12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 10

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Động Chạm Đến Cảm Nghiệm Con Người

Bà Lentsch là bà giáo dạy lớp bốn ở trường tiểu học Cheek. Bà là người mảnh khảnh mặt tàn nhang và tóc hoe. Dưới cái nhìn của một cậu bé 9 tuổi, tôi nghĩ bà không phải là người bình thường. Bà là thành phần của một nhóm người đặc biệt gọi là “nhà giáo.”Bà có thể nhìn thấy những gì ở đàng sau bà mà không cần quay lại. Tôi không bao giờ cảm thấy tự nhiên khi đứng gần bà.

Bà đã viết những lời phê trong tờ tường trình học vấn của tôi là “không sống đúng với khả năng có thể” và nhiều điều giống như thế. Bà hoàn toàn mê say với toán, văn phạm, lịch sử với cục phấn và những tờ bài làm nặc mùi mực tím. Đối với tôi thì bà luôn là một sự kỳ lạ. Tôi không thể hình dung ra bà là một người vợ, người mẹ hoặc bà có thể cười lớn tiếng, để tóc xoã rối hay đi chân không.

Cái nhìn một chiều của tôi về bà  Lentsch có thể là do bà tạo nên. Bà chẳng bao giờ nói về chính mình và gia đình, không bao giờ tỏ ra bất cứ dấu gì cho thấy bà có tư tưởng nào khác ngoài trường học. Bà không thể có một đời sống bình thường; bà xuất hiện ở lớp học mỗi buổi sáng đúng lúc chúng tôi xếp hàng vào lớp.

Thế Giới của Vị Giảng Thuyết

Đôi khi các vị giảng thuyết dường như cũng giống bà Lentsch. Họ không phải là những người bình thường. Họ sống ở một thế giới lạ kỳ của học hỏi, cầu nguyện, chồng sách cũ và các cửa kiếng mầu. Họ không có những tư tưởng xấu, không nóng giận, không nói những lời tục tĩu khi lỡ tay lỡ chân. Có thể chẳng bao giờ họ lỡ tay lỡ chân.

Dĩ nhiên là người giáo dân ngồi trong ghế nhà thờ biết rõ hơn. Họ biết vị mục tử của họ và có khi cả gia đình của vị mục tử. Họ có tham dự những buổi gặp gỡ nói chuyện. Họ biết. Nhưng trong thâm tư của họ có hình ảnh một vị mục tử thuộc về thành phần của một loại hoàn toàn khác biệt. Ít nhất đây cũng là phần nào lỗi của vị mục tử. Ngài dường như sống cách biệt với đời sống của người giáo dân bởi vì qúa quan tâm tới những lo lắng của thần học và cơ cấu nhà thờ.

Các mục tử, là những người chuyên về giảng dạy, thích thế giới của Thánh Kinh cổ xưa hơn tất cả những người khác. Việc học hỏi về dân Do Thái, về người Ca-na-an, người Je-bu-si-te và những người thuộc các dân tộc cổ xưa. Họ cũng quen thuộc gần gũi với A-bra-ham, Môi-sen, Da-ni-en cũng như với Phê-rô và Phao-lô. Họ dùng những từ ngữ Thánh Kinh để nói và cho rằng ai cũng hiểu. Chính vì thế mà các vị mục tử thường được coi là những người khác thường bởi vì chỉ có họ mới thích thú những vấn đề liên quan đến thần học như thế.

Những phần tử của cộng đoàn dân Chúa biết là họ nên tỏ ra thích những vấn đề quan trọng này. Các mục tử cho là như vậy. Nhưng người giáo dân cũng còn có những vấn đề khác chi phối trong đầu. Họ nghĩ về những mối lo riêng, về tài chánh gia đình, công ăn việc làm, tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm sức khỏe, con cái, hôn nhân, giải trí v.v. Họ đặc biệt lo lắng đến những điều này khi khó khăn xảy ra.

Thỉnh thoảng vị giảng thuyết đề cập đến quan tâm thực về đời sống của người nghe. Khi đó nó giống như là có một ly nước đá lạnh trong ngày hè nóng bức. Người nghe ngồi thẳng lên, để ý theo dõi từng lời giảng, tỉnh táo và nóng lòng tìm được sự giúp đỡ cho nhu cầu của họ đến từ lời Chúa. Thường thì đó chỉ là một hy vọng ảo. Cái dường như là sự giúp đỡ thực tế chẳng bao lâu biến vào lời khuyên răn mơ hồ và khuyến khích tinh thần chung chung. Người nghe lại bỏ xuông và thở dài giống như người câu cá tưởng là cá cắn cần câu nhưng chỉ là lưỡi câu mắc chà.

Do đó, các vị giảng thuyết dường như là có một chuỗi những hứng thú khác với các hứng thú của những người ngồi nghe. Khi đến giờ giảng, hứng thú của vị giảng thuyết đưa họ vào việc giảng, bất kể bản văn là gì. Và người nghe bắt đầu suy nghĩ đến những quan tâm riêng của họ, bất kể vấn đề của bài giảng là gì. Họ cùng ngồi trong một phòng với những hứng thú ở hai thế giới khác nhau.

Phần học hỏi này là hoạch định thiết kế bài giảng. Chúng ta bắt đầu bằng việc tìm hiểu thính giả. Thực tập ở đây là “Động Chạm Đến Cảm Nghiệm của Con Người.” Khiếu thuật chúng ta mong muốn củng cố là: Lần theo những quan niệm thần học trong bản văn đến những điểm liên lạc thích hợp nơi cảm nghiệm của con người.

Giải Thích Theo Khuynh Hướng Cảm Nghiệm

Yếu tố nhân loại là một yếu tố quan trọng cho việc dọn bài giảng. Không có chú tâm đặc biệt đến cảm nghiệm con người trong việc dọn bài giảng thì nó không hơn gì một bài tập nặng tính học vấn. Không những chỉ trong việc khai triển các tư tưởng của bài giảng cần phải để ý đến yếu tố nhân loại. Yếu tố nhân loại cũng cần phải được áp dụng trong suốt tiến trình giải thích nữa.

