12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 12

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Hoạch Định Giảng Bằng Miệng Nói

Tôi đã thích thú tra khảo việc dựng dàn khung của một người bạn về bài giảng viết tay của nhà giảng thuyết Charles Haddon Spurgeon. Mọi chi tiết đều được viết xuống bởi nhà giảng thuyết nổi tiếng này. Đây là kế hoạch của ông cho mỗi bài giảng. Nó là kiến trúc ông có trong đầu để đưa ra trên tòa giảng. Thật là một việc công phu.

Người ta cũng có thể đọc được bản văn sao chép bài giảng. Mỗi lần giảng, các thư ký đều ghi chép lại kỹ càng từng lời giảng. Các bài giảng của ông Spurgeon đều được in ra hằng tuần trong nhiều tờ báo Anh ngữ trên thế giới. Các bài giảng đó cũng được in thành nhiều tập và được nhiều vị giảng thuyết đọc.

Chúng ta có dàn bài. Chúng ta có bản sao. Nhưng chúng ta không có bài giảng. Chúng ta cũng chẳng có băng thâu thanh hay băng thâu hình các bài giảng của nhà giảng thuyết  lừng danh này. Ngay cả với việc thâu băng đó, chúng ta cũng vẫn không có bài giảng. Một bài giảng chỉ thực sự xẩy ra khi nó được giảng bằng tiếng nói. Bài giảng phải được nói ra bằng miệng.

Mặc dù chúng ta nói đến những dàn bài và các bản văn ghi chép bài giảng, thực sự đó không phải là các bài giảng. Một dàn bài là kế hoạch cho một bài giảng. Một bài giảng viết trên giấy chỉ là bản văn viết của bài giảng. Bài giảng được ghi chép lại thì chỉ là bản ghi chép báo cáo về bài giảng. Chỉ khi bài giảng được giảng lên bằng tiếng nói mới đúng được gọi là một bài giảng. Cho dù ngày nay chúng ta có thể đọc được các bài gỉang của Spurgeon, nhưng một thính giả của ông có thể nói, “Ô, nhưng bạn phải ở đó nghe ông ta giảng thì mới biết!”

Trong chương này chúng ta nói về việc hoạch định trình bày bài giảng của bạn bằng tiếng nói. Đây không phải là việc bàn về dàn bài hay về cấu trúc của bài giảng, cho dù việc thiết kế bao gồm những yếu tố này. Hoạch định việc trình bày bài giảng bao gồm tất cả việc sắp xếp các tài liệu của bài giảng.Việc thực tập là Hoạch Định Giảng Bằng miệng Nói. Khiếu thuật chúng ta mong muốn củng cố là: Quyết định việc chọn lựa và sắp xếp các tài liệu của bài giảng để cho việc giảng bằng miệng nói có hiệu lực.      

Hiểu Việc Truyền Thông Bằng Miệng Nói

Truyền thông bằng miệng nói là trình bày bản tin bằng ngôn ngữ được nói thành tiếng để có thể tiếp nhận bằng thính giác. Tiếng nói có nghĩa là từ miệng nói ra.Thích giác là nghe. Truyền thông bằng miệng nói có nghĩa là nói ra bằng miệng để tai có thể nghe thấy. Các bài giảng là truyền thông bằng miệng. Một bài giảng là một việc trình bày bằng lời nói về các chân lý thần học tới một số thính giả riêng ở vào một thời điểm cá biệt. Ta chưa thực sự có một bài giảng cho tới khi nó được giảng ra bằng miệng nói. Bài giảng chỉ hoàn tất khi lời cuối cùng được nói ra.

Dọn bài giảng thường bao gồm việc viết. Chúng ta ghi chép các ý tưởng xuống mặc dù các ý tưởng đó sẽ được nói ra. Chúng ta duyệt xét lại các ý tưởng đã được viết xuống bằng mắt, mặc dù các ý tưởng đó sẽ được nghe bằng tai. Tiến trình này có thể trở nên trở ngại cho thiết kế giảng miệng cách hữu hiệu. Chúng ta có thể có thiết kế bài giảng coi có vẻ tốt đẹp với con mắt, nhưng sẽ không hay đối với lỗ tai. Nếu muốn cho thiết kế được hữu hiệu, chúng ta phải hoạch định bài giảng cho lỗ tai nghe.

Truyền thông bằng bản văn viết có thể được thiết kế khác với truyền thông bằng miệng nói dưới vài hình thức. Thí dụ như cuốn sách này. Tôi dùng chữ in đậm, chữ nghiêng, các tiêu đề lớn, đóng khung các tài liệu phụ thuộc, các ghi chú, các tóm tắt, các câu hỏi để học hiểu, các mẫu thực tập v.v.. Làm sao tôi có thể làm những điều này trong bài thuyết giảng bằng lời nói?

Khi bạn giảng, các thính giả không có khái niệm về các tiêu đề, các đoạn văn, các chữ viết nghiêng, các chữ tô đậm, các tài liệu tham khảo, các điểm chấm phẩy, các chỗ đóng khung hay bất cứ những hình thức nào cho thị giác. Tất cả phải được tỏ ra qua tiếng nói, và cách diễn tả của bạn về những điều đó. Bài giảng của bạn đến với họ qua một chuỗi những nhóm từ ngữ, ở một thời điểm nhất định, và dừng ở một thời điểm nhất định. Tất cả những gì bạn truyền thông phải được làm với những lời nói và các chuyển động, dáng điệu, và cách diễn tả trên khuôn mặt bạn dùng để làm cho sống động.

Một bài giảng không giống như một bức tranh. Một bức tranh đặt trước mặt bạn như là một tác phẩm đã hoàn tất. Trong một lúc bạn nhìn thấy tất cả công trình, mầu sắc, nghệ thuật, và các phần liên hệ với nhau. Như một thiết kế cho thị giác, bức tranh hoàn tất và tĩnh định. Một bài giảng thì ngược lại, như là một bản nhạc được nghe ở từng nốt nhạc, từng âm điệu. Nó được cảm nghiệm từng cung điệu một, và chỉ có nghĩa khi người nghe tiếp nhận tất cả vào lỗ tai của họ.

