà ở nhà người láng giềng Croisine Bouhouhorts hàng giờ để chữa bệnh cho đứa trẻ bị co giật. Chuyện tuy là cũ, nhưng không sao rời đứa bé được. Nó thường xuyên lên cơn co giật đau đớn. Đứa bé lên hai tuổi. Con trai của gia đình bouhouhort. Mắc bệnh từ hồi mới sinh. Chân chỉ to bằng ngón tay cái người lớn, dị dạng khủng khiếp và cứ hai tuần lại lên sài uốn ván một lần. Nó vạên vẹo đau đớn đến chết được.

Hầu hết các chị em nhà Casterots đều giỏi về chữa bệnh, nhất là bà Louise khôn khéo. Bà xoa dầu nóng khắp thân thể đứa bé, gói nó vào chiếc khăn ấm to tướng, cho uống thuốc lá cây và ôm chặt nó trong vòng tay thô kệch, nhẩy lên nhảy xuống hàng giờ, lay lắc đứa bé cho đến đổ mồ hôi. Thân thể đứa bé cứng nhắc, cuối cùng máu chạy đều và cơn co giật uốn ván dịu dần. Bà trả lại đứa trẻ cho mẹ nó rồi trở về nhà. Tới được nhà thì sức lực đã kiệt quệ. Bà vật mình ngồi xuống chiếc ghế gỗ, ngả lưng vào tấm ván dựa. Nhưng lại đứng dậy ngay, choàng lại khăn vai, bởi nhớ lại bà chủ Millet thường hay huỷ bỏ ngày giặt giũ. Bà ta năng đi Argeles thăm gia đình Latapies. Đứa con đỡ đầu yêu dấu của bà thuộc gia đình đó. Nó mới chết được vài tháng nay. Bà ta thương tiếc nó không nguôi, bởi nó là đứa bé ngoan ngoãn vừa ý bà, khi còn sống, bà chiều chuộng nó như mẹ con ruột thịt và nó cũng là niềm vui, niềm an ủi duy nhất của bà. Phần bà Louise mỗi lần bà Millet huỷ bỏ ngày giặt, lại mất 30 xu tiền công, bữa ăn trưa, chén trà chiều ấm áp và gói thức ăn dư mang về cho mấy đứa trẻ. Bà Soubirous bấm bụng hôm nay là điềm xấu, mọi sự sẽ đi trật đường và không theo ý muốn. Có lẽ ngày giặt vào thứ sáu cũng bị hoãn lại. Bà giật mạnh cánh cửa nhà tù cũ Cachôt. Ông chủ nhà, cậu Sajou đang ngồi ở bậc thang cuối cùng hút tẩu thuốc. Bà Sajou nhất định không để chồng làm dơ bẩn bộ salông của mình. Khác với gia đình Soubirous nghèo khó, gia đình Sajou khá giả hơn, làm chủ ba căn phòng rộng rãi và một phòng khách để salông, bàn ghế, tiện nghi.

Bà Louise hớn hở nói: "Cậu André à, coi nhà giùm một lát, em chạy sang nhà bà Millet". Ông André Sajou uể oải uốn cong ngón tay trái tỏ dấu đồng ý. Bổn phận của người thợ xây là yên lặng, nhưng đối với gia đình Soubirous sự yên lặng của ông Sajou mang dấu hiệu hoàn toàn khác. Họ có liên hệ máu mủ với nhau, nhưng sự thất bại trong cuộc sống khiến họ canh chừng nhau như canh chừng bệnh truyền nhiễm. Họ đối xử với nhau theo bổn phận bác ái đạo dạy, nhưng vẫn phải cảnh giác trộm cắp.

Gia đình Millet là một dòng họ ấn tượng nhất Lộ Đức. Đức cha Bertrand Sevère Laurence giám mục Tarbès, mỗi khi đến Lộ Đức thường cư ngụ tại ngôi nhà này. Bà Millet goá chồng từ lâu, nhưng bà vẫn ở vậy, dù không có con. Bà là một tín hữu đạo đức nhiệt thành, hội viên tích cực của công giáo tiến hành địa phận Tarbès. Tuy nhiên đối với Đức cha Laurence thì sự tò mò của bà chủ nhà về đời sau rất bình dân. Nó là một giáo lý phổ thông nông cạn mang màu sắc dị đoan. Bà có nỗi ám ảnh sâu đậm khi đứa cháu gái cũng là con thiêng liêng của bà qua đời. Đàng khác, khá nhiều đoàn thể trong hạt Lộ Đức được nhờ lòng tốt của người đàn bà này trợ giúp.