Khi chúng ta đi vào thế giới của Thánh Kinh và đối diện với bản văn thánh, chúng ta không chỉ đến đó một mình. Chúng ta đến như những sứ giả, như các linh mục, như những người đại diện dân Chúa. Chúng ta đến với những ưu tư của họ trong tâm hồn của chúng ta. Chúng ta mang theo những nhu cầu của họ - niềm hy vọng, các khó khăn và yếu đuối. Chúng ta không đến cho mình mà là cho họ.

Frank Pollard diễn tả việc đi vào nơi thờ phượng vào các ngày thứ Bảy khi ông hoàn tất bài giảng. Ông đứng ở tòa giảng và cảm tạ Thiên Chúa cho dân chúng và ân huệ được giảng cho họ. Ông nói tiếp, “Sau đó tôi đi ngồi xuống ghế . . . Tôi ngồi lâu giờ ở chỗ một thiếu niên 15 tuổi thường ngồi vào các sáng Chúa Nhật lúc lễ 11:00 giờ. Việc làm đó đã thay đổi tôi. Nó thay đồi cách tôi nghĩ về những người trẻ . . . Nó làm cho tôi ước ao giảng những bài giảng giúp cho những người trẻ muốn lắng nghe và có ích cho họ.

Khi nghĩ đến thính giả, hãy chú ý đến các cá nhân. Đừng nhìn đến một nhóm người nhưng nhìn đến từng cá nhân - mỗi người riêng biệt, quí hóa với một câu truyện để kể, một câu truyện chưa hoàn tất. Hãy nhớ là nhóm người không có sức sống trừ khi họ tụ họp lại nơi đây để thờ phượng. Sau buổi thờ phượng họ tản mát đi như các gia đình và cá nhân. Họ không cảm thấy đời sống cộng đoàn trừ ra lúc tụ họp. Thách đố cho đời sống Kitô hữu là ở ngoài giờ hội họp, không phải là ở lúc giáo hội tụ họp trong nhà thờ, nhưng là ở thời gian giải giáo hội tán mỏng ra khỏi nhà thờ.

Nghĩ xem làm cách nào để bản văn này nói thẳng đến cảm nghiệm của họ. Nó là sự khôn ngoan cho người cha trẻ, sự khích lệ cho bà qủa phụ già, lời hướng dẫn cho một người trẻ tuổi đang bối rối, và niềm hy vọng cho một nạn nhân đang phải chiến đấu. Nó là lời của Chúa cho dân Phi-lip-phê, trở nên lời của Chúa cho tất cả mọi người và sau cùng là lời của Chúa cho chúng ta, những người trong nhóm này, ở đây, và vào lúc này.

Chúng ta hỏi, “Tại sao có người cần nghe bản tin này?” “Nó làm khác được cái gì?” Khi chúng ta đi tìm yếu tố nhân loại trong việc chuẩn bị bài giảng, chúng ta cảm nghiệm được ít nhất là ba lợi ích: (1) Chúng ta hiểu khá hơn về chân lý của bản văn. (2) Chúng ta thông cảm và hiểu hơn về thái độ của người nghe. (3) Chúng ta khai triển việc trình bày bản tin hay và hứng thú hơn.

Do đó khi chúng ta trân trọng  tra khảo Thánh Kinh để tìm chân lý, chúng ta không thể làm gì khác hơn là tra khảo với cảm nghiệm của người nghe trong tâm trí của chúng ta. Chúng ta chú ý đến mọi chi tiết học hỏi, nhưng trong thâm tâm, chúng ta không thể quên những người cần đến linh dược này. Chúng ta không nghe bản văn trong khoảng trống, không duy tính học vấn, không phải là vấn đề hứng thú của nghiên cứu học thức. Ở nơi này, chỗ nào đó, chỉ một lời mà người nào đó cần nghe được. Chúng ta phải đem đến cho họ.

Hiểu Yếu Tố Nhân Loại

Yếu tố nhân loại, như một yếu tố trong việc giảng thuyết, là cảm nghiệm sống của những người chúng ta rao giảng cho. Đức Giêsu nói, “Trong thế gian anh em sẽ gặp gian nan khốn khó” (Gio 16:33). Con người có tự do luân lý và tinh thần để sống tích cực hay tiêu cực đối với bất cứ nguyên tắc Thánh Kinh nào. Trong hầu hết mọi trường hợp điều mà một người làm theo chân lý Thánh Kinh sẽ quyết định những hiệu qủa trong cảm nghiệm của người ấy. Vào bất cứ ngày Chúa Nhật nào hơn phân nửa người giáo dân ngồi nghe giảng có cảm nghiệm khó khăn về một vài vấn đề theo nhu cầu cá nhân của họ. Họ muốn nghe được câu trả lời từ Thiên Chúa để biết xem phải đối phó với những khó khăn đó như thế nào.

William D. Thompson đã bắt đầu với con người trong phương pháp giải thích. Trong việc diễn tả yếu tố nhân loại ông viết, “Nhu cầu gì thuộc tính nhân loại làm nên yếu tố đầu tiên cho kiểu mẫu chúng ta đang xây dựng? Trong Thánh Kinh, nó được vẽ ra trong  nhiều cách khác nhau: như tội, lỗi phạm luật, cố tình chối bỏ Thiên Chúa . . . nghi nan, tỏ ra thiếu hiểu biết về ý và mục đích của Thiên Chúa, mập mờ trước nan giải luân lý, bệnh hoạn linh hồn, tham dự vào một thảm kịch, mất ơn thánh.

Định Nghĩa: Yếu Tố Nhân Loại

Yếu tố nhân loại ám chỉ về những cảm nghiệm của con người như một yếu tố trong việc giải thích và hoạch định bài giảng. Giả định là mọi ý tưởng Thánh Kinh đều có nhu cầu xứng hợp để kêu mời áp dụng vào đời sống của con người.