Vị giảng thuyết giống như một nhạc sĩ, một kịch sĩ, hay một người kể truyện, chia tài liệu ra thành từng giai đoạn một. Người nghe không thể quay trở lại để nghe điều họ bị quên hay không nghe thấy. Họ không thể tìm lại từ ngữ họ không hiểu. Họ không thể chạy trước để xem bài giảng sẽ đi về đâu. Họ không thể nhìn thấy toàn bộ bài giảng trong đầu của vị giảng thuyết. Họ phải để cho bài giảng được phát triển song song, theo với các tư tưởng của họ, khi họ tiếp nhận bài giảng từng bước một. Thách đố của việc thiết kế bài giảng là phải được làm dưới quan điểm của người nghe chứ không phải là của vị giảng thuyết.

Vì các thính giả tiếp nhận bài giảng như là một chuỗi các ý tưởng, họ phải thu góp chúng lại trong đầu óc của họ. Giống như bảng ghép hình tiếp nhận từng miếng hình một, họ ghép chúng lại, nhìn chúng hiện thành hình cho tới miếng cuối cùng. Cũng thế, nó tùy thuộc vào trí nhớ của họ, ghi nhận tất cả những gì họ đã nghe, trong suốt thời gian giảng. Nếu chúng ta thiết kế các bài giảng với điều này trong đầu, chúng ta sẽ cẩn thận hoạch định, để đưa từng phần của bản tin một đến với thính giả. Nếu họ phải hỏi xem là các phần của bản tin này thuộc về chỗ nào, họ sẽ không thể ghép lại được bản tin cách chính xác.

Do đó hoạch định cho việc truyền thông qua tiếng nói căn bản là chọn tài liệu của bạn, và sắp xếp theo thứ tự để trình bày. Bạn sẽ bắt đầu ở một thời điểm rõ ràng và kết thúc ở một lúc được hoạch định. Bạn có thể coi bài giảng của mình như là một loạt của các đoạn tư tưởng, cần phải được sắp xếp theo thứ tự, để người nghe có thể nối kết các tư tưởng lại trong trí óc của họ. Thứ tự bạn trình bày các đoạn tư tưởng này, sẽ làm nên sự khác biệt trong hiệu lực của truyền thông. Bất  kể dàn bài của bạn trông như thế nào, bạn vẫn không thể đưa tới cho thính giả của bạn nhiều hơn là từng đoạn tư tưởng một.

Dàn Lược Thứ Tự Tạo Hứng Thú

Tất cả mọi vị giảng thuyết cần hiểu tình hình gỉảng thuyết theo quan điểm của người nghe. Không phải chỉ có tài liệu giảng làm cho vị giảng thuyết phải quan tâm đến. Chúng ta cũng phải biết thái độ, các vấn đề quan tâm riêng, sự tỉnh thức tinh thần, và những đặc tính khác nơi người nghe. Do đó chúng ta sắp xếp việc trình bày bài giảng theo thứ tự, và dùng các tài liệu để gặp gỡ thính giả ngay nơi họ đang ở. Vị giảng thuyết nào quyết tâm gặp gỡ thính giả của mình cách trọn vẹn, đều sẽ cẩn thận hoạch định thiết kế bài giảng của họ.

Dàn Lược Thuật Ngữ Thứ Tự Tạo Hứng Thú
Giới thiệu
     
Thân bài
Kết luận
 
Gây chú ý
Nhu cầu
Làm hài lòng
Hình dung
Thực hành

Một phần của vấn đề có thể là do thái độ của các vị giảng thuyết. Trừ khi chúng ta sẵn sàng nhận hoàn toàn trách nhiệm truyền thông, chúng ta sẽ không trình bày bài giảng theo quan niệm của đoàn chiên. Nó luôn luôn là một thách đố để đi ra ngoài tính chủ quan của chúng ta, để đi vào sườn cơ cấu của người khác hay của một nhóm khác. Nó đòi hỏi phải có chủ ý, có óc sáng tạo và tính chịu khó.

Đề nghị bạn để ý đến dàn lược thứ thự tạo hứng thú theo ông Alan Monroe. Tiến sỹ Monroe là một giáo sư dạy về thuật diễn thuyết. Ông hiểu làm thế nào để có được sự chú ý của người nghe, và giữ họ hứng thú nghe một bài diễn thuyết. Ông đã định nghĩa thứ tự tạo hứng thú là “thứ tự những ý tưởng, đi theo tiến trình suy nghĩ tự nhiên của con người, gây hứng thú cho người nghe làm theo mục đích của người diễn thuyết.”

Tôi đề nghị công thức này như là cách để nâng cao kiến trúc bài giảng, đặt trên dàn lược của bạn. Hãy dùng dàn lược thứ tự tạo hứng thú, để kiểm xét kế hoạch phẩm cách truyền thông của bạn về việc trình bày bài giảng. Dàn lược thứ tự tạo hứng thú bao gồm năm bước được thiết kế, để dẫn đưa người nghe thi theo trên căn bản các hứng thú của họ.   

Bước thứ nhất trong thứ tự tạo hứng thú là sự chú ý. Vị giảng thuyết không được nghĩ là khi họ bước lên tòa giảng là thính giả tỉnh thức, và háo hức nghe những gì ngài sẽ nói. Như đã thừa biết, thường thì họ quan tâm nhiều tới những lo lắng cá nhân, mệt mỏi, nghi nan và họ cho là vị giảng thuyết sẽ càng làm cho các vấn đề của họ nên phức tạp khó khăn hơn. Những người rao giảng đã ở trong cuộc đều biết rõ điều này. Chúng ta đã nhìn thấy khuôn mặt của họ. Chúng ta đã chứng kiến những cặp mắt nhìn xa xăm, tỏ ra xa vắng. Chúng ta biết là tâm trí họ không ở với chúng ta. Chúng ta đã có lần cảm thấy khó chịu và buồn nản.

