SỨ MẠNG THÁNH GIUSE TRONG CUỘC ĐỜI CHÚA KITÔ & HỘI THÁNH

III. SUY TƯ THẦN HỌC

Lm Phan Tấn Thành, O.P.

Mục 3. Những kinh nguyện và việc tôn kính

Giáo Hội nhìn nhận tầm quan trọng của Thánh Giuse không chỉ qua những tuyên ngôn, những văn kiện, nhưng nhất là qua những việc tôn kính đạo đức. Trong chương hai, chúng tôi đã nói qua sự phát triển của lòng sùng kính Thánh Giuse trải qua các thế kỷ. Trong mục này, chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử và ý nghĩa của vài hình thức cụ thể, được xếp vào hai loại chính:

  1. Những hình thức phụng vụ, theo lịch phổ quát và địa phương: lễ kính Thánh Giuse ngày 19/3 (bài lễ; kinh tiền tụng và phụng vụ giờ kinh); lễ ngoại lịch kính Thánh Giuse; lễ Thánh gia; lễ Thánh Giuse lao động; lễ kính cuộc kết hôn; lễ kính Thánh Giuse bảo trợ Hội Thánh; tưởng nhớ việc trốn sang Ai-cập.
  2. Những việc đạo đức dân gian:
    • a) các kinh nguyện: kinh cầu Thánh Giuse; bảy sự vui buồn;
    • b) các thời điểm: thứ Tư hàng tuần, tháng 3 dương lịch.

I. Phụng vụ

 Trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu những lễ được ghi trong lịch phụng vụ phổ quát, sau đó là những lễ của vài địa phương, hoặc đã thuộc về quá khứ.

A. Ngày lễ chính: 19 tháng Ba

Như đã nói trong chương 2, bên Đông phương, nghi điển Byzantin kính nhớ Thánh Giuse chung với các thánh tổ phụ vào mùa Giáng Sinh; riêng nghi điển Coptô (bên Ai cập) mừng vào ngày 26 tháng Abib. Bên Tây phương ngày lễ chính được cử hành vào ngày 19 tháng ba, với một tiến trình lịch sử kéo dài nhiều thế kỷ.

Lần đầu tiên tên Thánh Giuse được nhắc đến vào ngày 19/3 là một cuốn “Tử đạo thư” (martyrologium: nêu danh tánh của các thánh nhân dịp kỷ niệm ngày qua đời của các đấng) thế kỷ VIII của một đan viện Biển-đức ở Rheinau (thuộc tổng Zurigô, Thụy sĩ). Vào thế kỷ IX, một đan viện khác cũng thuộc dòng Biển-đức ở Reichenau (miền nam nước Đức) tưởng nhớ người vào ngày 19/3, và cũng có thể là nơi xuất phát phong trào phổ biến lòng tôn kính thánh nhân. “Tử đạo thư” thế kỷ X của Fulda đã đặt tiêu đề ngày 19/3 là: “Tại Bêlem, Thánh Giuse, Đấng dưỡng nuôi Chúa” (In Bethleem, sancti Joseph, nutritoris Domini).

Người ta không rõ nguồn gốc mối liên hệ giữa ngày 19/3 với Thánh Giuse. Một giả thuyết cho rằng trước kia đã có lễ Thánh Giuse Antiokia vào ngày 20/3 trong nhiều “tử đạo thư”. Có thể do sự trùng tên cho nên lịch đã ghi Thánh Giuse hôn phu của Đức Maria vào cùng ngày hoặc vào ngày hôm trước. Một giả thuyết nữa cho rằng thời xưa tại Rôma, ngày 19/3 là lễ của các người thợ tôn kính nữ thần Minerva; vì thế nó được thay thế bằng lễ kính Thánh Giuse là một người thợ xem ra dễ hiểu. Tiếc rằng chưa có đủ bằng chứng lịch sử về lễ kính Thánh Giuse thợ vào các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Dù nguồn gốc như thế nào đi nữa, việc mừng lễ Thánh Giuse vào ngày 19/3 đã được thành hình từ đầu thiên niên kỷ thứ hai.

Vào khoảng năm 1030, một đan viện dòng Biển-đức tại Winchester đã cử hành lễ Thánh Giuse. Cũng trong thế kỷ này, dòng Cát-minh từ thánh địa trở về châu Âu đã góp phần vào việc quảng bá lòng sùng kính.