Yếu tố nhân loại nói rõ trong một số bản văn và được ám chỉ trong tất cả mọi bản văn. Tính tốt lành và hoạt động của Thiên Chúa luôn có nơi Thánh Kinh; bản tính sa ngã của con người: Dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, băng hoại bởi tội lỗi, dễ sa ngã bởi ảnh hưởng của thế gian.

Vị giảng thuyết có thể dõi theo mọi ý tưởng Thánh Kinh để đi đến điểm liên lạc với đời sống của con người, không những chỉ cho việc giải thích nhưng còn để truyền thông các chân lý Thánh Kinh các hiệu qủa hơn.

 Bryan Chapell cũng giải thích về yế tố nhân loại với cách tiêu cực hơn. Ông chủ trương tìm ra  “Điểm chú ý về tình trạng sa ngã” trong mọi bản văn như là chìa khóa cho việc giải thích. Sự thâm tín của ông là nơi mọi đoạn văn có chứa đựng khía cạnh hư hỏng sa ngã của con người và phương thuốc cứu chữa của Thiên Chúa.

Daniel Doriani mượn tư tưởng của Chapell và thêm vào tư tưởng tìm ra “Điểm chú ý đến lịch sử cứu độ.” Ông có ý nói về những khía cạnh trong bản văn nói về kế hoạch nhân lành và quyền năng của Thiên Chúa cứu chuộc dân của Ngài. Ông nhìn “Điểm chú ý về tình trạng sa ngã” có tính cách cảm nghiệm, và “Điểm chú ý đến lịch sử cứu độ” có tính cách thần học. Ông quan niệm là cần phải phối hợp cả hai điểm chú ý để nắm chắc là việc giảng của chúng ta hướng về Đức Giê-su.

Cảm nghiệm nhân loại phải là yếu tố chính để hiểu bản văn và thiết kế bài giảng. Bản tính nhân loại có thể được định nghĩa theo Thánh Kinh trong ba phẩm tính: (1) Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. (2) Bị băng hoại bởi tội lỗi. (3) Dễ bị lôi cuốn theo ảnh hưởng của thế gian. Vị giảng thuyết nên khôn ngoan để ý đến cả ba phẩm cách khi hoạch định bài giảng.

Hình Ảnh của Thiên Chúa

Hiểu theo Thánh Kinh về bản tính con ngưòi là chúng ta được tạo thành theo hình ảnh của Thiên Chúa. “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài; theo hình ảnh của Thiên Chúa, Ngài đã tạo dựng nên con người; người nam và người nữ Ngài đã tạo dựng nên họ” (STK 1:27). Các chuyên gia Thánh Kinh và các nhà thần học có cái nhìn khác nhau về ý nghĩa hình ảnh Thiên Chúa đối với bản tính con người. Trong giảng thuyết, chúng ta chú đến ý nghĩa “Hình Ảnh của Thiên Chúa” là từ việc ước ao muốn biết thính giả của chúng ta ở cấp độ bản tính chính yếu của họ.

Bất kể ý nghĩa hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người có ý nghĩa như thế nào trong phẩm giá con người, chúng ta biết rằng Thiên Chúa vô biên và con người thì hữu hạn. Các cách chúng ta suy tư về bản tính của Thiên Chúa có thể chỉ là cái bóng giới hạn phẩm tính thật của ngôi vị Thiên Chúa. Nhưng chúng ta không thể thực sự hiểu về bản tính của riêng chúng ta mà không có sự hiểu biết về bản tính của Thiên Chúa. Trong quan niệm của Thánh Kinh, Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người để phản ảnh chính Ngài. Do đó bất kể Thiên Chúa là ai trong tính vô biên, chúng ta là phản ảnh của Ngài trong hữu hạn.

Hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người đã bị băng hoại và hoen ố bở sự sa ngã trong tội lỗi. Tuy vậy, hình ảnh ấy vẫn còn chứ không mất đi. Tất cả nhân loại phản ảnh Thiên Chúa ở một mức độ nào đó.Nhân loại được cứu độ có thể phản ảnh bản tính của Thiên Chúa tới mức độ đặc biệt. Hãy để ý đến một số khía cạnh của bản tính con người phản ảnh bản tính của Thiên Chúa.

  • Thiên Chúa, Đấng quyền năng cao cả, đã tạo dựng con người với phẩm gía đặc biệt. Kết qủa là chúng ta có lòng muốn gía trị bản thân. Ai cũng muốn mình là một người nào đó; không ai muốn cho mình chả là cái gì.
  • Thiên Chúa, như Đấng tối cao, đã tạo dựng con người với tự do ý chí. Kết qủa là chúng ta có lòng muốn tự điều khiển đời sống của mình. Khi quyền tự điều khiển này bị xâm phạm, phản ứng tự nhiên của chúng ta là tức giận.
  • Thiên Chúa, như tình yêu thánh thiện, đã tạo dựng con người như một tạo vật có xã hội tính. Kết qủa là chúng ta có lòng muốn có người đồng hành và cảm thấy cô đơn khi sự đồng hành đó bị khủng hoảng đe dọa.
  • Thiên Chúa, như mục đích thánh thiện, đã tạo dựng con người với cảm nghiệm hướng về mục đích. Kết qủa là chúng ta có lòng muốn đạt được thành công và cảm thấy buồn nản, khó chịu khi sự thành công bị đe dọa đổ bể.

Những ước muốn chính của con người – gía trị bản thân, tự do ý chí, xã hội tính, và đạt thành công - phản ảnh bản tính của Thiên Chúa. Các ước muốn này là những biểu lộ ý muốn của Thiên Chúa nơi chúng ta. Chúng có thể đưa đẩy chúng ta cố gắng tìm điều thiện hảo. Chúng thúc đẫy chúng ta thay đổi những hành vi ngu xuẩn. Chúng có thể thôi thúc chúng ta đi tìm Thiên Chúa. Những ước muốn này không dẫn chúng ta đi tìm thỏa mãn nơi thế gian. Đây chỉ là biểu lộ của lòng muốn sai lầm. 