Ngay từ những lời đầu tiên của bài giảng, vị giảng thuyết nhắm đến việc bắt nắm được sự chú ý của thính giả đối với tư tưởng của bài giảng. Điều này có thể thực hiện được bằng việc dùng so sánh tương đồng như một dẫn giải. Cũng có nhiều cách khác để chiếm được sự chú ý. Hãy nhớ là chìa khóa ở đây là thứ tự các tài liệu. Trong thiết kế bài giảng, phần trước tiên phải là chiếm được sự chú ý của thính giả đối với vấn đề. Nếu bạn nghĩ đến việc mở đề, thân bài và kết luận, bước gây chú ý phải là điều trước hết trong phần mở đề.

Bước thứ hai trong dàn lược thứ tự tạo hứng thú là nhu cầu. Gây sự chú ý là bước khởi đầu. Bây giờ bạn đi đến việc đánh thức sự hứng thú của thính giả đối với vấn đề bạn trình bày. Họ sẽ thích thú đối với bất cứ điều gì chạm đến những quan tâm của họ. Do đó vị giảng thuyết phải tỏ cho thấy vấn đề họ trình bày phải thích hợp với đời sống của người nghe. Bước này được gọi là bước “nhu cầu,” bởi vì cách tốt nhất để khuấy động sự thích thú, là bàn luận về vài nhu cầu của người nghe mà bạn có thể giúp họ. Không có gì chúng ta thích hơn là cái mà chúng ta đang quan tâm đến.

Bước thứ ba trong dàn lược thứ tự tạo hứng thú là sự hài lòng. Giai đoạn trình bày lúc này đi vào phần thân của bài giảng. Nó được gọi là “sự hài lòng,” bởi vì tư tưởng bài giảng thỏa mãn nhu cầu khi người tín hữu đưa chân lý đó áp dụng vào đời sống. Chú ý là chúng ta không bắt đầu bằng câu trả lời, sự thỏa mãn cho nhu cầu. Chúng ta bắt đầu bằng việc gây sự chú ý. Chúng ta cũng không trình bày câu trả lời ở phần thứ hai. Chúng ta dẫn chứng nhu cầu của đời sống con người cần tìm câu trả lời. Chỉ sau đó chúng ta mới đi đến bước ‘sự hài lòng,’ và giới thiệu điểm chính của tư tưởng bài giảng trong việc khai mở bản văn. Trong tiến trình này, người nghe cùng đồng hành với bạn từng bước một, bởi vì bạn đã bắt đầu ở nơi mà họ bình thường suy nghĩ.

Bước thứ tư trong thứ tự tạo hứng thú là việc hình dung. Mục đích của phần này là thu hút óc tưởng tượng với một hình ảnh để người nghe áp dụng chân lý của bài giảng. Bước này trả lời cho câu hỏi, “Vấn đề này áp dụng thế nào trong đời sống?” Nó là một miêu tả gợi hình rõ ràng về việc người nghe đem áp dụng nguyên tắc chính của bài giảng vào đời sống. Vị giảng thuyết nói rằng, “Cùng tưởng tượng ra với tôi xem nó như thế nào khi bạn đưa nguyên tắc đức tin này áp dụng vào đời sống của chính bạn.” Vị giảng thuyết cũng có thể dùng việc so sánh tự nhiên thu hút đối với thính giả, mà không cần phải đặt mình vào trong đó. Cách nào thì cách, điểm chính là dẫn giải và áp dụng tư tưởng chính với hình ảnh rõ ràng.

Bước cuối cùng trong dàn lược thứ tự tạo hứng thú là hành động. Mục đích của bước này là miêu tả rõ ràng và cụ thể những bước hành động mà người nghe có thể làm khi họ đem ra áp dụng nguyên tắc đức tin của bài giảng. Đây là lúc mà vị giảng thuyết nhắm đến việc trao cho thính giả những cán tay cầm của tư tưởng bài giảng. Bạn có thể dùng việc tóm kết các việc thực hành mà bạn đã nêu ra trong các phần phân bộ. Hoặc bạn có thể đề nghị vài ba cách để đáp theo bản tin trong đức tin. Nhiều bài giảng không làm việc này, đó là nói cho thính giả biết họ phải làm gì mà không chỉ cho họ biết cách phải làm như thế nào.

Hoạch định cho việc truyền thông là một việc phức tạo và khó khăn. Chìa khóa có thể là suy nghĩ từ phía người ngồi ở ghế nhà thờ. Chúng ta, những người rao giảng, thường qúa quan tâm đến tài liệu cho bài giảng và làm thế nào để giảng tài liệu đó, và quên khía cạnh cảm nghiệm nghe giảng từ phía người nghe. Như đã nói trước đây, một thực tập tốt là hãy hình dung ra việc chính bạn ngồi trong ghế nhà thờ, và tìm xem cảm nghiệm đó nói gì với bạn về việc giảng của bạn.  

Chọn Tài Liệu Hay Nhất

Hai việc căn bản bạn phải đối diện cho hoạch định trình bày bài giảng, là chọn lọc và sắp xếp các tài liệu. Nếu bạn chọn lọc tài liệu hay, mà không sắp xếp thứ tự các phần trình bày đúng, bạn có thể vẫn làm việc trình bày lộn xộn tối nghĩa. Ngược lại, bạn có sắp xếp các tài liệu khéo cũng vẫn có hảnh hưởng rất ít, nếu bạn không cẩn thận chọn lọc điều bạn muốn nói, và bỏ đi cái bạn phải loại trừ.

Nếu bạn đã làm tất cả những công việc được nói đến trong phần dọn giảng giải theo phương cách này, bạn sẽ có nhiều tài liệu hơn là bạn có thể dùng đến trong bài giảng. Một số những ghi chú có thể có giá trị đối với bạn, nhưng không có gía trị đối với người nghe. Việc học hiểu các từ ngữ và tài liệu ở đàng sau văn hóa/lịch sử có thể giúp chút đỉnh, nhưng hầu hết là nó có thể qúa phức tạp. Bạn không muốn bài giảng trở thành một bài học về lịch sử hay về ngôn ngữ của bản văn.