Vào năm 1129 các đan sĩ Biển-đức thuộc đan viện Thánh Hêlena đã cất một nhà thờ dâng kính Thánh Giuse ở Borgo Galliera (thành phố Bologna, Italia). Có thể nói được đây là trung tâm phổ biến lòng sùng kính thánh nhân sang các nơi khác. Cũng tại nơi đây, tên Thánh Giuse, vốn đã trở thành quen thuộc bên Đông phương, bắt đầu được đặt cho các trẻ em khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Có lẽ lòng đạo đức sơ khởi kính Thánh Giuse trong dòng Phan-sinh bắt nguồn do ảnh hưởng của cuộc tiếp xúc với Bologna.

Sang thế kỷ XIII, chúng ta tìm thấy những bản văn được soạn để mừng lễ. Tại Liège có môït lời nguyện riêng cho Thánh Giuse. Đan viện Biển-đức Thánh Lorensô tại thành phố đó đã có toàn bộ kinh nguyện, với cung hát, để tôn kính người. Đan viện Thánh Florianô ở nước Áo có một quyển sách lễ với một bài lễ kính Thánh Giuse, và một bài lễ khác kêu cầu những công nghiệp của người “chống lại sự phỉ báng của phường tội lỗi”.

Trong thế kỷ XIII, các tu sĩ dòng Phan-sinh đã tự động mừng lễ Thánh Giuse, và một “tử đạo thư” đã xếp ngày 19/3 như là ngày lễ duplex maior trong khi một quyển trước đó chỉ mừng với cấp duplex minor. Tại Pháp, nhà thờ Phan-sinh ở Toulouse có một nhà nguyện tôn kính Thánh Giuse từ năm 1222, và vào ngày 7/7/1275 một nhà thờ kế cận tu viện Phan-sinh ở Bourbonnais miền Champagne đã được cung hiến long trọng với thánh hiệu này.

Những cuộc thập tự chinh cũng là cơ hội để mang những di tích thánh từ thánh địa về châu Âu, ví dụ như cây gậy của Thánh Giuse, và chiếc nhẫn đính hôn người trao tặng Đức Maria.Vào năm 1254, một nhà nguyện được xây cất trong nhà thờ Thánh Lôrensô ở Joinville-sur-Marne (Pháp) để tôn kính dây thắt lưng và nơi đây đã trở thành trung tâm hành hương. Có lẽ tại những nhà nguyện được cất lên để tôn kính Thánh Giuse, lễ mừng kính người được cử hành vào tháng ba.

Vào ngày 1/5/1324, dòng Tôi Tớ Đức Mẹ trở thành dòng tiên khởi tuyên bố tại tổng hội rằng các thành viên của dòng phải cử hành trong tất cả nhà thờ của họ lễ Thánh Giuse được ấn định mừng vào ngày 15/3. Các tu sĩ dòng Tôi Tớ Đức Mẹ đã làm chủ nhà thờ Thánh Giuse ở Bologna kể từ năm 1301, và họ đã phổ biến việc cử hành lễ này. Tổng hội dòng Phan sinh vào năm 1399 cũng đã thiết lập lễ Thánh Giuse với chín bài đọc trong giờ kinh phụng vụ và một Thánh lễ sử dụng phần chung của các thánh “hiển tu” (Commune confessorum), đồng thời quyết định rằng lễ này phải được cử hành vĩnh viễn trong toàn Dòng. Tuy nhiên, không rõ các quyết nghị này có ảnh hưởng đến đâu.

Tại Agrigento (nam Italia), nơi có các tu viện của dòng Phan-sinh, Đa-minh, Cát-minh, vào thế kỷ XIV đã lưu hành “Kinh nguyện kính thánh cả Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Officium Santissimi Joseph nutricii et patris adoptivi Domini nostri Jesu Christi). Trong phần điệp ca của kinh Magnificat, người được gọi là “dòng dõi ưu tuyển của Bêlem, được giải thoát khỏi mọi vết nhơ tội lỗi” (O proles almifica de Bethleem electa, gemma nimis ardua, ab omni labe erepta).