Hãy nghĩ đến các phẩm tính khác về Thiên Chúa vô hạn phản ảnh nơi con người hữu hạn. Các phẩm tính và ước muốn này tự có nơi người nghe chúng ta giảng. Khi bạn giảng các bài giảng, các bản văn sẽ đề cập đến những ước muốn này. Và như thế bạn có thể thu hút người nghe bằng cách cắt nghĩa cho họ biết bản tính của họ được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Bạn có thể nhấn mạnh đến lời hứa của Thiên Chúa đối với mỗi điều ước muốn này và vạch ra các nguyên tắc của Thánh Kinh để theo đuổi lòng muốn đó.

Bản Tính Bị Băng Hoại

Bản tính của con người không chỉ phản ảnh hình ảnh của Thiên Chúa; nó cũng mang ảnh hưởng của tội lỗi. Trong A-dam và E-va tất cả nhân loại bị hư hỏng trong khuynh hướng tìm mình và tìm tự trị. Trong khi Thiên Chúa muốn cho con người ở trong hiệp thông với Ngài và thi hành theo những mục đích được Ngài vạch ra cho họ, “con người đã quay đi theo đường lối riêng của họ” (Is 53:6).

Trong sự sa ngã con người đã cảm nghiệm thấy sự thay đổi trong lối suy nghĩ. Họ chuyển từ khuynh hướng đặt trọng tâm nơi Thiên Chúa đến khuynh hướng đặt trọng tâm nơi bản thân. Chương trình trong vườn địa đàng cho A-đam và E-và là để cho họ sống trong tình liên hệ mật thiết với Thiên Chúa. Tất cả các phẩm tính hữu hạn phản ảnh tính vô hạn của Thiên Chúa được thi hành trong tình hòa hợp với Thiên Chúa. Nhưng băng hoại của tội lỗi đã gây nên sự thay đổi  khiến tất cả mọi ước muốn của con người đều quay hướng về việc tìm thỏa mãn bản thân hơn là tìm làm hài lòng Thiên Chúa.

Sự băng hoại này không có nghĩa là con người trở nên thật là tồi bại như họ có thể tồi bại nhưng là mọi khía cạnh nơi bản tính con người bị ô nhiễm vết nhơ tội lỗi. Chúng ta có thể định nghĩa tội là tự đặt mình là trọng tâm, tính tìm quyền độc lập. Đó chính là điều thánh Phao-lô gọi là “xác thịt,” khi ngài so sánh với “thần linh” như là một sức mạnh khác nơi con người. “Những ai sống theo xác thịt, thì hướng về những gì thuộc xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí” (Rom 8:5).

Yếu tố nhân loại trong việc giảng thuyết sẽ đề cập đến tình trạng chia rẽ này nơi bản ngã, “con người cũ” chống lại “con người mới” nơi người tín hữu. Như thánh Phao-lô đã làm, chúng ta có thể khuyến khích người nghe “cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát, vì bị những ham muốn lừa dối. Anh em phải để Thần Khí đổi mối tâm trí anh em, và phải mặc lấy con ngưòi mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24). Nói đến sự khác biệt giữa tính xác thịt và tính thần linh là cách nói gợi hình để tỏ cho thấy tính cách xứng hợp của các nguyên tắc Thánh Kinh đối với đời sống.

Thay vì nối kết người nghe với tội và luận tội họ, vị giảng thuyết có thể cảnh báo chống lại tính xác thịt và cùng đứng bên người tín hữu để chống lại tính xác thịt. Như Đức Giê-su đã làm, chúng ta có thể đón nhận người tội lỗi, biết là họ có tội, nhưng không dung hòa với tội lỗi. Vị trí của vị giảng thuyết, như ngưòi chăn chiên của  đoàn chiên Thiên Chúa, luôn phải đứng với người tín hữu.

Tính xác thịt có từ bẩm sinh nơi bản tính con người, nhưng nó phải được bàn tới như thánh Phao-lô đã làm, như là một sức mạnh vượt ra ngoài sức của bản thân con người. “Vậy thật ra không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Bởi đó tôi khám phá ra luật này: Sự ác có hiện diện ở trong tôi, một con người muốn làm điều thiện” (Rm 7:19-21). Sức mạnh này ở trong tôi nhưng không phải là tôi. Nó giống như là một chứng bệnh ta mắc phải. Chứng bệng đó tấn công linh hồn ta và đưa chúng ta đến diệt vong. Ta phải chống lại nó và ta có thể chống lại nó. Thánh Phao-lô cho chúng ta câu trả lời, “Tôi nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa” (Gl 5;16).

Lôi Cuốn Theo Thế Gian

Thế gian được dùng trong thánh kinh có nghĩa là công trình tạo dựng, vũ trụ, trái đất  và nhân loại, hay nó cũng là toàn bộ hệ thống con người băng hoại chống lại lề luật của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nhận ra ý nghĩa nào trong hai ý nghĩa này đưọc nói đến trong mỗi đoạn thánh kinh tùy theo bối cảnh. Ý nghĩa thế gian chúng ta nói đến ở đây là hệ thống chống lại nước Thiên Chúa. Nó là bóng tối mà ngưòi tín hữu sẽ đối phó bằng ánh sáng. Nó là việc sáng tạo thống trị các quyền lực sự dữ.

Người tín hữu được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và bị ảnh hưởng tính yếu đuối gây nên bởi tội lỗi; họ cũng bị lôi cuốn bởi ảnh hưởng của thế gian. Cám dỗ luôn ở trước mặt chúng ta xúi dục chúng ta đi tìm thỏa mãn những ước muốn riêng nơi thế gian, thay vì từ nơi Thiên Chúa. Thế gian hứa hẹn mọi thứ chúng ta muốn, nhưng không bao giờ cho chúng ta toại nguyện. Mọi quyến dũ đều là cạm bãy kéo chúng ta ra xa Thiên Chúa là trung tâm của đời sống người Kitô hữu.Thánh Gia-cô-bê viết, “Mỗi người có bị cám dỗ, là do dục vọng của mình lôi cuốn và dùng mồi mà bắt” (Gc 1:14).