Như bạn đã tìm hiểu những so sánh tự nhiên, bạn đã có nhiều tài liệu dẫn giải hơn là bạn cần. Thay vì dùng tất cả, bạn phải cẩn thận chỉ chọn lựa những so sánh và thí dụ giúp ích cho bài giảng. Bạn cũng có thể có trong các tài liệu ghi nhận cho biện luận và áp dụng thực hành nhiều hơn là bạn cần đến.

Làm thế nào để bạn quyết định chọn tài liệu nào để dùng trong bài giảng, và tài liệu nào bỏ lại trong sổ ghi chép. Sau đây là 5 hướng dẫn để làm việc chọn lựa biên tập.

Chọn từ trong tập ghi nhận những tài liệu thích hợp nhất cho việc trình bày bản tin của bản văn. Khi làm việc với bài giảng, bạn sẽ nghĩ nhiều cách khác nhau để nói về vấn đề bạn muốn nói. Nó không phải là việc không thông dụng để các vị giảng thuyết đem các vấn đề đi ra ngoài bản văn, có khi còn đi lạc xa ra ngoài đề nữa. Một nguyên tắc để chọn là đi gần gũi với bản văn. Hãy chọn những tài liệu nói lên ý nghĩa của bản văn.

Chọn những tài liệu hấp dẫn nhất đối với thính giả. Để chọn đưa những gì vào bài giảng, bạn sẽ phải nghĩ đến thính giả của mình. Những qúa trình lý lịch của họ, tuổi tác, những cái họ thích, các cảm nghiệm và các nhu cầu của họ, đòi bạn phải cẩn thận chọn lọc những gì bạn đưa vào bài giảng. Các chủ chăn biết nhiều về con chiên của họ, và có thể thích nghi với các nhu cầu mỗi tuần. Những vị giảng lưu động có thể cần phải hỏi về thính giả của họ, nhờ đó họ có thể chuẩn bị cách xứng hợp.

Chọn các tài liệu cho bài giảng thích hợp cho mỗi trường hợp. Đôi khi một bài giảng được chuẩn bị cho một trường hợp đặc biệt và đòi phải có tài liệu riêng. Những buổi lễ khác nhau trong tuần có thể đòi phải có những tài liệu đa dạng cho bài giảng. Một số bài giảng có thể chứa đựng tài liệu dẫn giải. Những bài giảng khác có thể nghiêng về dẫn chứng và áp dụng thực hành, tùy theo mỗi trường hợp.

Chọn các tài liệu cho bài giảng xứng hợp với thời gian cho phép. Một lỗi lầm thường có trong việc hoạch định thiết kế bài giảng là thu góp qúa nhiều tài liệu. Tôi đã nói chuyện nhiều với các sinh viên học giảng thuyết; họ gắng nhồi nén tài liệu cho bài giảng một giờ vào một bài giảng có nửa giờ đồng hồ. Sẽ có những trường hợp vị giảng thuyết sẽ phải thích ứng với thời gian ngắn hơn là họ đã hoạch định. Nếu chúng ta chuẩn bị khá và giảng buông không cần bản văn viết, chúng ta có thể thích ứng với thời gian ngắn hơn mà vẫn trình bày bài giảng thật hay.

Chọn tài liệu giúp ích nhất cho mục đích của bài giảng. Chúng ta mới nhấn mạnh đến mục đích toàn diện của mọi bài giảng là đánh thức đức tin nơi người nghe. Trong phần thực tập quan sát trực thị ở chương 2, bạn được yêu cầu viết ra câu công bố mục đích của bài giảng. Câu công bố này trình bày về nguyện vọng bạn muốn nhìn thấy nơi cách suy nghĩ, thái độ, và hành vi cử chỉ của người nghe. Một khi mục đích này của bài giảng đã rõ, nó có thể giúp trong việc chọn lọc tài liệu cho bài giảng.

Dùng Phương Tiện Truyền Thông

Việc dùng phương tiện truyền thông thị giác trong giảng thuyết đã thay đổi bài giảng cách khá rõ rệt đối với nhiều vị giảng thuyết. Dùng phương tiện truyền thông thị giác không phải là điều mới lạ. Nhiều vị giảng thuyết đã dùng bảng, phấn viết và vẽ hình ảnh, để dẫn chứng cho bài giảng trong khi họ giảng. Nhiều vị khác đã dùng những đối tượng bài học trong đó họ đưa vài vật liệu nào đó lên tòa giảng để dùng làm so sánh cho chân lý của bài giảng. Những màn hoạt cảnh, đoản kịch, hay các hình ảnh cũng đã được dùng rất nhiều, để giúp trình bày tư tưởng của bài giảng. Việc dùng máy chiếu hình để chiếu những họa đồ, dàn bài, hay những câu trích dẫn trên màn ảnh, đã thêm vào khía cạnh mới cho bài giảng trong những thập niên vừa qua.

Phần lớn các vị giảng thuyết đã không dùng những phương tiện giúp truyền thông thị giác cho bài giảng của họ. Nhưng ngày nay việc dùng phương tiện truyền thông thị giác đang phát triển khá nhanh. Sự khác biệt của thế hệ ngày nay là kỹ thuật. Ngày nay vị giảng thuyết có thể chiếu đoạn vi-de-ô, dùng các chương trình PowerPoint, và các phương tiện điện tử thính-thị-giác khác. Sau đây là vài hướng dẫn cho việc xử dụng các phương tiện thính-thị-giác với các bài giảng.