Những chi tiết vừa rồi nhằm trình bày nguồn gốc của việc mừng kính lễ trong tháng Ba cùng với việc phát triển ở phương Tây. Sang thế kỷ XV, ngày lễ mới bắt đầu được phổ biến hơn. Tại công đồng Constance (1414-1418) các nghị phụ đã nghe Cha Jean Gerson thuyết minh về lời bầu cử đầy quyền năng của Thánh Giuse, Đấng đã sai khiến hài nhi Giêsu và Đấng có thể được kêu cầu cách hiệu nghiệm để chấm dứt nạn ly giáo đang gây đau khổ cho Hội Thánh. Cha Gerson đã xin công đồng xem xét và phong ban cho Thánh Giuse một danh dự lớn lao hơn. Tuy nhiên, xem ra ảnh hưởng của dòng Phan-sinh trong thế kỷ này mới thực là nhân tố chính cho việc bành trướng ngày lễ.

Các tu sĩ dòng Phan-sinh như Thánh Bernardinô Siena (+1414) không chỉ giảng về Thánh Giuse mà còn phân phát lược đồ các bài giảng nữa. Tu sĩ Bernardinô Feltre đã thiết lập ở khắp nước Ý những quỹ tín dụng (cho vay không lãi) mang tên là “những ngọn núi đạo đức” (Monte di pietà) đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse. Năm 1461 ở Salamanca, tổng hội dòng Phan-sinh (nhánh nhiệm nhặt) đã ấn định ngày lễ vào 19/3. Năm 1471, một người bạn của Cha Bernardinô Feltre và là nguyên Bề trên tồng quyền của dòng Phan sinh đắc cử giáo hoàng, đó là đức Sixtô IV. Vào tháng mười một năm 1480, người cho phép dòng Phan-sinh được cử hành mừng lễ bậc duplex maior ngang hàng với các lễ Hiển Linh, Truyền Tin, và Phục Sinh. Mặc dầu là đặc ân được ban cấp cho một dòng tu, nhưng sự phê chuẩn công khai của đức thánh cha đã mở đường cho việc bành trướng lễ rộng rãi hơn. Nhiều ấn bản của Sách lễ Roma và Sách nguyện, chẳng hạn như những quyển do tu sĩ Philipphê Rotingo ở Venise xuất bản năm 1481, đã sắp xếp ngày lễ với bậc duplex maior với bài đọc riêng. Người ta cho rằng đức Sixtô IV đã mở rộng lễ này ra khắp Hội Thánh với cấp simplex, mặc dầu chưa có tính cách bó buộc. Một ấn bản Sách lễ Roma tại Venise do Giovanni Sessa in vào năm 1497 đăng lịch của dòng Phan-sinh với ngày lễ này và những bản văn riêng mà Sách Lễ của đức Piô V sẽ sử dụng.

Qua thế kỷ XVI, người ta thấy sự bành trướng của việc cử hành lễ 19/3 trong các giáo phận và các dòng tu, với việc ghi tên trong các lịch phụng vụ cùng với việc xuất bản những bản văn dùng trong các Sách lễ và Sách nguyện. Việc cải tổ Phụng vụ sau công đồng Trentô đã thiết lập sự thống nhất các sách phụng vụ trong toàn thể nghi lễ Latinh. Khi đức Piô V cho xuất bản Sách nguyện (năm 1568) và Sách lễ Roma (năm 1570), ngày 19/3 được dành kính “Thánh Giuse hiển tu” ở bậc duplex. Nói chung, những lời nguyện được trích từ bài lễ của các vị thánh khác (Thánh Matthêu và Thánh Tôma). Tuy nhiên, trong thế kỷ này, nhiều thánh thi và lời nguyện được sáng tác và sử dụng trong các lịch riêng, kể cả sau cuộc canh tân của đức Piô V.

Theo lời yêu cầu của nhiều quốc gia và đoàn thể , đức Grêgôriô XV tuyên bố lễ Thánh Giuse là ngày lễ buộc trong toàn thể Giáo Hội (ngày 8/5/1621). Ngày 6/12/1670, đức Clêmentê X nâng lên bậc duplex secundae classis, và soạn ba bài thánh thi cho giờ kinh phụng vụ (kinh Chiều: Te Ioseph celebrent; kinh Sách: Caelitum, Ioseph, decus; kinh Sáng: Iste, quem laeti).

