SỨ MẠNG THÁNH GIUSE TRONG CUỘC ĐỜI CHÚA KITÔ & HỘI THÁNH

I. THÁNH GIUSE TRONG KINH THÁNH

Lm Phan Tấn Thành, O.P.

Mục 3. Tin Mừng Thánh Marcô và Thánh Gioan

Trong Tân Ước, chỉ có hai cuốn Tin Mừng Thánh Matthêu và Luca cung cấp nhiều dữ kiện hơn cả về Thánh Giuse. Hai cuốn Tin Mừng kia thì sao?

I. Tin Mừng Thánh Marcô

Theo ý kiến các học giả, đây là cuốn Tin Mừng ra đời sớm nhất, và mở đầu với sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Tin Mừng Marcô không đề cập đến thời thơ ấu của Đức Giêsu, vì thế không nhắc đến Thánh Giuse.

Tuy nhiên, cũng có hai chi tiết đáng để ý:

  1. Thánh sử Marcô đã 5 lần gắn liền “Nazareth” với thân thế của Đức Giêsu: Nazareth không những ám chỉ nguyên quán (1,9; 14,67) mà còn trở thành biệt hiệu của Người (1,24; 10,47; 16,6).
  2. Thánh sử Marcô là người duy nhất cho biết Đức Giêsu làm nghề “thợ mộc” (Mc 6,3).

Cả hai chi tiết này đều gián tiếp nói lên mối liên hệ với Thánh Giuse: “cha nào con nấy”. Tuy nhiên, dưới một phương diện khác, liền sau khi nói đến “Đức Giêsu là thợ mộc”, thánh sử thêm rằng “con bà Maria” (6,3). Lối nói này hơi ngược đời, bởi vì tục lệ thường gắn con với người cha chứ không gắn với bà mẹ (thí dụ như: Simon con ông Gioan). Phải chăng bởi vì thánh sử muốn nêu bật việc sinh hạ khác thường của Đức Giêsu?

II. Tin Mừng Thánh Gioan

Tin Mừng Thánh Gioan chú trọng đến Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa” hơn là “con của ông Ađam”. Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa, hiện hữu từ muôn thuở, đã đến cắm lều ở giữa loài người (Ga 1,1.14).

Trong tác phẩm này, tên ông Giuse được nhắc đến hai lần:

  1. Vào lúc Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ và thâu nhận môn đệ, ông Philipphê mô tả thân thế của Người như sau: “Chúng tôi đã gặp ông Giêsu Nazareth, con ông Giuse” (1,45). Đây không phải là một chức tước danh giá gì, bởi vì ông Nathanael vặn lại: “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được”. Ông Philipphê ôn tồn mời anh bạn: “Đến mà xem”. Qua cuộc đối đáp này, ta có thể ghi nhận rằng người đương thời khinh rẻ làng Nazareth. Đàng sau não trạng dân gian này, có lẽ còn có một quan điểm thần học nữa, đó là dân Do Thái không thể nào chấp nhận Đức Giêsu là đấng Cứu thế, bởi vì vị này được tiên báo như là con vua Đavit, xuất thân từ Bêlem miền Giuđê (xc. 7,43-44: “Đức Kitô mà lại xuất thân từ Galilê sao? Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Đavit và từ Bêlem, làng của vua Đavit sao?” )
  2. Điều này càng rõ hơn nữa khi Đức Giêsu tự xưng là “Bánh từ trời xuống”. Người nghe liền xầm xì: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” (Ga 6,42).

Hai trường hợp nhắc đến Đức Giêsu như là “con ông Giuse” đều nằm trong bối cảnh người Do Thái đặt vấn nạn về thiên tính của Đức Giêsu. Xem ra Thánh Gioan muốn đối chọi giữa hai cái nhìn về nguồn gốc của Đức Giêsu: người đời chỉ có thể biết được nguồn gốc nhân tính của Người như là con ông Giuse và xuất thân từ Nazareth; cần phải có ơn trên thì mới nhận ra Người từ trời xuống (Ga 6,44; 7,28-29). Sự thay đổi viễn tượng có thể nhận thấy nơi Nathanael. Vào lúc đầu, ông tỏ ra thái độ ngờ vực cách tự nhiên: “Từ Nazareth, có cái gì hay được?” (Ga 1,46); nhưng sau khi đã gặp gỡ Đức Giêsu, ông thốt lên: “Thầy là Con Thiên Chúa, là Vua Israel” (Ga 1,49).