Dùng phương tiện thị giác cách tiết kiệm thưa thớt. Một trong những lỗi lầm chung của nhiều vị giảng thuyết trong việc dùng phương tiện thị giác là cố gắng chiếu qúa nhiều trên màn ảnh. Một số vị giảng thuyết chiếu qúa nhiều hình ‘slide’ mà không ngừng, hoặc để cho hình ảnh dừng lại, cho đến khi thính giả nhìn đến vị giảng thuyết. Những vị khác lại bỏ qúa nhiều vào một ‘slide.’ Tốt nhất là giữ việc trình bày phương tiện thị giác thật đơn giản với ít hình ảnh.

Hoạch định một sự quân bình giữa phương tiện thị giác và việc trình bày bằng lời nói. Hãy  nhớ là sức mạnh của truyền thông bằng miệng là yếu tố chính trong giảng thuyết. Hãy nắm chắc là việc dùng phương tiện thị giác không làm mất đi sự chú ý tới bạn là người giảng thuyết. Cách diễn tả trên khuôn mặt, giọng nói và giọng điệu khác nhau, thái độ và cử chỉ của bạn truyền đạt cùng với điều bạn nói. Chúng truyền đạt phong cách của bạn tới các ý tưởng và ý nghĩa của các ý tưởng đó.      

Hoạch định việc trình bày phương tiện thị giác cách cẩn thận và tập dượt kỹ. Hãy nhớ luật Murphy “Nếu cái gì có thể sai trật, nó sẽ sai trật.” Điều này rất đúng với các dụng cụ điện tử. Hãy bảo đảm là bạn không bị giật mình khi các phim ‘slides’ không nằm theo thứ tự, đoạn băng vi-de-o không có tiếng nói, hay là một trục trặc kỹ thuật nào đó làm trì trệ bài giảng. Tốt nhất là nhờ người khác chuẩn bị và điều khiển việc trình bày phương tiện thị giác. Nhiều nhà thờ có nhân viên biết rành về phương tiện truyền thông thị giác hơn là bạn. Hãy để họ giúp bạn.

Tránh dùng phương tiện giúp truyền thông vì ảnh hưởng của riêng nó. Mục đích của phương tiện giúp thị giác và thính giác đối với một bài giảng là tăng cường cho bài giảng. Một số phương tiện có thể thu hút qúa mức khiến phương tiện lại trở nên chính việc trình diễn và làm mờ nhạt bài giảng. Ở một vài nhà thờ có dụng cụ truyền thông cho phép bạn làm được bất cứ cách nào bạn muốn. Nhưng đừng để cho phương tiện giúp truyền thông đánh át đi mục đích của bài giảng, đó là truyền đạt chân lý Thánh Kinh và mời gọi đáp theo đức tin cách hữu hiệu.

Đừng để cho các dụng cụ làm mất trật tự trung tâm thờ phượng. Một vài trung tâm thờ phượng có vẻ giống như hội trường để trình diễn nhạc hội. Hệ thống âm thanh, ánh sáng, và các dụng cụ trình diễn để lộ ra và gây chia trí. Nhiều nhà thờ đã ráp đặt các dụng cụ này cố định hầu giúp cho cảnh trí hợp với việc thờ phượng và làm dịu mắt. Chủ đích căn bản là tránh đừng để cho các dụng cụ làm chia trí mất sự chú ý, và chỉ dùng nó để phục vụ cho mục đích thờ phượng.

Cảnh Giác Về Phương Tiện Thị Giác

Nhiều vị giảng thuyết coi những việc trình bày với phương tiện truyền thông như là tương lai của giảng thuyết. Một số người cho là thời gian chú ý của các thính giả ngày nay ngắn hơn xưa. Truyền hình đã làm cho người xem đi theo những hình ảnh chạy nhanh và các tác động liên tục. Những trò chơi điện tử thị giác, truyền thông mạng lưới, điện thoại di động với những khả năng luôn tiếp tục đổi mới, đã làm cho việc giảng thuyết dường như chậm tiến và cổ cách. Do đó lời mời gọi cho việc giảng thuyết là đến với thời đại, và biết dùng phương tiện truyền thông có sẵn.

Giảng thuyết chính yếu vẫn luôn là truyền thông bằng miệng, một người công bố cho những người khác lời của Thiên Chúa. Giáo hội có lợi bởi việc biết dùng kỹ thuật trong truyền thông để giáo dục. Một số vị giảng thuyết sẽ lợi dụng được phương tiện thị giác và thính giác trong các bài giảng. Các vị giảng thuyết ở thế kỷ 21 sẽ phải biết để ý đến sức mạnh của việc truyền thông đơn giản bằng miệng, trước khi có ý định bỏ nó vì các trợ giúp điện tử khác. Đừng lầm tưởng là giảng yếu kém sẽ được bù đắp bởi việc xử dụng phương tiện thị giác hay thính giác. Hãy để ý đến ba yếu tố chính trong việc truyền thông bằng miệng mà phương tiện khác có thể gây cản trở.

Cá Tính Trong Cách Giảng. Mặc dù một số yếu kém trong giảng thuyết ngày nay có thể do cái gì khác, điểm quan trọng cần để ý là cách giảng. Nó thật là một điều hứng khởi cho vị giảng thuyết khi thính giả cảm thấy móc nối được với người giảng và với bài giảng. Họ chăm chú nhìn vào vị giảng thuyết. Họ lưu giữ lại lời giảng. Họ có sự liên kết đồng nhất trong tiến trình của bài giảng – chú ý, tham gia và tỉnh thức.

Cách giảng hiệu lực cho thế hệ ngày nay có thể được gọi là đối thoại. Điều này không có nghĩa là nói chuyện hay coi nó là không quan trọng mấy. Nhưng là nhấn mạnh vào việc truyền thông đối thoại. Cách đối thoại là lưỡng chiều. Nó là lối truyền thông hai chiều,  khi vị giảng thuyết để ý đến thính giả cũng như là ngài mong đợi họ để ý đến mình.

