12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 11

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Nhắm Đến Việc Đáp Theo Đức Tin

Vẻ thất vọng và  buồn nản hiện rõ ra trên nét mặt và ở giọng nói của  ngài. Chúng tôi ngồi ở quán uống cà-phê và bàn luận về việc mục vụ của ngài. “Họ thực sự không hứng thú gì với việc nhà thờ,” ngài nhận định. “Tôi đã kêu gọi, khuyến khích, và cố gắng thúc dục họ, và đã giảng nhiều cho họ. Nhưng họ chẳng quan tâm. Họ chẳng thèm nghe nữa. Đã khá lâu, họ chẳng còn muốn nghe tôi nói nữa. Tôi đã đoán trước được điều đó. Bây giờ thì thật rõ ràng là có bức tường ngăn cách giữa họ và tôi. Tôi nghĩ là tôi cũng chẳng thèm quan tâm nữa. Rõ ràng là Chúa cũng chẳng muốn tôi tiếp tục làm việc ở đó nữa.”

Chúng tôi đã nói chuyện rất lâu hôm đó về việc rao giảng. Người bạn của tôi bảo đảm với tôi là ông đã làm tất cả những gì có thể làm để đốt lửa làm nóng cái cộng đoàn tồi tệ ấy. Mục đích của ngài trong việc giảng thuyết là làm cho họ tiến lên theo một cách nào đó. Và cho đến lúc này thì ông đã thất bại. “Tôi đã được người ta nói tôi giảng khá hay!” Ông chia sẻ với tôi như thế. “Và nếu đó là sự thật, thì tại sao suốt năm năm trời rao giảng và lãnh đạo chỉ làm cho tôi trở nên xa cách hơn với cộng đoàn?” Vài tháng sau đó ông đã từ chức.

Giảng và Mục Đích

Tại sao chúng ta rao giảng? Đó có thể là câu hỏi qúa hiển nhiên và ít được đề cập đến. Chúng ta cho rằng giảng thuyết là một việc làm có chủ đích, điều mà Thiên Chúa muốn các tôi tớ của Ngài thực hiện. Nhưng nếu giảng thuyết có mục đích, chúng ta phải nhận diện mục đích ấy. Nếu việc giảng thuyết của chúng ta đạt được kết qủa mong muốn, chúng ta sẽ phải liên hệ mỗi bài giảng và toàn thể mục vụ giảng thuyết với mục đích đó.

Những sách viết về giảng thuyết đôi khi đề nghị các mục tiêu cho bài giảng như chỉ dạy, truyền cảm hứng, khuyến khích lòng mộ đạo, truyền giáo, thánh hiến v.v. Những mục tiêu này cho biết điều vị giảng thuyết muốn thấy thể hiện nơi người nghe như là kết qủa của bài giảng. Mục đích lâu dài cho việc giảng thuyết cũng là quan tâm của chủ chăn khi muốn cho giáo dân thăng tiến. Chúng ta biết là một bài giảng không thể làm được việc đó và không đưa đến kết qủa thăng tiến mà chúng ta mong muốn nhìn thấy.

Không đạt được kết qủa mong muốn trong việc giảng thuyết thường là nguyên do trầm trọng gây nên thất vọng chán nản cho các vị mục tử. Những người làm các cuộc thăm dò về vấn đề này cho biết là hầu hết tình trạng “tàn cháy mục vụ” là bởi không đạt được những điều mong muốn. Và điều không nghi ngờ là các vị giảng thuyết có sự mong muốn khá cao cho các bài giảng của họ. Giảng thuyết gần như là tâm điểm cho ơn gọi và tình liên hệ của họ đối với Thiên Chúa. Nhưng lòng nhiệt thành trong việc học hỏi thường bị đè bẹp ở gian thánh.

Phải thú nhận là trong nhiều năm, mục đích trong việc giảng thuyết của tôi là “nói theo sự thật nhìn thấy.” Tôi mong muốn sửa bảo giáo dân ngồi trong ghế nhà thờ. Nếu họ chỉ làm theo những gì tôi nói họ làm, (dĩ nhiên là từ Thiên Chúa), thì tất cả đều vui vẻ hạnh phúc và là những Kitô hữu mang đầy hoa trái; và giáo xứ sẽ là một thành công lớn. Trong khi mục đích của tôi là sửa dạy giáo dân, mong đợi của họ lại là muốn nghe vài lời để đáp ứng theo nhu cầu của họ, và mục đích của Thiên Chúa cho việc rao giảng của tôi lại đơn giản là giúp giáo dân tin tưởng vào Ngài.

Tôi đã đưa đến kết luận là đối tượng căn bản của giảng thuyết là đức tin. Đó là việc đáp theo duy nhất trên tất cả mọi điều khác chúng ta mong nhìn thấy nơi người nghe. Tuy vậy, hầu hết  chúng ta lại coi điều đó là việc dĩ nhiên. Trong khi chúng ta có thể đồng ý đức tin là điều mong đợi phải có, chúng ta lại không hoạch định các bài giảng cho đức tin. Chúng ta thường nhắm đến những thái độ đáp theo mang lại kết qủa tức thời bên ngoài. Hoặc chúng ta chẳng nhắm đến bất cứ một sự đáp theo nào cả. Nhiều khi việc giảng chỉ nhằm giảng cho xong mà không làm cho vị giảng thuyết bị coi là “dở.”

Trong chương này chúng ta nhằm vào mục đích giảng thuyết thực hành của Thánh Kinh, để tăng đức tin nơi Thiên Chúa trong điểm cá biệt của vấn đề trong bài giảng. Thực tập trong chương này là Nhắm đến việc Đáp theo Đức Tin. Khiếu thuật để chuẩn bị bài giảng chúng ta muốn củng cố là: Qui hợp mọi khía cạnh của thiết kế bài giảng vào mục đích đáp lại theo đức tin nơi người nghe. Khi chúng ta hoạch định cho các bài giảng với mục đích này, việc giảng của chúng ta sẽ có giọng điệu khác, gồm một nội dung khác, và sẽ có được sự đáp theo khác.

Chúng ta hãy thử coi xem việc hoạch định các bài giảng theo một mục đích là việc đáp theo đức tin là điều có lý hay không.

