SỨ MẠNG THÁNH GIUSE TRONG CUỘC ĐỜI CHÚA KITÔ & HỘI THÁNH

II. THÁNH GIUSE TRONG TRUYỀN THỐNG HỘI THÁNH

Lm Phan Tấn Thành, O.P.

Mục 2. Sự tiến triển thần học và phụng vụ

Tân Ước để lại cho chúng ta bức chân dung của Thánh Giuse âm thầm phục vụ Chúa Giêsu, chứ không nói một lời nào (khác với Đức Maria, mà các thánh sử còn ghi được 6 câu nói). Thánh Giuse trở thành biểu tượng cho sự thinh lặng. Sự thinh lặng này bao trùm cuộc đời của người lúc sinh tiền và sau khi qua đời. Thực vậy, Thánh Giuse đã bị rơi vào quên lãng, và mãi vào thời cận đại mới xuất hiện trong thần học và phụng vụ. Chúng ta sẽ theo dõi sự tiến triển về tâm thức của Giáo Hội trong thần học và phụng vụ trải qua thời các giáo phụ, trung đại và cận đại. Nên lưu ý là khi nói đến các tác phẩm thần học về Thánh Giuse, chúng ta nên phân biệt nhiều cấp độ và hình thức: các giáo phụ đã nói đến Thánh Giuse trong các bài giảng hoặc chú giải Tin Mừng; nhưng phải chờ đến thời cận đại mới thấy xuất hiện những khảo luận thần học hệ thống mạch lạc. Một cách tương tự như vậy, khi nói đến phụng vụ, chúng tôi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các hình thức tôn kính công cũng như tư.

I. Thời các giáo phụ

A. Thần học

Không thể phủ nhận sự kiện nhiều giáo phụ đã trưng dẫn các tài liệu ngụy thư vừa kể trong các bài giảng về Thánh Giuse. Tuy nhiên, nhiều vị khác cố gắng đào sâu khía cạnh thần học dựa trên các bản văn Kinh Thánh. Chúng ta có thể ghi nhận vài tác giả sau đây:

Trong các tác phẩm chống lại phái ngộ đạo, Thánh Irênê đã viết rằng: “cũng như Thánh Giuse đã chu toàn bổn phận vào việc dưỡng dục Chúa Kitô và săn sóc Đức Maria thì người cũng là kẻ giữ gìn và bảo vệ Hội Thánh, mà Đức Maria là hình ảnh” (Adv. Haereses IV,23.

Ông Origène (+255?) đề cao sứ mạng đặc biệt của Thánh Giuse như là kẻ được chọn để thu xếp việc giáng trần của Chúa (Hom. XIII in Lucam: PG 13,1832). Ông cũng cho rằng việc ghi tên Chúa Giêsu vào sổ kiểm tra dân số của hoàng đế Rôma mang một ý nghĩa nhiệm mầu: Chúa Giêsu muốn được kể vào số phần tử nhân loại.

Thánh Ephrem (+373) định nghĩa Thánh Giuse là “thừa tác viên của nhiệm cục nhập thể” (Commento al Diatesseron, I, 26).

Thánh Ambrôsiô (+397) khẳng định rằng sự kết hiệp giữa Đức Maria và Thánh Giuse là một giá thú thực sự chiếu theo luật Rôma, bởi vì hôn nhân hệ tại giao ước chứ không phải sự giao hợp (De institutione virginis, 6, 41: PL 16, 316). Đồng thời thánh nhân cũng khẳng định đức khiết tịnh của Thánh Giuse, bởi vì người phải trở nên chứng nhân cho đức trinh khiết của Đức Maria (Exp. Ev. Luc 2, : PL 5, 55).

Thánh Gioan Kim Khẩu (+407) tuyên bố rằng kể từ lúc đón nhận Đức Maria về nhà, Thánh Giuse trở thành “thừa tác viên của nhiệm cục” (totius dispensationis minister In Matthaeum, 5,3: PG 57, 57-58).

Thánh Hiêrônimô (+419-420) là người đầu tiên chống lại các lưu truyền của các nguỵ thư, coi như chuyện điên rồ (In evang. Matt., II,12,49-50: PL 26,88). Ông quả quyết rằng “kẻ đáng được gọi là thân phụ của Chúa thì trót đời giữ mình trinh khiết” (Adversus Helvidium, 19: PL 23,213).

Thánh Augustinô (+430) cho rằng chân lý đức tin về Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và thuộc dòng dõi Đavit gắn liền với chân lý về hôn nhân thực thụ của Thánh Giuse với Đức Maria. Vì thế trong nhiều tác phẩm, Thánh Augustinô đã cố gắng chứng minh rằng: Thánh Giuse là kẻ trinh khiết; hôn nhân với Đức Maria là giá thú thực sự; Thánh Giuse là thân phụ của Chúa Giêsu một cách độc đáo. Thánh Giuse là chồng của Đức Maria không phải vì ăn nằm nhưng do tình yêu (non concubitu, sed affectu), không phải vì giao hợp thân xác nhưng là kết hợp tinh thần (copulatione animorum): Contra Faustum 23,8: PL 42,470: cf. Contra Iulianum, 5,12: PL 44,810. Hôn nhân của Thánh Giuse và Đức Maria hội đủ ba điều kiện: con cái, chung thuỷ, bí tích (bonum prolis, fidei, sacramenti): con là Đức Giêsu; chung thuỷ bởi vì không có ngoại tình; bí tích bởi vì không có ly dị (De nuptiis et concupiscentia 1,11,13: PL 44,421). Thánh Augustinô cũng nêu bật đức ái (caritas coniugalis) trong mối tương quan giữa hai vị thánh này.

Thánh Phêrô Kim Ngôn (+450) coi hôn nhân của Đức Maria với Thánh Giuse như là sự thành tựu của những đôi hôn nhân lý tưởng mà Cựu Ước đề cao, và đồng thời tiên báo cho đôi hôn nhân huyền nhiệm của Chúa Kitô với Hội Thánh (Sermo 146: PL 52,592). Thánh Giuse hôn phu của Đức Maria cũng là hình ảnh của giám mục hôn phu của Giáo Hội trinh khiết và phong phú (Sermo 175: PL 52,657-658).

Thánh Maximô giám mục Torinô khẳng định rằng Thánh Giuse không phải là một cụ già như tục truyền (Sermo 53: PL 57,639).

B. Phụng vụ

Thời các giáo phụ cũng trùng với giai đoạn tiến triển phụng vụ Kitô giáo, cách riêng từ thế kỷ IV, với sự thành hình các chu kỳ năm phụng vụ (mùa Phục sinh và mùa Giáng sinh) cũng như các nghi điển. Đối với việc tôn kính các thánh, sau các thánh tông đồ và tử đạo, đến lượt các thánh giám mục và tu hành cũng được kính nhớ. Đối với Đức Maria, lòng sùng kính được phát triển từ sau khi công đồng Êphêsô tuyên bố tín điều “Thiên Mẫu” (năm 451).

Thánh Giuse xuất hiện trong những bức tranh mô tả cảnh Chúa Giáng sinh, chứ chưa được kính riêng biệt. Một vài nhà khảo cổ cho rằng nguỵ thư “Sự ly trần của Thánh Giuse thợ mộc” giả thiết một cuộc tưởng niệm ngày qua đời, được lịch giáo hội coptô bên Ai cập mừng vào ngày 26 tháng Abib (tương đương với ngày 20 tháng 7 lịch Giulianô và ngày 2 tháng 8 theo dương lịch hiện nay). Tuy nhiên, khó xác định từ hồi nào lễ này được cử hành.