Việc xử dụng những phương tiện thị giác trong bài giảng thường làm giảm bớt khía cạnh cá tính của vị giảng thuyết như một yếu tố thuyết phục trong bài giảng. Những dấu hiệu truyền đạt về thái độ và sự thâm tín bị làm mờ nhạt. Yếu tố “nhập thể” hầu như bị mất. Thay vì lối truyền thông đời sống với đời sống, bài giảng trở nên một việc trình bày thông tin, và vị giảng thuyết trở nên người phục vụ cho phương tiện truyền thông, thay vì là người rao giảng.

Nói Đến Cảm Ngiệm của Thính Giả. Mọi bản văn cho bài giảng chứa đựng những chân lý thần học có thể áp dụng cho đời sống của thính giả. Làm cho những áp dụng đó trở nên đáng tin, và xây dựng đức tin, là một thách đố các vị giảng thuyết phải đối diện. Sự lạnh nhạt hững hờ trong nhiều cộng đoàn, có thể là do những tài liệu không thích hợp của bài giảng.

Người nào đến nhà thờ cũng mang nhiều sự ngổn ngang trong đầu óc của họ. Như chúng ta thừa biết, mỗi người đều bận tâm lo lắng đến những âu lo riêng của họ: gia đình, công việc làm ăn, tương lai, sức khỏe, hôn nhân, con cái, các đơn nợ phải trả, việc giải trí v.v. Đây là những vấn đề họ có trong đầu khi đến nhà thờ gặp vị chủ chăn của họ ngày Chúa Nhật.

Người ngồi ở ghế nhà thờ có những quan tâm khác với vị chủ chăn của họ. Điều này đặt vị giảng thuyết và bài giảng của ngài ở bên ngoài vòng các quan tâm riêng của họ. Khi lắng nghe bài giảng, họ nghe cùng điệu kêu gọi trung tín với giáo hội, sống chứng nhân và bổn phận đóng góp dâng cúng, hoặc những điều khác tương tự. Điều đó dễ dàng cho thấy lý do tại sao họ đi lang thang. Họ đã có dư điều để suy nghĩ mà không cần phải nghe thêm về những quan tâm của vị giảng thuyết. Dùng phương tiện truyền thông thị giác và thính giác trong bài giảng sẽ không bù đắp cho các ý tưởng không móc nối với thính giả. Giảng với ít dụng cụ kỹ thuật có thể có hiệu qủa hơn, khi bản tin bắt gặp được nhu cầu của người nghe.

Thu Hút Óc Tưởng Tượng. Dùng phương tiện truyền thông thị giác trong các bài giảng thường nhắm đến việc thu hút óc tưởng tượng nơi người nghe. Nhưng bạn sẽ làm được sự thu hút óc tưởng tượng  mạnh mẽ khi miêu tả cảnh tượng cách sống động, hơn là việc dùng tranh ảnh với các chi tiết rõ ràng và không còn chỗ cho trí tưởng tượng làm việc. Giảng bằng lời nói có một tiềm lực mạnh mẽ giúp tạo nên hình ảnh sống động trong tâm trí của người nghe. Nhưng vị giảng thuyết phải làm việc trong cách dùng ngôn ngữ  cá biệt hơn là chung chung, nếu họ muốn bật cái công tắc cho hình ảnh trong trí óc của người nghe và đánh thức óc tưởng tượng của họ.          

Chìa khóa cho ảnh hưởng của tưởng tượng là trình bày truyện cũ trong những cách thức mới. Vị giảng thuyết có thể gắng nhìn, nghe, động chạm, và ngửi vào các câu truyện của Thánh Kinh và những dẫn chứng mới. Họ có thể tránh việc dùng quá nhiều thứ chung chung, và thay vào đó bằng việc dùng nhiều những thí dụ cá biệt. Họ có thể dùng ngôn ngữ cụ thể, riêng biệt, tạo hình tượng, lối tả chân và gây cảm xúc. Thay vì giúp thu hút óc tưởng tượng, phương tiện truyền thông thị giác và thính giác có thể làm phân tâm, bởi vì màn ảnh của máy chiếu phim không có sức mạnh giống như màn ảnh trong trí óc.

Truyền thống giảng thuyết sẽ tiếp tục bị thử thách mỗi khi có phương tiện truyền thông mới và những ý tưởng mới về truyền thông được cổ võ. Trước khi vị giảng thuyết có ý bỏ cách giảng bằng miệng, họ cần để ý làm thế nào để thăng tiến cách giảng, trân trọng tính nhập thể của giảng thuyết, nói với thính giả trong cảm nghiệm của họ, dùng cách trình bày ứng khẩu, và thu hút óc tưởng tượng của người nghe. Bất cứ quyết định thế nào, mục đích của vị giảng thuyết luôn là truyền đạt cách hữu hiệu nhất về mạc khải của Thiên Chúa đến với người nghe.     

Hoạch Định Thiết Kế Giảng Bằng Miệng Nói

Xin đề nghị vài nguyên tắc để bạn có thể dùng như những hướng dãn cho việc hoạch định  thiết kế các bài giảng. Nếu bạn làm theo những đề nghị này, việc thiết kế của bạn sẽ càng đi đến gần mục đích làm được sự móc nối trong truyền thông.

Thiết kế một khuôn mẫu năng động hơn là một khuôn mẫu cứng ngắc.Năng động có nghĩa là mạnh mẽ, sống động và chuyển động. Cứng ngắc có nghĩa là cố định, hoàn tất, bất động. Hoạch định thiết kế bài giảng chuyển động và sống động như là bạn giao tiếp với thính giả. Đừng sắp xếp tất cả những gì bạn sẽ nói từ đầu đến cuối và trình bày theo y như bản viết bạn đã dọn sẵn. Hãy nhớ bài giảng là một việc trình bày bằng lời nói; nó không có cho đến khi nó được rao giảng.