Kế Hoạch của Thiên Chúa cho việc Rao Giảng

Rao giảng là một phần trong chương trình của Thiên Chúa về việc mạc khải của Ngài cho con người. Rô-ma 10:14 nói, “Làm so họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà họ nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?” Trong loại câu hỏi này, thánh Phao-lô cho thấy rõ là ý của Thiên Chúa trong việc rao giảng là để cho người ta nghe, tin và kêu cầu tới Thiên Chúa.

Mục đích này cũng được nhắc đến nơi tác giả gởi tín hữu Do Thái khi nói về việc mạc khải của Thiên Chúa, “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cho cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (DT 1:1-2). Tác giả đã cảnh giác người đọc không được bỏ qua việc đáp theo bản tin giống như dân Is-ra-en khi xưa nơi hoang địa. “Quả thế chúng ta đã được nghe loan báo Tin Mừng như những người kia. Nhưng lời họ đã nghe không sinh ích gì cho họ, bởi vì những kẻ đã nghe không lấy đức tin đáp lại lời giảng.” Mục đích của rao giảng là Đức Tin.

Định Nghĩa: Rao Giảng Cho Đức Tin

Mục đích chung của việc giảng thuyết là kêu gọi đức tin nơi người nghe. Rao giảng cho đức tin có nghĩa là hoạch định mọi yếu tố trong việc thiết kế bài giảng để đạt được mục đích đó.

Bởi vì Tin theo Thánh Kinh là mục tiêu được nhắm đến, trọng tâm của giảng thuyết phải là đối tượng của đức tin, là chính Thiên Chúa. Vị giảng thuyết khơi tăng đức tin bằng việc hướng người nghe về Thiên Chúa, về đặc tính của Ngài, quyền năng của Ngài, về các ý định của Ngài, và chứng tích ghi dấu về Ngài.

Không những vị giảng thuyết chỉ đặt kế hoạch cho các bài giảng theo đức tin; họ cũng phải kiểm xét triết lý mục vụ của họ và sự hiểu biết của họ về đời sống Kitô Giáo nơi trọng tâm của đức tin. Rao giảng cho đức tin đòi vị giảng thuyết phải có nền tảng trong đức tin.

Thực có lý để tìm sự đổi mới nơi người nghe, dù sự đổi mới đó có sinh ra bởi đức tin hay không. Nhưng, như thường được xẩy ra, cái dường như có lý thì lại không phù hợp với Thánh Kinh. Nếu vị giảng thuyết mong có sự vâng lời, họ phải giảng cho đức tin.

Những ý niệm về đức tin và vâng lời nơi Thánh Kinh gắn bó với nhau như hai khía cạnh của một tư tưởng không thể phân cách khỏi nhau. Không thể có sự vâng lời chân thật mà không có đức tin, giống như là không thể có đức tin chân thật mà không có sự vâng lời. Ngăn cản khuôn mẫu này và giảng vâng lời không đức tin là đi ngược lại các mục đích của Thiên Chúa.

Việc cải hối chân thật chỉ đến bởi đức tin. “Hãy tin vào Chúa Giê-su, thì ông và cả nhà sẽ được cứu độ” (Cv 16:31). Chỉ có tình liên hệ với Thiên Chúa là đặt niềm tin nơi Ngài. “Không có đức tin, thì không thể là đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” (Dt 11:6). “Người công chính sẽ được sống nhờ lòng thành tín của mình” (Kha-ba-cuc 2:4).

Sự đo lường về một người Kitô hữu không phải là sự đo lường về nhân đức, về mục vụ, về đời sống luân lý, về tinh thần đóng góp, hay về bất cứ tiêu chuẩn nào khác chúng ta có thể nêu ra. Cho dù tất cả mọi yếu tố của các đặc tính này đều quan trọng, sự đo lường chân thật về một Kitô hữu là đức tin của họ. Thánh Phao-lô viết, “Dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi xin nói với từng người trong anh em: đừng đi qúa mức khi đánh gía mình, nhưng hãy đánh gía mình cho đúng mức, mỗi người tùy theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho” (Rm 12:3). Mọi đức tính hay việc làm tốt khác đều phải phát xuất từ đức tin.

Làm thế nào để một người có được đức tin hư thế? Đức tin là qùa ban tặng từ Thiên Chúa. Và phương cách Thiên Chúa ban đức tin đó thật rõ ràng. “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm 10:17). Nó là như vậy, bởi vì bản tin Thiên Chúa dành cho con người liên quan đến Ngài như Ngài được tỏ ra nơi Đức Kitô. Chân lý đó về Thiên Chúa có ảnh hưởng sâu thẳm nơi tinh thần con người. “Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rm 1:16).

Khi một người được đối diện với chân lý mặc khải của Thiên Chúa, Thánh Thần khơi lửa đức tin nơi lòng họ để họ có thể đáp lại theo chân lý đó. Thánh Thần nói, “Điều ngươi nghe là sự thật. Ngươi có thể tin được. Ngươi có thể tin tưởng là Thiên Chúa hiện hữu và Ngài ban thưởng cho những ai thành tâm tìm Ngài.” Là những nhà giảng thuyết, chúng ta cùng làm việc với mục vụ của Thánh Thần khi Ngài xác nhận bản tin của Thiên Chúa nơi người nghe.

Thật là một khích lệ lớn và một sự nhẹ nhõm chân lý này mang lại cho vị giảng thuyết. Ta không phải tạo ra những đổi mới và thăng tiến nơi đời sống của người giáo dân. Ta chỉ là người mang tin từ Thiên Chúa để trình bày chân lý của Ngài cho họ - chân lý về Ngài là ai và Ngài làm gì trong thế giới, chân lý về tình yêu bao la của Ngài nơi Đức Giê-su Ki-tô, chân lý về đời sống vinh quang và ân sủng. Đó chính là chân lý khơi dậy đức tin, chân lý giải phóng con người.

Thật quan trọng để chúng ta nhìn cẩn thận vào các mục tiêu giảng thuyết. Mọi kết qủa mong đợi nơi đời sống của người giáo dân phải nẩy sinh từ đức tin. Bất cứ những động lực nào khác - cảm nghiệm tội lỗi, lo sợ, cảm thương, trách nhiệm tôn giáo, tận tâm dấn thân - đều chết và trần tục nếu không có đức tin. Thánh Phao-lô viết, “Hành động nào không do xác tín đều là tội” (Rm 14:23). Dù các động lực thúc đẩy nhân loại luôn lẫn lộn, việc đáp theo của chúng ta đối với Thiên Chúa phải đặt nền tảng cuối cùng ở việc tin tưởng nơi Ngài khi Ngài tỏ chính mình ra nơi Đức Kitô.