Sự lôi cuốn bên ngoài này trực tiếp liên quan đến nội chiến từ trong bản ngã. Nếu chúng ta không cảm thấy thú vị với những lôi cuốn của thế gian, chúng sẽ không hấp dẫn chúng ta. Tính ham muốn trong con người, dù tự nó không phải là xấu xa, có thể bị băng hoại bởi sự hứa hẹn thỏa mãn ở ngoài Thiên Chúa. Yếu tố nhân loại trong việc giảng thuyết phải đề cập đến những hứa hẹn trống rỗng và cạm bãy của lôi cuốn thế gian. Ở bất cứ điểm nào chúng ta có thể vạch ra sự so sánh trái ngược với những lời hứa của Thiên Chúa, và sự no thỏa các ước muốn của chúng ta nhờ ân sủng của Ngài.   

Nơi bất cứ bản văn nào, hãy chú ý đến các chủ đề khi chúng có liên can đến sự so sánh khác biệt giữa ơn sủng xứng hợp của Thiên Chúa, và sự quyến dũ của thế gian. Tìm thỏa mãn lòng muốn của chúng ta nơi thế gian, tự nó đặt chúng ta xa rời tình thân thiết với Thiên Chúa, và lòng tin của ta đối với Ngài. Thánh Gio-an viết, “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó  không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian” (1 Ga 2:15-16).

yếu tố nhân loại trong giảng thuyết sẽ đề cập đến sự thách đố của lôi cuốn thế gian. Vị giảng thuyết sẽ thông cảm, nhưng không nhượng bộ trong lời cảnh báo chống lại lôi cuốn của cám dỗ. Họ sẽ dạy cho cộng đoàn dân Chúa chân lý của Thánh Kinh liên quan đến  cám dỗ, và hy vọng nhầm lạc vào sự no thỏa ở ngoài ân sủng của Thiên Chúa. Vị giảng thuyết sẽ trang bị cho giáo dân với tinh thần khôn ngoan khi họ giao thiệp với thế gian và những gì thế gian hứa hẹn.

Các Hình Thức của Yếu Tố Nhân Loại

Yếu tố nhân loại được hiểu cách riêng, theo các tư tưởng Thánh Kinh, nói về nhu cầu của chúng ta. Chân lý Thánh Kinh sẽ được ôm ấp và áp dụng bởi đức tin, với bảo đảm sự bù đắp chữa trị cho đời sống của một người do ân sủng của Thiên Chúa. Nếu chân lý Thánh Kinh là giải đáp, thì yếu tố nhân loại là vấn đề. Vị giảng thuyết có thể bắt đầu việc giảng thuyết từ phía nhân loại và đi tìm những câu trả lời trong Thánh Kinh đề cập đến các nhu cầu này. Hoặc họ có thể bắt đầu việc giảng bằng cách dùng các nguyên tắc Thánh Kinh trong bản văn và đem các chân lý đó soi chiếu để tìm những nhu cầu họ cần đề cập đến về bản chất con người.    

Yếu tố nhân loại đối với chân lý Thánh Kinh giống như sự đói khát đối với thức ăn, hay chứng nhức đầu đối với viên thuốc Aspirin, hoặc sự mệt mỏi với nghỉ ngơi. Yếu tố nhân loại có thể được thấy từ dáng vẻ khinh thường nơi người nghe, những triệu chứng, và các hậu qủa trong đời sống của họ.

Yếu tố nhân loại có thể mặc hình thức  coi nhẹ, cho là không thật nơi tâm trí của người nghe, đi ngược lại với những nguyên tắc căn bản của Thánh Kinh.  Lối suy nghĩ này có cội nguồn từ tính chất yếu đuối sa ngã nơi con người. Con người hoạt động tự nhiên theo guồng máy suy nghĩ lệch lạc của mình; sự suy nghĩ lệch lạc đó được trang bị với sự thông hiểu đồng nhịp với tính ích kỷ đặt trọng tâm nơi bản thân. “Vì tư tưởng của ta không phải là tư tưởng của các ngươui, đường lối các ngươi không phải là đường lối của ta” (Is 55:8).

Các thính giả của bạn rất có thể không biết cội nguồn của lối họ suy nghĩ. Khi một tư tưởng của Thánh Kinh được trình bày, họ không chấp nhận và cho là không thực tế, nhưng họ không biết lý do tại sao. Khi vị giảng thuyết vạch ra những suy nghĩ lệch lạc theo tính yếu đuối sa ngã của con người, người nghe có thể nhìn lại cách khách quan hơn trong việc đối chiếu theo sự khôn ngoan của Thánh Kinh.  

Yếu tố nhân loại có thể được nhìn thấy nơi những triệu chứng mà một người cảm nghiệm thấy, và các triệu chứng ấy nói lên sự thất bại không sống đồng nhịp được với mạc khải của Thiên Chúa. Nếu chúng ta tin là các chân lý của lời Chúa có thể làm nên khác biệt nơi cảm nghiệm của con người, chúng ta phải tin là sự khác biệt ấy có thể nhận ra được. Chúng ta thực sự qủa quyết như thế. Một người trưởng thành đặt niềm tin nơi Thiên Chúa là một người mới cả trong lẫn ngoài. Bởi nó là như vậy, chúng ta đòi hỏi nhìn thấy dấu chứng nơi đời sống của người đó, để biết lập trường của họ đối với các chân lý khôn ngoan của Thánh Kinh. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa làm nên khác biệt, và sự khác biệt đó phải được nhận ra.

Những triệu chứng tiêu cực có thể cảm nghiệm được bởi những người không tin hay những người tin, người không hiểu biết hay người phủ nhận các nguyên tắc Thánh Kinh. giống như chứng cảm sốt, hay ngứa ngáy hoặc nhức đầu của một bệnh nhân, những triệu chứng này có thể nhận ra được. Khi vị chủ chăn giải thích cho thính giả, ngài làm sự móc nối liên lạc với các nhu cầu của họ cách trực tiếp. Ngài đưa bài giảng vào hiện tại ở đây và vào lúc này đến với bạn và tôi. Những người nhận ra các triệu chứng sẽ chú ý đến phương pháp trị liệu. Nhưng cả hai phải được trình bày bằng những cách thực tế.