Thày Philippe, người giúp việc cho bà Millet ra mở cửa cho bà Louise Soubirous vào, thày nói với cường điệu của bậc giáo sĩ: "Chào chị Louise, chúng tôi hoãn giặt đến tuần tới. Từ khi Elise tốt lành qua đời, hàng ngày chúng tôi sang Argeles đi lễ cầu nguyện cho linh hồn thánh thiện ấy, chúng tôi sẽ gọi bà chị đúng lúc". Bà Louise tỏ bày lòng chia buồn cùng thày Philippe, trong lòng không khỏi sợ hãi vì mất một buổi giặt, gia đình thiếu hụt 30 xu lương thưc. Trên đường về bà ghé mua chút ít thịt heo muối, một bánh xà phòng, nửa ký bột mì ở tiệm Lacaze mà không phải tiêu tốn 12 xu trong túi áo. Ông chủ tiệm nhất quyết không lấy tiền. Vừa về đến cổng Cachôt là đã nghe tiếng giận dữ của cậu Sajou:
- Cô nó này, tôi thiết tưởng bổn phận của mấy bà mẹ là coi xem các nhóc nhà mình có quấy phá hàng xóm không? Xin ghé mắt nhìn hai quí tử nhà cô.
- Con rượt mèo của ổng đấy chứ. Justin nói to.
- Con chỉ kéo Justin ra khỏi đống phân nhà ông. Jean Marie bào chữa.

Không nói một lời, bà Soubirous nghiến răng lôi cả hai quí tử về nhà, mình dính đầy bùn nhơ, lột hết quần áo, đổ nước nóng vào chậu giặt, lấy cát chà sát khắp mình chúng, rồi dội nước cho sạch. Hai đứa trẻ thấy mình trần truồng nhe răng cười với nhau. Chúng khám phá ra trò chơi mới, mặc dù gió lạnh. Chúng đuổi bắt nhau hí hửng. Vừa lúc, ông Francois Soubirous bước về nhà, ông vội vàng la lên:
- Xin giữ lấy phẩm giá Casterots của bà, đừng bày trò khốn khổ như vậy nữa. Tuy tôi chỉ là Soubirous bình dân, nhưng hãy tin cậy vào tôi. Hôm nay tôi đã gặp Maisongrosse và Cazenave. Sẽ có hy vọng.
- Thế ông có tạt ngang qua quán rượu Babou không đấy? Bà Louise nói mỉa.

Ông Francois tiến lại sau vợ, phàn nàn: "Có lẽ tôi ốm rồi. Lạy Chúa xin cho con chết để đỡ khổ".

Bà Louise với chiếc khăn bông to vừa lau cho hai đứa bé, sau đó giặt và phơi lên dây căng từ lò sưởi cho đến cửa sổ. Mặc dầu bị thử thách nhiều, bà vẫn là ngươi vợ đảm đang, người mẹ hiền lành. Nếu như chồng uống vài ly rượu ở tiệm Babou thì cũng không can gì. Đã nhiều ngày ông chưa được bữa ăn ra hồn. Bà nói tiếp: "Bố nó ạ, lên giường nằm nghỉ là hơn". Bà cảm nhận ngay rằng chồng cần chút can đảm để đối phó với hoàn cảnh khó khăn hiện thời. Bà tiếp tục nói: "Tuy thứ sáu này nghỉ giặt ở nhà bà Millet, nhưng chắc sẽ có tin vui".

Bà Louise kéo mền đắp cho chồng, vuốt thẳng các góc mền cho chồng ngủ an toàn, rồi ném thanh củi chót vào lò sưởi. Đồng hồ điểm ba giờ chiều: "Hai con ranh và Jeanne bây giờ đang ở đâu?" Bà Louise tự hỏi. Cuối cùng Bernadette và Maria cũng về tới nhà. Mấy bó củi lớn làm bà dịu lại. Bà sai hai đứa trẻ gọt vỏ khoai tây và củ cải. Đang khi làm, thỉnh thoảng Bernadette liếc sang em soi mói, cô cứ nơm nớp lo sợ em nói ra điều bí mật. Cô em cứ cúi đầu làm việc, mắt nhìn xuống đôi tay đang thoăn thoắt gọt vỏ khoai, miệng mím chặt đôi môi. Có lẽ cô thông cảm ý nghĩ của chị.