Bạn nên nhìn kỹ vào các bài giảng của bạn để xem chúng có được thiết kế để khơi dậy đức tin nơi người nghe hay không. Nhìn vào ý định của riêng bạn khi truyền đạt bản tin xem chủ ý khơi dậy đức tin có ở đó không. Không có gì Thiên Chúa mong đợi nơi dân của Ngài mà không đặt nền tảng nơi lòng tin của họ vào Ngài. Bạn giảng thể nào cho đức tin? Điểm khởi đầu là kêu gọi chú ý vào Đấng chúng ta tin tưởng.

Tin Nơi Chúa hay Giảng Để Làm Tốt Hơn?

Bao nhiêu phần của việc giảng thuyết bạn nghĩ là dành cho việc cải tiến làm tốt hơn,và bao nhiêu phần là nhấn mạnh đến việc tin tưởng vào Thiên Chúa? Tôi vẫn tiếp tục đặt câu hỏi như thế đối với các vị giảng thuyết. Nói như thế có nghĩa là việc rao giảng nhắm vào việc giúp cho cộng đoàn sống khá hơn trong các hành vi đạo đức luân lý so với việc rao giảng nhằm vào việc giúp cho thính giả đặt niềm tin nơi Thiên Chúa trọn vẹn hơn. Đa số các vị giảng thuyết xác nhận là 90 đến 95 phần trăm của việc rao giảng của họ là nhấn mạnh đến việc giúp cộng đoàn làm việc và sống khá hơn trong các hành vi đạo đức luân lý, trong khi chỉ có 5 đến 10 phần trăm nhằm đến việc nâng cao lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa. Điều này cho thấy hầu hết các vị giảng thuyết nghĩ là mục đích tiên khởi của giảng thuyết là canh tân đạo đức luân lý.

Tôi tin là việc kêu gọi giáo dân tuần này qua tuần khác phải sống tốt hơn sẽ gặt hái được rất ít. Họ qúa quen thuộc với  loại giảng “mo-ran” này. Nó thường không được đón nhận cách thiết tha. Tất cả chúng ta đều biết là mình phải sống tốt hơn. Và cả Thiên Cung cũng biết là chúng ta muốn sống tốt hơn. Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là làm thế nào để chúng ta sống tốt hơn.

Đây chính là nơi mà thách đố của giảng thuyết cho đức tin có lợi điểm. Bởi việc giảng cho tinh thần tin tưởng nơi Thiên Chúa, vị giảng thuyết thực sự tạo điều kiện để người nghe thăng tiến trong đời sống Kitô giáo của họ. Thực ra, cách duy nhất họ có thể sống tốt hơn là học biết tin tưởng nơi Thiên Chúa về những lo lắng ưu tư riêng của họ. Do đó tất cả mọi bài giảng phải nói đến cảm nghiệm thực tế của đời sống trong tinh thần phù trợ xứng hợp của Thiên Chúa.

Có qúa nhiều giảng thuyết về luân lý đạo đức. Cho dù nhiều vị mục sư giảng phúc âm chối bỏ thần học làm việc để công chính hóa, họ lại thường giảng ‘then chốt’ cho tình liên hệ công chính với Thiên Chúa là canh tân đời sống luân lý. Tôi thường tự hỏi khi một vị giảng thuyết luôn đặt nặng ở việc đòi buộc theo lề luật thì chả nhẽ lòng của họ không phải là qúa thiên nặng về luật pháp.

Một người chồng trẻ dự định mua bảo hiểm sức khỏe, nhưng vợ anh nói là cô ta không cảm thấy đúng để làm như thế. Cô không tin tưởng nơi hãng bán bảo hiểm. Cô nhất định ngăn cản không đồng ý cho chồng mua bảo hiểm. Bạn giải quyết tình trạng đó bằng cách nào? Một đàng người chồng có thể phê bình cô vợ là thiếu lòng tin. Anh ta có thể kết tội cho là cô ta cứng đầu và cần phải có sự tin tưởng hơn. Anh ta cũng có thể nói với cô vợ là cô ta nên tỏ ra biết ơn vì anh đã dùng nhiều thời giờ để đọc bản chính sách cho bảo hiểm. Cách này căn bản là coi việc chống đối của cô ta như là một thái độ cư xử.

Đàng khác, anh ta có thể nói về việc nghi ngờ của cô vợ bằng cách chú tâm đến uy tín của hãng bảo hiểm. Thí dụ như anh ta có thể nói về những điểm tốt về hãng bảo hiểm và về những người lập nên hãng bảo hiểm. Anh có thể đưa cho cô ta xem bản hồ sơ báo cáo tài chánh để thấy hãng bảo hiểm có bao nhiêu tiền trong ngân qũy của họ. Anh có thể duyệt qua bản chính sách và giải thích điều mà hãng bảo hiểm hứa hẹn sẽ làm khi nhu cầu sức khỏe của gia đình cần đến. Anh có thể nhờ một người bạn đã mua bảo hiểm với hãng bán bảo hiểm đó, và để người bạn đó nói về sự hài lòng của họ đối với việc phục vụ của hãng bảo hiểm.

Cách nào trong hai cách trên bạn nghĩ là sẽ giúp củng cố lòng tin tưởng của cô vợ trẻ đó? Đó là điều dễ dàng để nhìn ra. Đưa sự chú ý của cô ta ra khỏi sự nghi ngờ, để đến với đối tượng của lòng tin tưởng, người chồng đã có thể giải quyết được vấn đề. Nếu anh chồng đã phàn nàn về thái độ cư xử của vợ và đòi cô phải làm khá hơn, anh ta chỉ tạo thêm bất đồng trong khi chả giải quyết được vấn đề.

Công Nhận Uy Tín của Thiên Chúa

Giống như thế trong việc giảng thuyết. Bạn chỉ có thể xây dựng đức tin để thay đổi đời sống bằng việc không nhắm vào người tin, nhưng nhắm đến Đấng họ tin tưởng. Đức tin không được tạo thành bởi việc kêu gọi tin. Nó cũng không được tạo thành bằng việc chỉ trích thiếu đức tin hay là vô tín. Đức tin chỉ được tạo thành qua việc nại vào uy tín nơi đối tượng của đức tin.