Yếu tố nhân loại cũng có thể mặc hình thức của những hậu qủa trong cảm nghiệm sống của một người. Điều này khác với các triệu chứng ở việc, các triệu chứng là những khía cạnh đau thương cá biệt tỏ dấu cho thấy người nghe phải gánh vác, do việc không sống đồng nhịp theo chân lý của Thiên Chúa. Hậu qủa, ngược lại, là kết qủa của lối sống và cách cư xử lầm lạc của những người sống theo lầm lạc. Hậu qủa bao gồm ảnh hưởng trong các mối liên hệ, lối làm việc, các bổn phận, và những hoàn cảnh chung quanh. Lý do thật đơn giản: Sự khôn ngoan (hoặc thiếu khôn ngoan) được biểu lộ ra nơi các quan niệm giả định của một người về cuộc sống; việc áp dụng sự khôn ngoan đó có thể được nhận ra từ sự khác biệt làm nên nơi cảm nghiệm của người đó (an bình hay đau thương); và sự thay đổi sẽ sản xuất ra các kết qủa bên ngoài trong các hoàn cảnh sống của chúng ta.

Động chạm đến tôi ở điểm đau thương do việc nói đến sự chán nản và mệt mỏi của tôi trong đời sống, và tôi sẽ sẵn sàng lắng nghe về ân sủng của Thiên Chúa. Nhưng đừng triết lý với tôi. Hãy giữ cách trị liệu ở mức độ thực tế, đáng tin với các triệu chứng. Nói cho tôi biết cái gì gây nên việc cháy trụi cảm xúc và tinh thần của tôi và tôi có thể làm gì để chữa trị. Điều tôi cần là “toa thuốc” giúp tôi có thể điều trị chứ không phải là một câu châm ngôn đạo đức tôi không hiểu. Điều tôi cần là cái nhìn đức tin, nhận ra sự chân thật về Thiên Chúa ở lúc tôi cần.

Từ Thần Học Đến Cảm Nghiệm

Giảng thuyết thường bắt đầu với bản văn Thánh Kinh và để cho bản văn làm nên bài giảng. Vị giảng thuyết có ý để cho bản tin thần học của bản văn trở nên bản tin của bài giảng. Giảng thuyết theo định nghĩa là tìm phơi bày ý nghĩa của bản văn Thánh Kinh cho người nghe ngày nay.

Nhấn mạnh đến cảm nghiệm của con người dường như có thể bị coi là làm giảm tính trung thành với bản văn Thánh Kinh. Nhưng thực sự không hẳn là như thế. Có thể là việc giảng thuyết theo nhu cầu cảm nghiệm có vẻ coi trọng các cảm nghiệm và nhu cầu hơn là tìm các câu trả lởi từ Thánh Kinh. Chủ đích của chúng ta là tìm áp dụng các nguyên tắc chân lý khôn ngoan của Thánh Kinh.

Khiếu thuật chúng ta nhấn mạnh ở chương này là đi dõi chiếu theo từ các ý tưởng thần học trong bản văn để tới các điểm giao thương trong cảm nghiệm con người. Để ý đến từ ngữ “đi dõi chiếu theo” Chúng ta bắt đầu với các ý tưởng thần học trong bản văn. Chúng ta học hiểu các từ ngữ của tác giả dùng trong bản văn để khám phá ra các tư tưởng thần học mà tác giả trình bày, và những tư tưởng đó sẽ là những chân lý được trình bày trong bài giảng.Chúng ta tìm một ý tưởng chính của bản văn và viết nó như là vấn đề/bổ búc từ. Rồi chúng ta tìm xem tác giả đã nói gì về tư tưởng chính đó, và nhận diện các tư tưởng này như là các khẳng định từ.

Đi dõi chiếu theo từ thần học đến cảm nghiệm phải được làm trong suốt tiến trình giải thích. Chúng ta đang suy nghĩ theo sự xứng hợp của các tư tưởng Thánh Kinh từ lúc bắt đầu. Chúng ta tin là chân lý Thánh Kinh luôn luôn xứng hợp với đời sống. Nhưng chúng ta cũng biết là những chân lý này có thể được giảng giải trong lối giảng khô khan nặng hình thức học vấn che mất đi sự xứng hợp tự nhiên. Điều Thiên Chúa mạc khải nói với cảm nghiệm con người, nhưng vị giảng thuyết có thể làm lỡ mất cơ hội móc nối với cảm nghiệm, và do đó không liên lạc được với thính giả. Sau đây là năm đề nghị làm thế nào để dõi theo từ thần học đến cảm nghiệm:

Nhận diện rõ ràng các ý tưởng thần học mà tác giả bản văn nói đến. Trừ khi bạn hiểu rõ trong trí và viết ra các ý tưởng thần học, bạn không thể truyền thông bản tin của bản văn. Bạn cũng chẳng nói lên được tính thích hợp của nó cho thính giả của mình.

Nghĩ rộng ra theo giáo huấn của Thánh Kinh về tư tưởng của bản văn. Không bản văn nào nói tất cả điều muốn nói về vấn đề của nó. Các tham khảo đối chiếu sẽ làm cho cái nhìn của thần học Thánh Kinh được đầy đủ hơn. Nó cũng giúp liên hệ tư tưởng vào việc áp dụng thực hành.

Hỏi xem tại sao người ta cần nghe bản tin này và viết xuống các câu trả lời. Trắc nghiệm tính hợp lý xem các chân lý của bài gỉang có gãi đúng chỗ ngứa của thính giả hay không. Nếu quan tâm duy nhất của bạn là sinh hoạt nhà thờ của họ, bạn sẽ không móc nối được với những quan tâm riêng tư của họ. Hãy nghĩ đến các giả định, các triệu chứng, các hậu qủa bạn có thể nhìn thấy nơi đời sống của những người không biết hoặc không thực hành các chân lý của bản tin bạn trình bày.