Xong việc, bà Louise gọi to hai con gái: "Đến cửa sổ mẹ chải tóc cho, Maria trước". Bà muốn lợi dụng những tia nắng cuối cùng của ngày hôm ấy chải tóc cho hai cô con gái cưng. Bà luôn luôn ăn ở gọn gàng, đó là nét quí phái duy nhất của dòng họ Casterots còn lại nơi bà. Các nét khác vì lam lũ đã phai nhạt hết rồi. Maria quì trên chiếc ghế đẩu để mẹ chải tóc, Bernadette đi kiếm hai thằng nhóc trần chuồng đuổi nhau ngoài hành lang, Maria buột miệng nói: "Con muốn nói điều này về Bernadette cho mẹ nghe". Bà Louise hỏi vội: "Cái gì về Bernadette?"

- Mẹ à, Maria tiếp tục, chị Bernadette xem thấy một bà lạ ở hang Massabielle. Bà còn trẻ lắm, vận toàn đồ trắng, thắt lưng xanh da trời, chân trần có bông hồng bằng vàng.
- Con nỡm, mày nhảm nhí chi vậy?

Vừa lúc ấy Bernadette bước vào nhà với hai đứa bé. Bà Soubirous quay ngang mặt về phía cô chị giận dữ: "Đứa mất dạy, mày trông thấy chi ở cái hang Massabielle gớm ghiếc?"
- Em phản chị rồi! Tại sao em nói cho mẹ biết? Bernadette kêu lên và nhìn em gái.

Tuy nhiên giọng cô đầy nhẹ nhõm, chạy vội đến bên mẹ, hai tay giang rộng hướng về mẹ như về một ngọn lửa ấm áp, trái tim hoan hỉ vì được nói ra điều ấm ức trong lòng cho mẹ nghe: "Vâng đúng mẹ ạ, chiều nay con trông thấy một bà rất đẹp ở hang Massabielle". Những lời thổ lộ đáng lý làm bà Louise tò mò thì lại như chén đắng đổ đầy tràn trong lòng bà. Sau một ngày lầm than vất vả kiếm miếng ăn bà lại phải nghe con gái nói chuyện ngu xuẩn.

- Chúng mày giả bộ trông thấy bà đẹp, trong khi tao cực nhọc lao động đến lột cả da tay. Ôi lạy Đức Mẹ, đứa thì rơi vào đống phân, đứa không thuộc kinh. Sao con khổ thế này! Bây giờ lại còn truyện bà đẹp hiện ra. Thế thì tao phải cho chúng mày một trận để hết cực lòng.

Tiếng bà Louise Soubirous hét lớn làm cho gia đình Sajou trên lầu giật mình, vểnh tai nghe. Bà Louise vồ lấy cây gậy gỗ dùng để đập mền giường. Cái quất thứ nhất trúng ngang lưng Bernadette, Maria chui xuống gầm giường tránh cơn giận của mẹ, nhưng không được, cô phải nhoài người ra nhận cái thứ hai. Hai đứa bé khóc cũng không thoát khỏi cơn giận của mẹ, tuy chúng rất xứng đáng, Maria xoa lưng khóc rống lên: "Mẹ đánh em tại vì chị đó". Ông Soubirous thức giấc, mở to hai mắt, đứng dậy thẳng, nói: "Tao nghe thấy hết rồi". Ông nắm lấy cổ áo con gái lớn, nhìn thẳng vào mắt: "Coi này, bà nom, chúng ta là gia đình lương thiện, mọi người nể nang. Bây giờ mày tính giở trò lường gạt, ngu ngốc, kiêu ngạo, làm ra vẻ quan trọng. Nếu muốn dối trá thiên hạ, bày đặt truyện thần tiên, thì hãy xéo ra khỏi nhà này. Nhập bọn với lũ xiếc ở chợ phiên, đi với đám vô lại Tây Ban Nha, lang thang đây đó. Đến đấy với chúng, tha hồ lường gạt". Nói xong ông ngồi xuống cạnh giường thở hổn hển. Bernadette ngây dại nhìn cha, hai tay khoanh trước ngực, lễ phép: "Thưa ba, đúng thật mà. Con trông thấy bà ta, lạ lắm. Con không dám lừa gạt ba mẹ". Ông Francois ngượng ngịu vì quá lời.