Đối tượng của đức tin là chính Thiên Chúa. Ngài là nguồn gốc của tất cả mọi sự cho đời sống người Ki-tô hữu. “Bởi vậy, vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa” (Rm 4:16). Nguyên tắc này tiếp tục duy trì trong Thánh Kinh. Bất cứ ân sủng nào đều là do bởi đức tin. Nếu không nhờ đức tin, nó không thể là ân sủng. Điều đó cho chúng ta sự chọn lựa rõ ràng là giảng cho đức tin, hoặc theo đuổi một đường lối dẫn giáo dân đi ra ngoài nguồn ân sủng của Thiên Chúa.

Nếu giảng thuyết nhắm vào kết qủa ở việc đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa hơn là sống tốt hơn, thì giảng thuyết phải được hoạch định để chú trọng đến Thiên Chúa và uy tín của Ngài. Điều này đưa chúng ta đến việc tra khảo uy tiến của Thiên Chúa. Chúng ta có thể công bố uy tín của Thiên Chúa trong cùng những cách chúng ta nêu ra trong câu truyện mua bảo hiểm sức khoẻ.

Công bố uy tín của Thiên Chúa có nghĩa là  rao giảng về ưu phẩm của Ngài.Cách giảng này thuộc chỉ định thì, nhấn mạnh đến sự thật. Thiên Chúa là Đấng trung tín. Ngài là Tình Yêu. Ngài là vị Chăn Chiên, là Đá Tảng, và là Thành Lũy. Thiên Chúa không bao giờ thay đổi. Ngài là người Cha nhân từ, là người làm vườn, là Vua vũ trụ. Tất cả đức tin của chúng ta nhắm vào Thiên Chúa trong ngôi vị của Ngài. Rao giảng về ưu phẩm của Thiên Chúa là công bố uy tín của Ngài.

Công bố uy tín của Thiên Chúa cũng bao gồm việc rao giảng về các quyền năng của Ngài. Thiên Chúa có thể làm gì? Nếu Ngài không thể hành động trong đời sống của các tín hữu, đức tin của chúng ta sẽ bị lệch lạc. Nhưng nếu Ngài có thể làm tất cả những gì cần làm, Ngài thật đáng để chúng ta tin. Thiên Chúa quyền năng vô hạn. Ngài thông suốt mọi sự. Ngài quảng đại vô lường, nhân từ và khoan dung với mọi người. Ngài có thể lắng nghe chúng ta khi chúng ta kêu cầu trong mọi ngôn ngữ. Ngài có thể nhìn thấy mọi nhu cầu của chúng ta. Ngài có thể nói cho chúng ta bất cứ điều gì. Ngài toàn năng.

Công bố uy tín của Thiên Chúa đòi rao giảng về các ý định của Ngài.  Đức tin được thức tỉnh  khi chúng ta nhận ra điều Thiên Chúa đã hứa trong Thánh Kinh. Có cả hàng muôn ngàn lời hứa, cho tất cả mọi nhu cầu của con người. Thiên Chúa chỉ muốn sự tốt lành cho chúng ta. Giê-rê-mi-a viết, “Vì chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi - sấm ngôn của Đức Chúa -, kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng” (Gr 29:11). Lời công bố vô thời gian này bảo đảm cho các tín hữu về ý định của Thiên Chúa cho đến ngày nay.

Công bố uy tín của Thiên Chúa bao gồm việc rao giảng về ấn dấu của Ngài. Bất cứ ai đáng tin đều lập thành tích cho sự tin cậy với một thành tích lý lịch tốt. Thánh Kinh ghi nhận những công việc vĩ đại của Thiên Chúa cho dân của Ngài. Thường thấy trong các bài giảng và các thánh vịnh của người Do Thái nhắc nhớ đến những việc Thiên Chúa đã làm cho họ. Họ không bao giờ mỏi mệt kể đi kể lại những câu truyện đó. Chính những câu truyện đó đã làm cho người Do Thái có can đảm giữa những khó khăn. Các nhà giảng thuyết cũng phải như vậy để giúp cho người nghe thăng tiến trong đức tin. Chúng ta phải rao giảng các ấn dấu thành tích lý lịch của Thiên Chúa.

Tôi khuyến khích bạn giảng để đặt niềm tin nơi Thiên Chúa thay vì để làm tốt hơn. Để làm được việc này đòi phải chú tâm đến đức tin trong mọi khía cạnh của việc thiết kế bài giảng.

Thiết Kế Bài Giảng và Đức Tin

“Dường như họ lắng nghe, nhưng họ có thực sự nghe được không?” Câu hỏi đó , được nó ra hay không, quấy nhiễu trong đầu của vị giảng thuyết. Bởi vì “Ấy vậy, có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe là nghe công bố lời Ki-tô” (Rm 10:17), chúng ta, các vị giảng thuyết, cần biết làm thế nào để có được việc nghe đó. Chúng ta cần biết cách hoạch định thiết kế bài giảng để giữ đúng mục đích giảng cho đức tin.

Từ ngữ “nghe” ở đây không có nghĩa là một sự chú ý bình thường về điều được nói ra. Ý nghĩa câu “Ấy vậy, có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe là nghe công bố lời Ki-tô” (Rm 10:17) là nghe bằng đức tin. Nghe bằng đức tin cũng được nói đến trong Ga-la-ta 3:2 và 5: “Anh em nhận được Thần Khí vì đã làm những gì Luật dạy, hay vì đã tin nhờ được nghe? . . . Vậy Đấng đã rộng ban Thần Khí cho anh em và thực hiện những phép lạ giữa anh em, có phải vì anh em làm những gì Luật dạy, hay vì anh em đã tin nhờ được nghe?”

Khi nghĩ đến những cản trở phải vượt qua trước khi một tư tưởng mối được tiếp thu, thì nó là một điều lạ chúng ta có thể có trong việc nghe giảng. “Thật vậy tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55:8). Người ta không bình thường nghĩ theo tư tưởng của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta những nhà giảng thuyết, nhắm làm cho họ chấp nhận những tư tưởng đó  sau nửa giờ giảng giải. Chúng ta mong có mức độ lắng nghe để tiếp thu bản tin, chấp nhận bản tin, đưa nó vào suy nghĩ và hành động theo nó.