Giữ dàn bài trong sáng và đơn giản. Viết những câu công bố cho tư tưởng bài giảng và các phân bộ cho lỗ tai sẽ làm nên sự khác biệt trong cách bạn viết. Hãy bảo đảm là các tư tưởng chính được trong sáng trong ý tưởng và trong cách viết. Điều bạn viết có thể hay trên trang giấy; nhưng hãy đọc những câu này lớn ra tiếng. Nó nghe thế nào? Nó có dễ dàng hiểu được ngay hay không? Nó có vần giọng và trôi chảy không? Nó có làm cho lưỡi bị uốn cong, khó nói, hoặc làm cho vấp khi nói không?

Thiết kế giảng nói cần được chuẩn bị theo thời gian hơn là theo khoảng rộng không gian. Số lượng bạn dành cho mỗi phần sẽ tùy thuộc ở thời gian bạn dùng. Để công bố những câu nối tiếp, và đọc bản văn và các câu công bố phân bộ, bạn chỉ cần hai hoặc ba phút. Phần còn lại của bài giảng là các tài liệu phụ giúp, hay là tài liệu khai triển. Giấy ghi chú có thể gây lầm lẫn khi bạn chỉ viết xuống một hay hai chữ để ám chỉ một dẫn chứng dài, một biện luận hay một áp dụng. Hãy cẩn thận lái thiết kế theo thời gian hơn là theo không gian, chuẩn bị cẩn thận nhưng vẫn uyển chuyển.

Nhấn mạnh các tư tưởng chính bằng cách sắp xếp và lặp lại. Hãy nhớ là thính giả có thể nhận ra một lời công bố như là một ý tưởng chính chỉ duy nhất bằng cách bạn nói ra. Họ không nhìn thấy chữ in đậm hay gạch dưới. Hãy xếp đặt các lời công bố phân bộ ở những chỗ trổi vượt, đầu hoặc cuối mỗi phần. Điều bạn nói ở đầu và ở cuối sẽ được lưu nhớ. Khi lặp lại những lời công bố phân bộ, người nghe sẽ nắm bắt được ý nghĩa của nó. Cũng nên công bố và xếp số thứ tự dùng những chữ khóa chính.

Cẩn thận dùng những chữ chuyển từ khi bạn di chuyển trong bài giảng. Nếu bạn bắt đầu bằng một so sánh tự nhiên, hãy nói rõ sự liên hệ của nó đối với tư tưởng của bài giảng. Điều này sẽ  dẫn cách trôi chảy vào phần tiếp sau. Sắp xếp đưa sự chuyển tiếp từ yếu tố nhu cầu vào trong phần giới thiệu bản văn. Dùng những câu nối nhịp cầu, và để cho các câu nối nhịp và các chữ khóa chính đưa thính gỉa đi vào các phân bộ. Tóm gọn mỗi phân bộ với một câu lặp lại những điểm đã nói, và một lời giới thiệu đến phần tiếp theo. Hãy nghĩ đến những điểm chuyển tiếp như là một cách chuyền qủa bóng. Nếu nó không được chuyền khéo, bạn rất có thể sẽ làm rớt mất qủa bóng.

Hoạch định cẩn thận việc dùng phương cách đi từ chi tiết và lối đi từ tổng quát.Hãy nhớ là phương cách suy nghĩ đi từ chi tiết bắt đầu với những điều cá biệt. Bắt đầu bài giảng theo lối  chi tiết bằng cách nói về một điều gì quen thuộc với thính giả, mà lại thích hợp với chủ đề, và chiếm được sự chú ý của họ. Từ đó bạn sẽ đi đến tư tưởng chính của bài giảng. Sự di chuyển là chìa khóa chính – đi từ chi tiết cá biệt đến tổng quát. Dùng lối di chuyển theo tổng quát khi bạn nói đến lời công bố phân bộ và chuyển đến những cái cá biệt của việc khai triển.

Bản Kiểm Chứng: Thiết Kế Giảng Nói

  • Tôi đã hoạch định theo khuôn mẫu sống động hơn là cứng ngắc.
  • Tôi đã giữ cho dàn bài thật đơn giản trong cách hành văn cũng như trong ý tưởng.
  • Tôi đã hướng thiết kế theo thời gian hơn là theo khoảng không gian.
  • Tôi đã nhấn mạnh các ý tưởng chính theo sắp xếp và lặp lại.
  • Tôi đã hoạch định cẩn thận các chuyển từ ở các điểm nối tiếp.
  • Tôi đã dùng xứng hợp lối di chuyển đi từ chi tiết và lối đi theo tổng quát.
  • Tôi đã dùng ngôn ngữ cho lỗ tai chứ không cho con mắt.
  • Tôi đã cẩn thận hoạch định những phần giới thiệu.
  • Tôi đã cẩn thận hoạch định các phần kết.
  • Tôi đã hoạch định toàn bộ thiết kế từ quan điểm của người nghe.

  Dùng ngôn ngữ hay nhất cho lỗ tai chứ không cho con mắt. Chọn những từ ngữ dễ hiểu khi nói. Bạn chỉ có một cơ hội lúc đó để nói. Cho dù bạn nhắc lại các tư tưởng chính, hãy giữ chúng đơn giản và đi thẳng vào vấn đề. Tránh dùng những từ ngữ qúa trình độ hiểu biết của người nghe. Hãy dùng “cách nói dân gian” nhưng không sai văn phạm hay sai phát âm. Đừng cho là mọi người đều biết ý nghĩa của những tham khảo liên can về lịch sử hay thánh kinh. Giải thích cho họ. Đừng dùng những từ ngữ thần học chuyên môn mà không định nghĩa ra. Hãy dùng ngôn ngữ cho lỗ tai.

Hãy hoạch định cẩn thận các phần giới thiệu. Cái chúng ta gọi là phần giới thiệu bài giảng thì cũng quan trọng y như những cái mà bạn làm để truyền đạt cách hữu hiệu. Thật đáng buồn, nhiều vị giảng thuyết chỉ đứng lên và lần mò đi vào chủ đề. Có năm mục đích cho phần giới thiệu: (1) Nắm bắt sự chú ý của thính giả; (2) Đánh thức sự hứng thú đối với chủ đề; (3) Giới thiệu chủ đề; (4) Giới thiệu bản văn; và (5) làm sự chuyển tiếp trôi chảy  vào thân bài giảng. Mỗi mục đích này đều đòi phải hoạch định cẩn thận. Phần giới thiệu rất quan trọng bởi vì nó là điểm khởi đầu. Nếu bạn không khởi hành tốt bằng cách nối kết được với thính giả, bạn sẽ rất có thể không đạt được mục tiêu.  