Sau cảnh lộn xộn, gia đình Soubirous được hưởng vài ân huệ. Chúng báo hiệu những may mắn cho tương lai. Trước hết, bà cô Sajou nghe tiếng hét xé tai của Louise thì sinh ra sợ hãi. Bà nghĩ bụng nếu Louise giận dữ đến độ điên khùng như vậy, ắt hẳn gia đình đang lâm vào túng quẫn lớn. Bà Sajou vốn biết lo xa, tích trữ được một số lương thực, thực phẩm khá dồi dào. Bà lại có tính nết thương người, bà đắn đo chạy đến chiếc vại đựng bơ, pho mai móc ra một ít, cắt một khoanh thịt heo muối mặn. Và vui mừng thắng được tính hà tiện, bà thêm luôn sáu khúc xúc xích miền quê, đặt tất cả vào cái đĩa to, đem xuống cho gia đình Soubirous. Vừa trông thấy chị Sajou đứng ở ngưỡng cửa, tay bê đĩa thưc ăn, bà Louise giật mình sửng sốt, buông tay làm rơi chiếc muỗng gỗ xuống sàn. Bà đang nấu nồi cháo lỏng. "Kìa chị Sajou, đúng là Đức Mẹ dẫn chị tới đây. Suốt ngày hôm nay em cầu xin Đức Mẹ giúp đỡ gia đình em. Lộn xộn quá, cảm ơn anh chị đã thương chúng em và các cháu".

Rồi lại món quà khác đến. Món quà này là hai tá trứng do gia đình Bouhouhort biếu. Số là Croisine có người bà con ở miền quê lên thăm. Nhớ ơn bà Louse chữa con mình, bà lập tức mang sang Cachôt để biếu đền ơn: "Chị lại cứu sống đứa bé nhà em, chắng có chi trả ơn chị. Chị nhận cho em số trứng này". Nói xong Croisine đặt rổ trứng xuống đất, biến mất không đợi chủ nhà cảm ơn.

Bà Louise nhận số trứng và đếm. Vừa đúng hai tá trứng tươi, có thể tráng kẹp thịt muối. Ngon tuyệt. Bà rơm rớm nước mắt vui mừng, cảm động. Thế là lại được một bữa ăn đúng nghĩa. Con cái đói khát triền miên, nên hoa cả mắt, trông thấy toàn mộng mị. Hôm nay là hết bà đẹp rồi.

Tiếp theo là một sự cải thiện lâu bền hơn: Số là đột nhiên một sứ giả của ông Cazenave gởi đến xuất hiện ngay trước cửa nhà. Hắn đang đứng thẳng như trời trồng, báo tin chủ mình muốn hợp đồng với ông Soubirous chăn ngựa cho cục bưu điện. Và làm tài xế xe ngựa đi trạm Tarbès. Ông Soubirous đứng nghiêm trang suy nghĩ, tính toán hơn thiệt của công việc. Cuối cùng ông nhận lời và nói một cách dứt khoát: "Sáng mai tôi đến nhận việc". Bỗng ông trở nên vui vẻ, khoát vòng tay lớn, nói huyênh hoang: "Thưa quí thân bằng quyến thuộc. Các vị đã đem quà đến đầy nhà, thì xin cùng chúng tôi ăn bữa tối hôm nay cho vui vẻ. Chúng ta làm một cuộc liên hoan mừng các cháu mạnh khỏe. Bà nhà tôi khéo tay đầu bếp. Quí vị sẽ được thưởng thức bữa trứng rán thịt muối tuyệt vời". Mọi người nhao nhao phản đối. Bà Louise ngập ngừng không muốn tiếp tay chồng, bởi vì một buổi chiều mà hoang phí số trứng có thể ăn dè xẻn được ba ngày. Nhưng bà Louise vốn chiều theo ý chồng. Hơn nữa, nhờ một sự may mắn nhỏ, gia đình có cơ hội rũ bỏ số phận lầm than, thất nghiệp triền miên và đứng thẳng như một người tự tin, có phẩm giá và rộng rãi. Tại sao sau bao ngày tháng long đong, cơ hội tốt đã mỉm cười với ông mà ông không được phép làm theo ý? Cho nên thuận theo ý muốn của chồng, bà thân ái mời mọc mọi người. Những người lớn ngồi chặt chung quanh chiếc bàn ăn. Trẻ con chen nhau trên một chiếc ghế phẳng hẹp. Bà Louise đon đả phục vụ - trứng tráng với thịt muối sào, bánh mì xúc xích và cháo hành. Bà Sajou cao hứng đãi mỗi người một ly rượu chát đỏ. Kể cả các cháu nhỏ. Bữa ăn tiến hành vui vẻ như ngày tết.

Ở miền Pyrénées, sau bữa ăn chiều, người ta có thói quen lần hạt để kết thúc một ngày lao động cực nhọc. Không hiểu sao hôm ấy bà Louise lại nhường cho con gái lớn dẫn kinh. Bernadette vâng lời, rút cỗ tràng hạt cô thường dùng và lúc trưa đã dâng cho bà lạ, ra khỏi túi áo. Khi đọc hết mọi kinh, bà Louise nối đuôi thêm: "Lạy Đức Mẹ chẳng mắc tội tổ tông truyền, xin cầu cho chúng con là kẻ năng chạy đến cùng Mẹ". Bà vừa dứt lời, thì mặt mũi Bernadette trắng bệch, cô gái nhỏ trở nên loạng choạng, bất động như khi Maria và Jeanne Abadie xem thấy ở bên bờ suối. Bà Croisine Bouhouhorts sợ hãi kêu lên: "Bernadette xỉu rồi". Bà Sajou đỡ lấy Bernadette nhẹ nhàng hỏi: "Con ốm à?"