Ở giai đoạn này sự sống động của mạc khải hòa trộn với những công việc của truyền thông nhân loại. Bài giảng có nghĩa nhiều hơn là một bài nói chuyện về tôn giáo. Nó là một phương tiện mạnh giúp khơi động đức tin để biến đổi. Vị giảng thuyết có thể giữ trong đầu óc mục đích đức tin này ngay khi bắt đầu giải thích bản văn. Họ có thể hoạch định tư tưởng bài giảng và các lời công bố phân bộ cho đức tin. Khai triển, cũng thế, có thể được hoạch định cho đức tin. Hãy

Việc Khai Triển
 
Giải thích
Dẫn giải
Biện luận
Áp dụng
Thu Hút
Trí khôn
Óc Tưởng tượng
Lý luận
Sinh động
Đích Nhắm
Trong sáng
Sống động
Tán đồng
Thực tế
Đáp Theo
Hiểu thông
Tưởng tượng
Chấp nhận
Có ý định
Đức Tin
Tạo ý niệm
Hình dung ra
Hữu lý hóa
Thực hiện hóa

Đức tin chờ đợi những ý tưởng mới để được đâm rễ. Để thực sự nghe được, một ý tưởng mới trước hết phải được tạo thành ý niệm. Nó phải được trình bày sáng sủa đủ để có thể hiểu được. Đây là trách nhiệm của giải thích trong việc khai triển bài giảng. Sau khi công bố nguyên tắc Thánh Kinh như là lời công bố phân bộ, chúng ta giải thích nó để người nghe có thể đáp lại là “Tôi hiểu điều ngài nói.”

Đây chưa có nghĩa là họ đã chấp nhận ý tưởng đó. Nó chỉ có nghĩa là họ đã hiểu điều đó thôi. Đây là điều cần đối với mạc khải đưa đến đức tin. Kiến thức mới đòi phải có, những cái nhìn mới và các nguyên tắc mới được đặt nền tảng trên sự thật về Thiên Chúa và mục đích của Ngài. Kiến thức mới này phải được công bố và giải thích trong cách thế để người nghe hiểu được.

Đây là cách mà mạc khải làm việc. Đây cũng là cách con người làm việc. Đây là cách mà đức tin được khơi động. Đây là lý do tại sao các ý niệm bài giảng của chúng ta phải được viết cách rõ ràng và chính xác. Đây chính là lý do tại sao việc khai triển bài giảng đòi phải có giải thích. Trong yếu tố này có mang theo ý niệm căn bản khiến cho bản tin được nghe và đón nhận. 

Đức Tin chờ đợi nhìn thấy điều vô hình. Một người thường sẽ làm ngơ với bất cứ tư tưởng nào không gây chú ý cho óc tưởng tượng của họ. Đây là cản trở thứ hai đối với sự hữu hiệu trong việc truyền thông và đức tin. Các chuyên gia về trí nhớ đã chứng minh rằng cách tốt nhất để nhớ là hình dung ý tưởng đó ra.Những điều chúng ta mau quên thường là những điều chúng ta đã không hình dung nó ra được.

Chúng ta đã qúa quen thói tin vào các cảm giác để nói cho chúng ta biết về những gì ở chung quanh chúng ta; do đó chúng ta tự nhiên cảm thấy là bất cứ điều gì chúng ta không thể nhìn thấy thì đều là không có thật. Vì sự thật của thế giới siêu nhiên không nằm trong lãnh vực cảm xúc, trí khôn của chúng ta chỉ chấp nhận sự thật thiêng liêng nếu nó có thể hình dung ra được cách sống động. Giống như các tác giả Thánh Kinh đã làm, chúng ta phải đưa sự thật thiêng liêng vào các hình ảnh nơi dương thế để trí óc con người có thể nắm bắt được. Trong thực tế, nhìn thấy là tin. Đức tin của chúng ta đòi hỏi sự thật được hình dung ra. Do đó việc rao giảng của chúng ta không được trừu tượng và qúa tổng quát chung, nhưng phải cụ thể, và cá biệt, với những hình dung từ, giúp trí khôn nhìn ra được.

Đức Tin mong đợi sự biện luận hóa. Trí khôn con người đã có quyết định. Đây là cản trở thứ ba đối với mạc khải và đức tin. Một người đã thu nhặt, suốt cả đời, một kho kiến thức, tư tưởng, ý kiến, và các kết luận mà họ cho là đúng. Khi bạn giới thiệu bản tin mới trong bài giảng, họ có thể không đồng ý. Nó phải được làm cho phù hợp với cái họ đã biết là đúng. Nếu không nó sẽ không có lý đối với họ.

Vị giảng thuyết khá phải biết thính giả của mình nghĩ thế nào. Các ý tưởng chung nào được chấp nhận? Những tư tưởng này đối nghịch với chân lý Thánh Kinh thế nào? Làm thế nào để chứng minh vấn đế là được hữu lý theo các chân lý của bài giảng đối với lối suy nghĩ của người nghe? Những điểm đồng ý chung nào có thể giúp nối khoảng cách?

Đức tin chờ đợi ở tiến trình biện luận hóa này. Cho dù có thể có những chỗ không có kết thúc, nhưng trí khôn phải có thể có trường hợp hữu lý để chấp nhận bất cứ một niềm tin nào đó. Trong việc khai triển bài giảng  chúng ta gọi nó là “Tranh luận.” Con đường đưa tới sự biến đổi thiêng liêng là việc ‘canh tân trí khôn” (Rom 12:2). Có đầy đủ dữ kiện, từng phần một, phải được nối kết với những điều mà người nghe đã chấp nhận để có thể tạo ra cho họ biện luận mới với quan điểm của Thánh Kinh.

Đức Tin chờ đợi những hướng dẫn cá biệt. Trí khôn con người  không đón nhận các ý tưởng không có ý nghĩa thực dụng cho đời sống. Điều này tạo nên khó khăn khác đối với việc rao giảng cho đức tin. Khi đối diện với những tư tưởng tôn giáo trừu tượng không hợp thời, người ta đặt câu hỏi, “Nhưng nó có ý nghĩa cho cái gì?” Quan tâm về những vấn đề cá nhân khiến họ lượng gía mọi ý tưởng mới xem nó có thể giúp gì cho đời sống của riêng họ.