Ngày 4/2/1714, đức Clêmentê XI phê chuẩn những bản văn riêng cho ngày lễ 19/3, bao gồm những thánh thi đã được đức Clêmentê X chứng nhận. Ngày 8/12/1870 đức Piô IX công bố Thánh Giuse là bảo trợ của Hội Thánh và nâng lễ Thánh Giuse lên bậc duplex primae classsis.

Trong thông điệp Quamquam Pluries năm 1889, đức Lêô XIII ước muốn rằng tại những nơi nào mà ngày 19/3 không phải là lễ buộc thì cũng nên được tuân giữ với lòng đạo đức và lòng nhiệt thành như ngày lễ buộc.

Năm 1911 đức Piô X dời ngày lễ vào Chúa nhật sau ngày 18/3 như để giảm bớt số lượng ngày lễ buộc trong tuần. Tuy nhiên, chỉ sau ba tuần lễ, do những cuộc tranh luận về phụng vụ mùa Chay, lễ Thánh Giuse được mừng trở lại vào ngày 19/3 ở bậc duplex primae classsis, nhưng không phải là lễ buộc, với tiêu đề mới “Lễ Trọng Kính Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria, Hiển Tu” (Commemoratio Sollemnis S.Ioseph, Sponsi B.M.V. Confessoris). Với việc cải tổ phụng vụ năm 1913, ngày lễ được giảm xuống bậc duplex secundae classis.

Khi đức Bênêđitô XV ban hành bộ Giáo luật năm 1917, điều khoản 1247 một lần nữa ấn định lễ Thánh Giuse là ngày lễ buộc trong toàn thể Hội Thánh. Hậu quả là vài tháng sau, lễ phụng vụ được nâng lên bậc duplex primae classsis. Trong bộ Giáo luật 1983, lễ Thánh Giuse là một trong mười ngày lễ buộc của Hội Thánh hoàn vũ, tuy hội đồng giám mục địa phương có thể xin loại bỏ các ngày đó.

Năm 1956 một quyết định quan trọng theo sau việc thiết lập lễ Thánh Giuse Lao Động là huỷ bỏ lễ Thánh Giuse Bảo Trợ được cử hành vào ngày thứ Tư trong tuần thứ ba sau lễ Phục Sinh. Sắc lệnh này đã nối kết tiêu đề của lễ trọng này: “Bảo trợ Hội Thánh hoàn vũ” vào ngày lễ chính của Thánh Giuse 19/3.

Năm 1969 trong lịch phụng vụ canh tân do đức Phaolô VI ban hành, ngày 19/3 được xếp vào hàng lễ trọng và mang tiêu đề “Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria” (S.Ioseph, Sponsi B.M.V.). Với sự thay đổi này, không chỉ ngày lễ mà cả tiêu đề “bảo trợ Hội Thánh hoàn vũ” cũng bị loại bỏ.

1/ Thánh lễ ngày 19/3

Sách Bài đọc ban hành năm 1969 ấn định ba bài đọc như sau: 2 Sm 7,4.12-14a.16 (đức Mêsia dòng dõi vua Đavit); Rm 4,13.16-18.22 (gương mẫu đức tin); Mt 1,16,18-21.24 hay Lc 2,41-51a.

Sách lễ Roma ban hành năm 1970 có những lời nguyện mới về Thánh Giuse trong thánh lễ, đề cao vai trò của người trong nhiệm cục cứu độ và về niềm vui của Hội Thánh có Thánh Giuse là mẫu gương và đấng bầu cử. Những bản văn hiện tại chú trọng đến Thánh Giuse trong tương quan với Đức Kitô và với Hội Thánh:

  • đối với Đức Kitô, Thánh Giuse “đã hết lòng phục vụ Đức Kitô, Con Một Chúa”. “Chúa đã giao phó Con Một Chúa chăm sóc giữ gìn như người cha lo cho con cái”.
  • đối với Hội Thánh, Thánh Giuse là vị bảo trợ “được thánh nhân phù trợ ở dưới thế gian này thì cũng được cầu thay nguyện giúp trước toà Chúa”; đồng thời người cũng là mẫu gương cho Hội Thánh trong việc “cộng tác với Đức Giêsu để hoàn tất công trình Người đã khởi đầu”, biết “phục vụ hy sinh suốt đời như người tôi trung”.