- Không, không, không. Con chẳng làm sao cả, Bernadette lăp bắp trả lời. Ngược với ý định, bà Louise sợ hãi, lảm nhảm kể lại câu truyện hồi ban chiều cho mọi người có mặt nghe. Vì Bernadette mà bà nổi giận đánh tất cả bốn đứa trẻ:
- Các chị à, nó nói mình trông thấy một bà rất lạ, còn trẻ, đẹp lắm, vận toàn đồ trắng ở hang Massabielle.

- Thôi tôi xin bà. Ông Francois Soubirous cắt ngang lời vợ. Chẳng may con bé thở không được, rắc rối với hai lá phổi. Đã khám bệnh nơi bác sĩ Dozous. Ông bảo không can hệ gì. Mỗi khi trời lạnh nó lại lên cơn. Bây giờ không khí đang trở nên giá buốt hơn. Điều nó cần là một ống khói lò sưởi tốt hơn. Có vậy thôi.

Ngày 11 tháng 2 kết thúc sớm. Tiếng gáy của gia đình Soubirous đầy ắp gian phòng Cachôt, ông Francois dẫn đầu. Ánh lửa từ lò sưởi thường ném lên các bức tường những hình thù kì dị. Nhưng đêm nay, lần đầu tiên, Bernadette không trông thấy hình nào cả. Chuyện gì đã xảy ra cho cô gái ngây thơ, bé bỏng? Hình như cô gái linh cảm như có một điềm gở. Điềm ấy đè nặng trên ngực, ấm ức như bổn phận phải gánh chịu. Bernadette nhắm nghiền đôi mắt, cố nhớ lại bóng hình bà lạ, nhưng không được, cô chẳng mường tượng ra bà lạ nào cả. Trí óc cô thua đôi mắt trần ban chiều, Bernadette cố gắng ngủ, nhưng mỗi lần chỉ được vài giây. Bà đẹp không đến với cô gái trong giấc ngủ. Đó là điều thiệt thòi lớn. Cô vẫn hằng khao khát trông thấy bà một lần nữa, ít là trong giấc mơ. Bà ta xem ra muốn chứng tỏ mình thật sự làm bằng xương thịt chứù không phải bằng chất liệu mộng mị. Cô gái thổn thức. Maria tỉnh giấc khi rờ vào chỗ ướt trên gối chị. Cô gọi mẹ khe khẽ:
- Má à, Bernadette đang khóc.

Bà Louise loạng choạng ra khỏi giường, chân lê về phía hai con gái đang ngủ: "Con thở không được phải không?" Bernadette dụi mắt, lắc đầu.

- Nếu vậy ngồi lên con, mẹ có điều muốn nói với con. Bà Louise cầm hai khúc gỗ củi ném vào lò sưởi. Ngọn lửa bùng lên, bà kéo chiếc ghế sát gần lò sưởi. Bernadette vùi đầu vào lòng mẹ, đầy nước mắt. Bà Louise vỗ nhẹ lên mái tóc con, rồi bà ghé xuống ngọt ngào nói: "Con sợ cái bà lạ ở hang Massabielle phải không? Bà ta không phải là ma quái đâu. Có người nào tính nhát con mà thôi". Bernadette ngẩng đầu nhìn mẹ, đầy nước mắt. Cô lắc đầu quầy quậy. Lòng bà Louise đau xót vì thương con, bà thầm nghĩ trong lòng: "Người đâu mà ghê gớm vậy, nhát trẻ giữa ban ngày". Bà nhẹ nhàng nói vào tai con: "Cưng ạ, hay là giấc mộng ban ngày. Con gái đang lớn thường như vậy lắm. Dần dần nó sẽ tan đi hết. Đừng nghĩ đến nữa là xong. Con lớn rồi đấy. Hai ba năm nữa có chồng, sinh con đẻ cái như ta vậy".

Bernadette giấu mặt đi, không bày tỏ cảm xúc của mình nữa. Mặc dầu yên ủi con, nhưng bà Louise quyết định chiều mai sẽ đến nhà thờ, vào tòa giải tội và hỏi ý kiến cha phó Pomian, về sự lạ ở hang Massabielle.

Hang Massabielle năm 1858