Đức tin Thánh Kinh không thể khác và không thể là triết lý. Nó là vấn đề của đời sống và của tình liên đới. Chân lý Thánh Kinh không phải để tranh luận và bàn thảo cho vui hay để kích thích trí khôn. Nó kêu mời việc đáp theo từ nơi người nghe, để họ thực hiệu hóa trong cảm nghiệm riêng. Điều này đòi các bài giảng phải có cái mà chúng ta gọi là áp dụng thực hành.

Thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh, “Đức tin không có hành động thì qủa là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo: “Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tối thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2:17-18). Thánh Kinh nói rõ niềm tin và hành vi phải đi đôi với nhau. Đức tin không bao giờ hành động thì không phải là đức tin theo Thánh Kinh. Điều này dĩ nhiên là đòi hỏi rao giảng phải giới thiệu những hành động rõ ràng và cá biệt.

Chính Chúa Giêsu nói cho chúng ta nguyên tắc phải có trong việc giảng và nghe giảng, “Không phải bất cứ ai kêu ‘lạy Chúa, lạy Chúa’ sẽ được vào nước trời, nhưng chỉ có người nghe và thực hành ý của Cha trên trời” (Mt 7:21-27).

Tóm lại, chúng ta có thể nói là việc khai triển bài giảng giúp xây dựng đức tin bằng cách giúp vượt qua những cản trở tự nhiên đối với sự suy nghĩ mới nơi trí óc con người. Để cho các chân lý của lời Chúa có hiệu lực trong đời sống, chúng phải được tạo thành ý niệm, hình dung hóa, biện lý hóa và thực hiện hóa.

Ngôn Ngữ Đức Tin

Ngôn ngữ chúng ta dùng trong bài giảng bày tỏ quan niệm của chúng ta về thính giả và những mong muốn của chúng ta về họ. Ngoài đó ra, ngôn ngữ của chúng ta bày tỏ những giải  thích riêng của chúng ta về đời sống Ki-tô giáo. Thường thường một bài giảng sẽ nói nhiều về đức tin của chúng ta và tư cách của chúng nhiều hơn là chúng ta nghĩ. Khía cạnh căn bản của ngôn ngữ có thể là biểu thị, truyền khiến đòi buộc, hay giả định. Ba diễn từ này được dùng để chỉ các thì  trong văn phạm.

Giảng thuyết hầu như ở hình thức truyền khiến đòi buộc. Nó được thiết kế để bảo người nghe phải làm gì, ra các mệnh lệnh hay các chỉ thị. Đây là cái mà chúng ta gọi là giảng để làm tốt hơn. Loại giảng này nhìn cộng đoàn như là họ thiếu sót không đủ tiêu chuẩn và công việc của vị giảng thuyết là sửa bảo họ. Những diễn từ thông dụng trong lối giảng truyền khiến đòi buộc là: Phải, nên, cần.

Cách diễn tả thông dụng nhất là “Chúng ta cần phải . . .” Thường xuyên dùng cách diễn tả này chứng tỏ là vị giảng thuyết không hài lòng với cách sống của cộng đoàn giáo dân. Điều đó dĩ nhiên ám chỉ là “Thiên Chúa không hài lòng với qúi vị.” Tuần này qua tuần khác giáo dân phải nghe liên tục lời, “Chúng ta cần phải . . .”, chỉ cho họ biết là họ tiếp tục sống không đúng tiêu chuẩn đòi hỏi nơi họ. Bởi đó, đời sống Kitô giáo được giới thiệu như là một nỗ lực luân lý với rất ít hy vọng đạt được tiêu chuẩn.

Một số cách giảng cũng ở trong thái độ giả định. Trong văn phạm thể giả định được dùng cho các lời công bố trái với sự thật. Đây không có nghĩa là nói dối. Nó được ám chỉ tới trạng thái lúc này chưa phải là thật, nhưng cho là, hay mong muốn nó là thật. Một vài thí dụ: “Nếu bạn và tôi tha thiết cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy phép lạ.” “Nếu chúng ta là những người biết quan tâm hơn, chúng ta sẽ mở vòng tay ra với những người hàng xóm.” “O! ước gì quyền năng của Thiên Chúa đổ xuống vùi dập lũ điên đó!”

Rao giảng theo lối giả định chú trọng ở điều có thể thay vì nó thực sự có. Những thực tế của cuộc sống không được nói đến ở những cách cụ thể. Một cách nào đó nó như nói lên một điều lý tưởng và hoài nghi không thể có trong thực tế. Lối giảng này không tập trung ở điểm thực tế vào lúc này.

Có chỗ cho truyền khiến đòi buộc và giả định trong giảng thuyết. Các lệnh truyền và những chỉ dạy trong toàn bộ Thánh Kinh phải được tuân theo. Cũng có sự hy vọng đến thời gian khi Thiên Chúa sẽ làm cho tất cả mọi sự đúng theo ý của Ngài. Những viễn cảnh này phải đưọc coi là quan trọng. Nhưng diễn giải đời sống Kitô hữu chỉ ở trong khuôn khổ truyền khiến đòi buộc, hay như trong những hy vọng, là thiếu sót trong việc đem áp dụng toàn diện Thánh Kinh.

Bản tin chính của Thánh Kinh là Thiên Chúa là Đấng hiện hữu bây giờ, Ngài có thể, ở tuơng lai và trong qúa khứ. Đây là những lời công bố biểu thị. Bạn thấy trong những lời công bố đức tin này bốn khía cạnh công nhận uy tín của Thiên Chúa: Đặc tính về Ngài, Quyền Năng của Ngài, Ý định của Ngài, và ấn dấu về Ngài. Bất cứ sự nhấn mạnh truyền khiến đòi buộc hay giả định nào đều phải được dùng trong bối cảnh giảng thuyết biểu thị căn bản. Mọi cái đều được đặt trên nền tảng uy tín của Thiên Chúa.

Tôi luôn luôn ngỡ ngàng thấy có nhiều bài giảng Tin Mừng qúa chú trọng đến con người. Đối với tôi, Thánh Kinh là về Thiên Chúa. Trước tiên phải là Thần Học, chứ không phải là Nhân Chủng Học. Thay vì suy tư nhấn mạnh về bản tính của Thiên Chúa, một số loại giảng thuyết lại qúa chú trọng suy tư đến tội lỗi của con người. Điều này đến từ sự thất đảm tiêu cực của vị giảng thuyết hơn là từ việc học hỏi nơi Thánh Kinh. Các vị giảng thuyết không được bảo vệ tránh khỏi khuynh hướng trút đổ những buồn nản xuống trên giáo dân thay vì phục vụ họ.