Mục 4. Những hình ảnh trong Cựu Ước

Lẽ ra mục “Thánh Giuse trong Cựu Ước” phải đi trước mục “Thánh Giuse trong Tân Ước”, nhưng đó là nói theo thứ tự thời gian chứ không theo ý nghĩa của lịch sử cứu độ. Thật vậy, phải chờ sự giải thích của Chúa Giêsu Phục sinh, các môn đệ mới hiểu được những đoạn văn nào trong Cựu Ước nói về đấng Kitô (xc. Lc 24,27), cách riêng những đoạn nói đến người Đầy tớ đau khổ (xc. Cv 8,34) chứ không riêng gì những đoạn nói về đấng Mêsia ngự trên ngai Đavit.

Một đặc trưng của Tin Mừng Thánh Matthêu là việc sử dụng thuật ngữ “ngõ hầu ứng nghiệm lời ngôn sứ đã nói” (hoặc: để kiện toàn, hoàn tất, làm trọn, vv). Thuật ngữ này xuất hiện 41 lần trong toàn tác phẩm, và ngay trong hai chương đầu tiên đã gặp thấy 5 lần (1,23; 2,6.15.18.23). Tác giả muốn chứng minh cho các độc giả (người Do Thái) rằng Đức Giêsu thật là Đấng Mêsia mà Thiên Chúa hứa sẽ sai đến để cứu dân tộc. Người không chỉ là con cháu vua Đavit mà thôi, nhưng còn giữ vai trò ngang với ông Môsê nữa. Điều này được khẳng định trong bài giảng trên núi: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Một cách gián tiếp, sự kiện toàn được bày tỏ qua các phản đề tiếp đó: “Anh em đã nghe luật xưa rằng ... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết...” (Mt 5,21.27.31.33.38.43).

Dựa trên nguyên tắc đó, Giáo Hội tiên khởi cũng lục lọi trong Cựu Ước những đoạn văn có thể áp dụng cho Hội Thánh (chẳng hạn: giao ước, Dân Chúa, đoàn chiên, đền thánh, vv), cho Đức Maria (bà Eva, thiếu nữ Sion, vv). Một cách tương tự như vậy, các giáo phụ cũng cố gắng đi tìm những đoạn văn Cựu Ước có thể áp dụng cho Thánh Giuse. Tuy có nhiều đường hướng đã được sử dụng (thí dụ những mẫu “người công chính” trong Cựu Ước), nhưng chúng tôi chỉ giới hạn vào một nhân vật cụ thể do chính Thánh Matthêu gợi lên, đó là tổ phụ Giuse. Có nhiều điểm tương đồng giữa tổ phụ Giuse trong Cựu Ước và Thánh Giuse.