Kinh Tiền Tụng duy trì bản văn được đức Bênêđitô XV châu phê ngày 9/4/1919, tóm tắt những điều chính yếu của Tin Mừng về vai trò thánh Giuse “người công chính, kết bạn với Đức trinh nữ Mẹ Chúa Trời ... tôi tớ trung tín và khôn ngoan được trao phó coi sóc Thánh gia”, để thay quyền Chúa Cha “gìn giữ Đức Giêsu Kitô, Con Một Chúa Nhập Thể bởi quyền năng Thánh Thần”.

2/ Phụng vụ các giờ kinh

Khi bàn về lịch sử lễ kính Thánh Giuse, chúng ta đã đề cập đến sự phát triển của Sách nguyện về lễ này. Vào thế kỷ XIII, một đan viện dòng Biển-đức ở Liège đã có một bài nguyện riêng, và vào năm 1399, các tu sĩ dòng Phan-sinh đã đọc các giờ kinh với chín bài đọc. Đức Sixtô IV (1471-1484) thuộc dòng Phan-sinh đã đưa các bản văn này vào Sách nguyện Roma. Nhiều sách nguyện khác có kinh phụng vụ kính Thánh Giuse vào thế kỷ XVI. Sau công đồng Trentô, những bản văn được thống nhất dưới thời đức Piô V (1566-1572) nhưng bản văn đầy đủ hơn được đức Clêmentê XI công bố ngày 4/2/1714 mà người ta nói do chính người soạn ra. Những bản văn này không thay đổi trong hai thế kỷ rưỡi, cho đến khi duyệt lại sách phụng vụ giờ kinh năm 1971 bao gồm những bản văn mới cho ngày lễ 19/3, lễ Thánh Gia, lễ Thánh Giuse Lao Động.

3/ Lễ ngoại lịch kính Thánh Giuse

Lễ ngoại lịch kính Thánh Giuse bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XIII, và được đưa vào nhiều Sách lễ xuất bản vào thế kỷ XVI như ở Orleans, Paris, Strasbourg, Salzburg, Chalon va Reims.

Sắc lệnh năm 1883 cho phép các công nghị giáo phận và các cộng đoàn tu trì sáng tác các kinh nguyện ngoại lịch và ấn định những lễ ngoại lịch vào các ngày khác nhau trong tuần, riêng ngày thứ Tư là: “Thánh Giuse, bạn của đức Trinh Nữ Maria, bảo trợ của Hội Thánh Công giáo”. Tiêu đề này xuất hiện ở phần “Lễ nhớ ngoại lịch quanh năm” trong Sách lễ Roma được xuất bản dưới thời đức Lêô XIII, nhưng trong ấn bản của đức Bênêđitô XV, tiêu đề chỉ còn giữ lại “Lễ Thánh Giuse” mặc dầu các bản văn không thay đổi. Thỉnh thoảng giáo quyền ban phép cho một vài hội dòng được cử hành lễ nhớ ngoại lịch vào những dịp không bị ngăn trở bởi lịch phụng vụ.

Trong Sách lễ Roma năm 1970, các thánh lễ ngoại lịch không còn gắn với ngày nào đặc biệt trong tuần nữa, nhưng được xếp theo thứ tự hệ thống cấp bậc: bắt đầu với lễ Chúa Ba Ngôi, Đức Maria ở vị trí thứ tám, các thiên thần ở vị thế thứ chín, Thánh Giuse được xếp vào hàng thứ mười, trước các tông đồ.

Ca nhập lễ trích từ Lc 12,42 và ca hiệp lễ lấy từ Mt 25,21 nhằm trình bày Thánh Giuse như mẫu người đầy tớ trung tín mà Đức Kitô nói đến. Lời tổng nguyện của bản văn cũ vẫn duy trì, trong khi lời nguyện trên lễ vật và lời nguyện hiệp lễ là những bản văn mới, xin vì mẫu gương và lời chuyển cầu của Thánh Giuse, người công chính và vâng phục cùng là thừa tác của các mầu nhiệm cứu độ giúp chúng ta sống thánh thiện và công chính trong tác vụ của mình.