Không có lối giảng thuyết biểu thị về Thiên Chúa - đặc tính của Ngài, quyền năng của Ngài, Ý định của Ngài, và ấn tích về Ngài – thì sẽ không có điểm tham khảo cho các thái độ và hành vi của con người. Cũng chẳng có hy vọng cho việc thăng tiến. Mục đích của Ki-tô hữu không phải là tính ngay thẳng về luân lý. Mục đích là vinh danh Thiên Chúa! Ai cũng có thể cố gắng sống luân lý tốt. Chỉ có Ki-tô hữu có thể sản xuất hoa trái làm vinh danh Thiên Chúa Cha. “Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở nên môn đệ của Thầy”(Ga 15:8).

Một Trường Hợp cho “Có Thể”

Nếu bản tin chính của Thánh Kinh là về Thiên Chúa, thúc đẩy căn bản cho giảng thuyết phải là biểu thị (indicative). Trong việc giảng về sự thật Thiên Chúa hằng sống, chúng ta giảng đức tin. Trong việc công nhận uy tín của Thiên Chúa, chúng ta nhấn mạnh Ngài hiện hữu, Ngài có thể, Ngài sẽ, và Ngài đã. Những diễn từ này diễn tả chân lý về tính của Thiên Chúa, về khả năng của Ngài, về các ý định của Ngài và các ấn tích của Ngài (các ghi dấu về Ngài).

Như thế chúng ta sẽ nói gì với người nghe khi chúng ta thách đố họ? Làm thế nào để vị giảng thuyết vượt qua khỏi cái thói quen luôn nói “chúng ta phải, chúng ta cần phải, chúng ta nên, chúng ta bắt buộc phải?” Diễn từ tốt nhất dùng để duy trì khía cạnh biểu thị trong khi thách đố thính giả là Có Thể. Khi nói “bạn có thể” là lời mời gọi đáp theo đức tin vào uy tín của Thiên Chúa. Bởi vì tất cả những gì chúng ta nói về Thiên Chúa, bạn có thể. Điều này không làm mất đi sự thật bạn là tạo vật mới trong Đức Ki-tô, và bạn sẽ sống muôn đời với Ngài. Nhưng bây giờ, trong những khó khăn và chiến đấu của cuộc đời, tin mừng cho bạn là “Bạn có thể!”

Thay vì nói cho giáo dân điều họ phải làm, chúng ta bỏ cái phải và nói cái có thể. Trong khi  phải, bắt buộc phải, nên, là những đòi buộc, có thể nói lên sự hứa hẹn. “Bạn phải yêu thương tha nhân" trở thành tư tưởng mới và thú vị khi nó là “Bạn có thể yêu thương tha nhân.” Sự thay đổi điểm nhấn mạnh này coi có vẻ nhẹ nhàng, nhưng nó có một ảnh hưởng lạ lùng. Nó đặt nhấn mạnh ở đức tin, tin tưởng là bạn có thể làm được, bởi vì Thiên Chúa sẽ làm. Điều này có nhiều sống động và hứng thú hơn là nghe nói bạn có bổn phận làm cái mà bạn không thể chu toàn.

Tất cả mọi câu nói “bắt buộc phải” trong áp dụng của bài giảng đều có thể dịch sang “có thể.” Nhưng khi làm như thế, bạn sẽ thấy buộc phải hỏi “làm thế nào?” “Bắt buộc phải” dường như không đặt ra câu hỏi như là “có thể.” Để trả lời cho câu hỏi đó, buộc bạn phải cung cấp những bước đức tin để người nghe mở lối, đi vào các nguồn cung cấp của Thiên Chúa cho việc vâng theo của họ. “Bạn có thể yêu thương tha nhân.” “Tôi có thể! thật vậy sao?” “Tôi có thể làm điều đó bằng cách nào?” Có nghĩa là “Tôi bắt đầu từ đâu?” “Có cái gì bí mật ở đây mà tôi chưa thấy bao giờ?” “Tại sao bạn có thể nói qủa quyết là tôi có thể?”

Ngay cả trong việc nó về tội lỗi, chúng ta dùng ngôn ngữ của đức tin. “Bạn cần phải đối diện với tính kiêu ngạo.”  trở thành, “Bạn có thể đối diện với tính kiêu ngạo.” Sự thay đổi điểm nhấn mạnh này buộc vị giảng thuyết phải chuẩn bị một câu trả lời cho câu hỏi “làm thế nào?” Vị giảng thuyết phải tìm trong Thánh Kinh những câu trả lời cho câu hỏi đó, để có thể nói cho người nghe cách thắng vượt tính kiêu ngạo.

Nói “bạn cần phải” là đặt gánh nặng trên vai người nghe. Họ không muốn mang cái gánh nặng đó. Họ đã có đủ điều để lo nghĩ. Họ đã có đủ gánh nặng để mang trong các trách nhiệm của đời sống. Họ thực sự cảm thấy được cất bớt gánh nặng đi thì đúng hơn. Họ muốn san sẻ bớt vài gánh nặng này cho Chúa. Nói “Bạn có thể” tạo nên một sự đáp theo hoàn toàn khác. Nếu bạn đang nói về một vấn đề có liên quan đến họ như là một Ki-tô hữu, họ sẽ bất chợt để ý đến điều bạn sẽ nói tiếp theo. Thay vì là một gánh nặng, bạn đã cho họ một hứa hẹn. Thay vị một bổn phận bó buộc, bạn đã giới thiệu một cơ hợi có thể. Cơ hội có thể này thức tỉnh đức tin cho vấn đề cá biệt mà bạn đang đề cập đến.

Có một số những từ ngữ khác nhau cho ý tưởng về tội lỗitrong Thánh Kinh. Ý tưởng thứ nhất là “Lạc mục tiêu.” Ý tưởng thứ hai là “Lỗi lề luật.” Ý tưởng thứ ba là “bỏ đường lối.”  Với ngôn ngữ của đức tin, chúng ta không chỉ nhấn mạnh rằng người nghe có thể cảm nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô; chúng ta đi xa hơn nữa. Chúng ta nói với họ là họ có thể nhắm đúng mục tiêu, tuân giữ lề luật, và bước đi trong đường lối ẩn sủng của Thiên Chúa.