  • Xét về tên gọi, Giuse theo nguyên ngữ có nghĩa “Thiên Chúa đã tăng thêm” (St 30,22-24). Thân sinh của cả hai người đều mang tên là Giacop (Mt 1,16). Xem ra Matthêu cũng muốn nhắc đến tên gọi của thân mẫu nữa khi trưng dẫn bà Rachel trong cảnh tàn sát các anh hài (1,18; xc St 30,22-24).
  • Một điểm tương đồng khá nổi bật là: cả hai người đã nhận được mặc khải qua giấc mộng. Tổ phụ Giuse đã nhận được giấc mộng báo trước sự nghiệp của mình (St 37,5-9 = 42,6-9) và ông cũng giải thích giấc mộng của người khác (St 41,12.16.25). Cả hai đã nắm bắt được ý định của Chúa qua giấc mộng.
  • - Lánh nạn qua Ai-cập. Tổ phụ Giuse bị các anh mưu toan ám hại, và nếm cảnh lưu vong bên Ai-cập (St 37,18-20.28). Thánh Giuse đưa thánh gia sang Ai-cập để tránh cuộc tàn sát của vua Hêrôđê (Mt 2,13.16).
  • Dính líu tới nhà vua. Thánh Giuse đưa thánh gia sang Ai-cập vì vua Hêrôđê sợ tiếm vị, và phải chờ đến lúc nhà vua băng hà thì mới trở về quê hương. Tổ phụ Giuse tuy được lòng vua Pharaô, nhưng ông biết trước rằng khi nhà vua này qua đời thì dân Israel sẽ bị áp bức và buộc phải rời bỏ Ai-cập (Xh 1,8; 13,18-19).
  • Con người liêm khiết. Tổ phụ Giuse là người ngay chính, không chiều theo lời dụ dỗ phạm tội (St 39,7-20). Thánh Giuse là người công chính và không muốn xúc phạm đến Đức Maria.
  • Trách nhiệm. Tổ phụ Giuse được giao phó nhiều chức vụ quan trọng: quản lý ở nhà quan Potiphar (St 39,4), quản đốc trại giam (St 39,22), quản đốc hoàng gia Pharaô và quản trị toàn xứ Ai-cập (St 41,41-45). Thánh Giuse chịu trách nhiệm trông coi thánh gia tại Bêlem, Ai-cập, Nazareth.

Vào thời cận đại, nhiều vị giáo hoàng thường đối chiếu Thánh Giuse với tổ phụ Giuse, cách riêng khi nói đến vai trò bảo trợ Giáo Hội. Thế lực bầu cử của người dựa theo câu nói của vua Pharaô “Ite ad Joseph” (Hãy đến cùng Giuse: St 41,55), đã được sử dụng từ Thánh Bênađô (Homilia II Super missus est, PL 183, 69-70).

Kết luận

Trong chương này chúng tôi chỉ giới hạn vào việc tìm hiểu ý nghĩa những đoạn văn Tân Ước nói về Thánh Giuse. Trong những chương kế tiếp, chúng ta sẽ thấy tầm áp dụng của những đoạn văn đó để hiểu biết sứ mạng của người cũng như mẫu gương cho các môn đệ Chúa Kitô. Một cách cụ thể, chúng ta sẽ thấy rằng tông huấn Redemptoris Custos của đức thánh cha Gioan Phaolô II sẽ dựa trên những đoạn văn Tân Ước vừa nói tựa như những “mầu nhiệm kinh Mân côi” để chiêm ngắm vai trò của Thánh Giuse trong sứ mạng cứu độ của Chúa Kitô.

  • Thánh nhân trở nên “môi giới” để Đức Giêsu trở thành “Con vua Đavit” hoàn tất những lời hứa về Đấng Mêsia.
  • Thánh nhân đã “đặt tên” cho hài nhi là Giêsu, trình báo cho nhân loại biết Người là Đấng cứu tinh nhân loại, là Em-ma-nu-en.
  • Thánh nhân đã “đăng ký” Đức Giêsu vào sổ kiểm tra của hoàng đế Rôma, để chứng thực Người là thành phần của thế giới nhân loại.
  • Thánh nhân đã “dâng tiến” Đức Giêsu cho Chúa Cha, báo trước hy tế cứu chuộc trên thập giá.
  • Thánh nhân không những đã bảo vệ hài nhi Giêsu tại Bêlem và Ai-cập, nhưng còn tạo điều kiện để Đức Giêsu trở thành “người Nazareth”, một danh hiệu gắn liền với sự nghiệp của Chúa Cứu thế.
  • Dĩ nhiên, thánh nhân đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục hài nhi Giêsu về nhân bản, đạo hạnh, cũng như nghề nghiệp.

Đó là cơ sở cho danh hiệu Redemptoris Custos (kẻ giữ gìn Đấng Cứu chuộc), Minister salutis (kẻ phục vụ ơn cứu độ) của tông huấn mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong những chương tới.