Viết về một người cần phải nghe bản tin này nhất. Hãy dùng trí tưởng tượng để trình bày về một người mà họ sẽ tìm thấy câu trả lời đối với những vấn nạn đang đè nặng trên đời sống của họ. Nghĩ xem họ phải chiến đấu như thế nào. Hình dung ra lối suy nghĩ lầm lạc của họ. Diễn tả xem lối suy nghĩ và tư cách của họ ảnh hưởng thế nào đến mọi khía cạnh trong đời sống của họ và của những người chung quanh.

Hoạch định những chỉ dẫn rõ ràng cho người cần áp dụng bản tin của bạn. Hình dung ra một người bước ra khỏi nhà thờ sau lễ và hỏi, với câu viết và cuốn sổ trên tay, “Thưa cha, cảm ơn cha về bài giảng. Nhưng tôi phải đi bây giờ. Về nhà. Ngày mai đi làm. Xin cha nói cho biết tôi phải làm gì để đưa các nguyên tắc Thánh Kinh vào trong thực hành. Tôi sẵn sàng để ghi xuống sổ tay.”

Giảng Cho Thế Giới Thực Tế

Giảng cho những người ngay nơi họ sống bắt đầu từ trong suy nghĩ của vị giảng thuyết. Chúng ta có thể đưa suy nghĩ của mình ra khỏi thế giới suy nghĩ ở nhà thờ, để đi đến suy nghĩ ở thế giới thực sự của người giáo dân. Bởi theo ơn gọi và chức vụ lãnh đạo, các chủ chăn có lẽ là những người duy nhất suốt tuần suy nghĩ về nếp sống và sinh hoạt của nhà thờ. Nếu chúng ta muốn nối nhịp cầu cho khoảng cách từ mặc khải Thánh Kinh và thính giả ngày nay, chúng ta buộc phải điều chỉnh lại lối suy nghĩ của chúng ta về cộng đoàn và về thế giới họ sinh sống.

Điểm khởi đầu để kiểm điểm lối suy nghĩ của bạn có thể là nhìn vào quan niệm của riêng bạn về ý nghĩa của từ ngữ “nhà thờ.” Có phải từ ngữ đó nghĩa là cộng đoàn dân Chúa trong thánh đường? Có phải nó là một tổ chức với các ban nhóm, các người lãnh đạo, các giáo lý viên, tài chánh và các nhu cầu? Hay “nhà thờ” có nghĩa là người giáo dân, với mọi thành phần khác nhau, với những ưu tư và các công tác phục vụ của họ? Vai trò của cha xứ là gì trong “nhà thờ”? Có phải chúng ta có mặt trong vai trò lợi dụng tinh thần hăng say và nguồn lợi để mưu ích cho tổ  chức “nhà thờ”? Hay chúng ta trân trọng giáo dân về đời sống và việc phục vụ  họ làm nhân danh Đức Kitô? Mục đích chúng ta là tìm “vặn” ra từ nơi họ một cái gì hay là tìm kiến tạo điều gì vào trong đời sống của họ?

Một cách khác để làm khá hơn trong cách giảng với thế giới thực tế là giữ mối liên lạc với thế giới ấy. Không những chúng ta, các vị chủ chăn, có lợi khi giữ liên lạc với con chiên của mình, chúng ta cũng tìm được sự hỗ trợ trong việc học hiểu bản tính của con người. Đức Giê-su không cần ai giải thích về con người cho ngài bởi vì Ngài đã biết cái gì có trong lòng con người. Vị giảng thuyết cũng cần trở nên người giải thích bản tính con người. Một chuyên gia  về con người thực  trong thế giới ngày nay - đọc những tác giả hay, theo dõi tin tức, hiểu các trào lưu, đơn giản là  biết để ý.

Giảng cho người thật cũng cần vị giảng thuyết phải biết cảm thông. Người ta sẽ lắng nghe giảng khi họ biết là bạn tôn trọng họ và thực quan tâm cho các nhu cầu của họ. Đôi khi các vị giảng thuyết tỏ ra khó khăn và tiêu cực. Đôi khi họ tỏ ra thiếu nhẫn nại và không khoan dung. Nếu chúng ta chỉ muốn dùng giáo dân để giúp cho sinh hoạt của nhà thờ được đều hòa, chúng ta sẽ không giảng cho lớp người thực tế bởi vì họ sẽ tẩy chay không nghe. Cảm thông trong giảng thuyết không phải là mục đích. Dĩ nhiên ai cũng có thể cảm thấy thích khi được người khác chia sẻ cái đau thương của mình, họ vẫn cần có cái nhìn Thánh Kinh để giúp đối phó với đời sống trong tinh thần khôn ngoan và đức tin.

Tất cả điều này chung cuộc là đòi vị giảng thuyết phải là con người thực người. Giảng thuyết được củng cố bởi thành thật, cởi mở, hiểu biết cảm thông và ngay cả ở những khó khăn chiến đấu. Cho dù chúng ta là các chủ chăn, chúng ta cũng là chiên. Giáo dân muốn chúng ta là người chăn dắt; họ mong đợi chúng ta có vị thế trong nhà thờ không ai khác có. Nhưng họ cũng cần chúng ta là người đồng hành trong cuộc hành trình như họ. Vai trò lưỡng diện đó là một thách đố vị giảng thuyết phải thi hành, nhưng đó là lối duy nhất thực tế và chân thật.

Nói Với Các Nhu Cầu

Chúng ta tin rằng sự liên hệ cứu độ với Đức Giê-su Ki-tô là phương cách trị liệu cho các nhu cầu sâu thẳm nhất nơi chúng ta. Vị giảng thuyết như người giải thích chân lý Thánh Kinh, cũng phải giải thích cảm nghiệm của người nghe cho họ  trong ánh sáng của chân lý Thánh Kinh. Việc nhìn ra chân lý thần học không thể có khi không nhìn ra được sự thật nơi cảm nghiệm của chính chúng ta. Khi chúng ta nói về các nhu cầu, vị giảng thuyết có thể nói theo khuynh hướng tự nhiên đề cập đến những yếu đuối và lầm lạc trong đời sống của giáo dân.