Nói “có thể” thay vì “cần phải” cũng cho một giải thích khác về chính người đó. Thay vị một ám chỉ lên án, bạn trao ban một lá phiếu cho sự tin tưởng. NóI “Bạn cần phải” luôn luôn ám chỉ là bạn chưa làm điều cần phải làm.Nói “Bạn có thể” là đề nghị bạn có đầy đủ khả năng để làm điều bạn muốn làm. Bạn là một tạo vật mới trong Đức Ki-tô! Bạn sống do ân sủng của Thiên Chúa. Con người Ki-tô hữu nhút nhát và sợ sệt kia rất có thể sẽ thử cố gắng. Khi họ bước thử vài bước của đức tin, họ sẽ thấy sự tin tưởng lớn mạnh. Họ sẽ thấy đức tin mạnh mẽ hơn vì lệnh truyền kế tiếp trở nên điều có thể.

Hoàn Tất Thực Tập

Thực tập, “Giảng Cho Đức Tin” được thiết kế để tăng cường khiếu thuật hoạch định mọi khía cạnh của thiết kế bài giảng, cho đồng điệu với mục đích chung của việc đáp theo đức tin. Đây là những bước để hoàn tất thực tập và để thiết kế bài giảng cho việc đáp theo đức tin.

Bước thứ nhất. Nhận diện trong bản văn các ý tưởng về Thiên Chúa, mà những ý tưởng đó công nhận uy tín của Ngài. Những ý tưởng này có thể được trình bày trực tiếp hay gián tiếp, nhưng mỗi ý tưởng có nền tảng rõ trong bản văn.

Bước thứ hai. Dõi theo từ những chỉ dạy, những tranh luận, những áp dụng hay những hình ảnh trong bản văn, đến nền tảng của chúng trong ngôi vị của Thiên Chúa. Luôn luôn dùng thể chỉ thị (indicative) là căn bản cho truyền khiến đòi buộc.

Bước thứ ba. Thử tư tưởng bài giảng về sự thu hút đức tin của nó. Nó có được diễn tả trong ngôn ngữ chỉ thị không? Nó có cho sự củng cố vững tin không? Nó có căn bản thần học không?

Bước thứ tư. Kiểm lại mỗi câu công bố phân bộ về sự thu hút lòng tin và viết lại nếu cần.

Bước thứ năm.  Kiểm xét việc khai triển xem có sự quân bình đối với những cản trở cho đức tin trong bốn lãnh vực: Thông hiểu, tư tưởng khám phá ra được (insight), lý do, ý định.

Bước thứ sáu. Phân tích phần mở đề và phần kết về tính cách thu hút của đức tin.

Câu Hỏi Để Học Hiểu

  1. Tại sao đức tin là mục đích chính cho mọi giảng thuyết?
  2. Tại sao việc sửa sai không phải là mục đích tốt cho giảng thuyết?
  3. Giải thích ý nghĩa: công nhận uy tín của Thiên Chúa.
  4. Bốn lãnh vực nhấn mạnh chú trọng về Thiên Chúa  như là đối tượng của đức tin là gì?
  5. Giải thích từ ngữ: Tạo ý niệm, Hình dung ra, hữu lý hóa và thực hiệu hóa.
  6. Giải thích từ ngữ: Biểu thị, truyền khiến đòi buộc, và giả định.
  7. Trong những cách nào lời nói “có thể” có ảnh hưỏng nơi người nghe khác với những lời: Phải, bắt buộc phải, và cần phải?
  8. Giảng cho Đức Tin  Mục đích cho thực tập này là phát triển khiếu thuật hoạch định mọi khía cạnh của việc thiết kế bài giảng theo mục đích chung của việc đáp theo đức tin nơi người nghe.

    Bản Văn:

    • Nắm chắc là các tư tưởng bài giảng phải rõ ràng và viết hay.
    • Hoạch định việc thiết kế bài giảng chú trọng đến Thiên Chúa.
    • Để ý đến những yếu tố đức tin trong bản văn.
    • Viết các câu công bố phân bộ về uy tín của Thiên Chúa.
    • Hoạch định việc khai triển bài giảng để thu hút đức tin.
    • Hoạch định kết luận như lời mời gọi theo đức tin.

    Bài làm này bao gồm việc hoạch định thiết kế bài giảng như một việc thu hút về đức tin. Hãy hoàn thành thực tập theo những bước sau đây:

    1. Nhận diện trong bản văn các ý tưởng về Thiên Chúa nói lên Uy Tín của Ngài. Những ý tưởng này có thể được trình bày trực tiếp hay gián tiếp.
      • Ưu phẩm
      • Uy tín
      • Ý định
      • Ấn dấu
    2. Dõi theo tài liệu của bản văn các ngụ ý thần học ở đàng sau các lời công bố. Mọi chỉ thị, giải thích hay áp dụng có nền tảng trong ngôi vị của Thiên Chúa. Truyền khiến đòi buộc được đặt nền tảng nơi các biểu thị.
    3. Viết tư tưởng của bài giảng xuống như bạn đã công bố. Thử tính thu hút đức tin của nó.
      • Nó có tính cách biểu thị không?
      • Nó có trình bày một nguyên tắc đức tin không?
      • Nó có dùng ngôn ngữ đức tin không?
      • Nó có cho người nghe cảm thấy được trấn an không?
      • Nó có tính cách thần học không?
      • Nó có công nhận uy tín của Thiên Chúa không?
    4. Kiểm xét mỗi lời công bố phân bộ. Nó có đạt được tiêu chuẩn mục đích đức tin không?
      •   Nó có tính cách biểu thị không?
      • Nó có trình bày một nguyên tắc đức tin không?
      • Nó có dùng ngôn ngữ đức tin không?
      • Nó có cho người nghe cảm thấy được trấn an không?
      • Nó có tính cách thần học không?
      • Nó có công nhận uy tín của Thiên Chúa không?
    5. Kiểm xét toàn bộ việc khai triển và xem xét sự quân bình của các cản trở đối với đức tin.
      • Tạo ý niệm
      • Hữu lý hóa
      • Hình dung ra
      • Thực hiện hóa
    6. Phân tích phần giới thiệu và phần kết để có sự thu hút theo đức tin theo như những điểm nêu lên ở câu thứ 3.