Hoạch định cẩn thận các phần kết của thiết kế. Cái mà chúng ta thường gọi là kết đề thì quan trọng như là phần giới thiệu vào đề. Ở phần thứ tự dàn lược gây hứng thú, phần kết thúc gồm những bước hình dung hóa và hành động. Đây là tiến hành đi trở lại tư tưởng của bài giảng. Với bước hình dung hóa, hãy dùng dẫn chứng và áp dụng để vẽ lên hình ảnh cho cảm nghiệm của tư tưởng bài giảng để giúp thính giả. Bước áp dụng thực hành kêu gọi những thay đổi cụ thể cần có để áp dụng cho tư tưởng của bài giảng. Bước này dẫn đến thời gian để cầu nguyện, suy tư hay mời gọi người nghe đáp theo bản tin.

Hoạch định toàn thể thiết kế  từ quan điểm của thính giả.Cố gắng vượt ra ngoài cái nhìn hạn hẹp về tài liệu giải thích và cách tổ chức sắp xếp nó. Hãy nghĩ đến thính giả. Những ai sẽ hiện diện ở đó? Cách họ suy nghĩ thế nào? Họ hiểu những gì? Họ cần biết điều gì? Nếu bạn không truyền thông tài liệu cách hữu hiệu, nó sẽ chẳng có giá trị gì đối với họ.

Hoàn Tất Thực Tập

Thực tập trong phần này là Trình Bày Bài Giảng Bằng Miệng Nói. Mục đích là sắp xếp thứ tự của việc trình bày để truyền đạt cách hữu hiệu nhất.

Bước 1. Duyệt hai trang mẫu thực tập. Để ý là nó cung cấp một khuôn mẫu cho việc thiết kế bài giảng trong các giai đoạn. Nó là một sắp xếp thời gian chỉ định thứ tự của bài giảng.

Bước 2. Xếp các câu nối nhịp cầu chuyển tiếp và các lời công bố phân bộ vào đúng chỗ theo thiết kế. Viết ra rõ ràng từng chữ một.

Bước 3. Đặt các từ ngữ hay các diễn từ cần thiết để chỉ rõ tài liệu khai triển cho mỗi phân bộ. Hoạch định sự quân bình của bốn loại khai triển.

Bước 4. Hoàn tất việc khai triển cho phần mở đề (bước gây chú ý và nhu cầu) và cho phần kết (bước hình dung hóa và hành động áp dụng).

Bước 5. Xem lại trang kiểm tra thiết kế bài giảng để xem thiết kế của bạn có đi theo những nguyên tắc này không.

Bước 6. Dự đoán thời gian cho mỗi phần trong thiết kế và xếp lại nếu cần để cho đúng tiêu chuẩn bạn mong muốn.

Câu Hỏi Học Hiểu

  1. Giải thích: “Thiết kế bài giảng không phải cho con mắt mà là cho lỗ tai.”
  2. Khiếu thuật gì mà thực tập thiết kế bài giảng nhắm đến để củng cố?
  3. Thiết kế cho truyền thông bằng miệng nói khác với thiết kế bản văn viết như thế nào?
  4. Trình bày năm bước trong thứ tự dàn lược gây hứng thú.
  5. Những hướng dẫn nào được đề nghị cho cách dùng phương tiện truyền thông thị  giác cách hữu hiệu trong giảng thuyết?
  6. Phần mở đề và phần kết đề nhằm đạt được  điều gì?

Giảng Bằng Lời Nói  Mục đích của thực tập này là phát triển khả năng chuẩn bị một bài giảng trình bày bằng lời nói có sự tham gia của thính giả và trung thực với bản tin của bản văn.

Bản Văn:

  • Các tư tưởng bài giảng phải trong sáng và viết cho thật hay.
  • Hoạch định trình bày bài giảng cách sống động.
  • Thiết kế trình bày bài giảng theo bản văn.
  • Thiết kế trình bày bài giảng có sự tham gia của thính giả.
  • Quân bình việc khai triển cho toàn diện con người.
  • Hoạch định cho thính giả và cho trường hợp được cử hành.

Thực tập này bao gồm hoạch định thiết kế bài giảng để giảng bằng lời nói. Khuôn mẫu này dựa theo dàn bài thứ tự tạo hứng thú cùng với mẫu truyền thống gồm mở đề, thân bài và kết luận.

Mở đề: 

  • Gây chú ý
  • Nhu cầu
  • Câu nối nhịp
    • Giới thiệu chủ đề và bổ túc từ
    • Tư tưởng bản văn
    • Tư tưởng bài giảng
    • Đặt câu hỏi hay đặt vấn đề
    • Chuyển tiếp

Thân Bài:

  • Câu công bố  phân bộ
    • Giải thích
    • Dẫn chứng
    • Biện luận
    • Áp dụng
    • Câu chuyển tiếp (từ phân bộ 1 sang phân bộ 2)
  • Câu công bố phân bộ 2
    • Giải thích
    • Dẫn chứng
    • Biện luận
    • Áp dụng
    • Câu chuyển tiếp (từ phân bộ 2 sang phân bộ 3)
  • Câu công bố phân bộ 3
    • Giải thích
    • Dẫn chứng
    • Biện luận
    • Áp dụng
  • Câu công bố phân bộ 4
    • Giải thích
    • Dẫn chứng
    • Biện luận
    • Áp dụng
    • Câu chuyển tiếp từ phân bộ 4 sang kết luận

Kết luận:

  • Hình dung hóa
  • Lặp lại
  • Hành động