Một trong những diễn từ thông thường trong giảng thuyết là “Chúng ta cần . . .” Vị giảng thuyết nhìn các nhu cầu như điều cần phải thực hiện để trở nên người Kitô hữu tốt hơn. Chúng ta cần sống đời sống thánh thiện hơn. Chúng ta cần trung tín hơn trong việc cầu nguyện. Chúng ta cần là những chứng nhân can trường hơn. Chúng ta cần học hỏi Thánh Kinh. Những lời công bố chung về nhu cầu như thế của các vị giảng thuyết không phải là điều chúng ta có ý nói về việc đề cập đến các nhu cầu. Trên thực tế đó là sự vắng mặt của điều cần phải nói đến, điểm trong đời sống mà người nghe phải chịu đựng bởi vì họ không có cái mà Thiên Chúa ban cho họ.

Khi nhu cầu được đề cập đến, đừng nói theo tính cách đòi buộc hay bổn phận đạo đức tôn giáo. Những khó khăn người giáo dân gặp không có ở những giải pháp đạo đức tôn giáo. Ơn cứu độ không phải là một giải pháp đạo đức tôn giáo, nhưng là một phương trị liệu của ân sủng. Nó là trị liệu của đức tin. Các trách nhiệm tôn giáo sẽ không đủ để trả lời cho nhu cầu của con người bởi vì đó là nỗ lực của con người tìm kiếm sự chấp nhận của Thiên Chúa hơn là đón nhận ơn sủng của Ngài. Đời sống Kitô hữu không phải chỉ là một đời sống có phẩm chất khá hơn người không có đức tin. Nó cũng không hẳn là họ đạo đức luân lý tốt hơn. Nó là một đời sống khác biệt, với chiều hướng hoàn toàn mới, từ bản thân tới Đức Kitô. Tất cả những gì chúng ta lãnh nhận nơi Chúa đến qua đức tin trong Đức Kitô, không phải qua những bổn phận trách nhiệm tôn giáo.

Một số những nhu cầu người ta cảm nghiệm thấy, đến từ những hoàn cảnh chung quanh hoàn toàn vượt ngoài tầm tay điều khiển của chúng ta. Một bản tường trình báo cho biết: bí ung thư. Một người thân qua đời. Hãng làm phải đóng cửa và nhận được giấy cho nghỉ việc. Đứa con bị sinh ra với chứng tật nguyền. Làm thế nào để chúng ta có thể hiểu được việc gì đã xẩy ra? Thiên Chúa đi đâu mất rồi? “Tôi cảm thấy đau đớn! Tôi thấy tan nát con tim, tức giận và bất nhẫn. Chúa bảo cha nói gì với tôi?”

Những nhu cầu thử thách khó khăn nhất là những điều không thể sửa chữa được, những điều không có tính cách gây ra bởi ‘nguyên cớ và hậu qủa.’ Và đây là loại nhu cầu thử thách  nhất đối với đức tin của một người. Cái gì là nguồn của ân sủng cho loại đau khổ này? Bất cứ Chúa Nhật nào cũng có người trong cộng đoàn dân Chúa cảm nghiệm một khó khăn nào đó giống như thế. Thách đố cho vị giảng thuyết là giúp cho người nghe giải thích cái đang xẩy ra cho họ theo khuôn mẫu của đức tin, với cái nhìn của Thánh Kinh. Chỉ với việc giải thích đức tin như thế họ mới có thể đối diện với khó khăn nhờ ân sủng của Chúa.

Hoàn Tất Thực Tập

Dùng mẫu ở trang cuối của chương này, bạn có thể hoàn tất thực tập về Yếu Tố Nhân Loại bằng cách theo chỉ dẫn từng bước một. Hãy nhớ mục đích là để củng cố khiếu thuật đi dõi theo những tư tưởng thần học  trong bản văn cho hợp với cảm nghiệm của người nghe ngày nay.

Bước 1. Nhận diện yếu tố nhân loại được nói đến cách rõ ràng trong bản văn. Hãy nhớ là bạn đang tìm những đau khổ, khó khăn, xung khắc được cảm nghiệm thấy bởi những người liên quan đến trường hợp xẩy ra trong bản văn.

Bước 2. Nhận diện yếu tố nhân loại được đề nghị cách nào đó trong bản văn. Điều này có nghĩa là nó không được nói rõ hẳn ra những được ám chỉ đến. Một lần nữa, hãy nhớ là bạn đang làm việc với những khó khăn thuộc tính con người đối với những người liên quan trong bản văn chứ không phải là của người nghe.

Bước 3. Tóm kết bản tin của tác giả bản văn bằng việc dùng tư tưởng của bản văn (vấn đề/bổ túc từ) và các khẳng định từ được nói đến trong bản văn. Mục đích của bạn ở đây là công bố thật rõ những chân lý chung chứa đựng trong bản văn, như là bước đầu cho việc khám phá ra những điểm thích hợp động chạm đến cảm nghiệm con người. 

Bước 4. Miêu tả cảm nghiệm của một người cần nghe bản tin của bản văn bằng cách dõi theo từ giải pháp đến với vấn đề cách hợp lý. Trình bày nhu cầu của họ theo (1) các triệu chứng của họ (2) các quan niệm giả định của họ (3) các hậu qủa theo cách sống của họ và (4) Họ cảm thấy thế nào về khó khăn của họ. Hãy dùng óc tưởng tượng nhưng đừng đi lạc ra khỏi những nguyên tắc của bản văn.

Bước 5. Viết, cách cụ thể và miêu tả, về người cần nghe bản tin của bản văn. Hãy nghĩ đến một người. Thực tế bạn có thể nghĩ đến vài người bạn biết. Hãy có óc sáng tạo. Miêu tả người đó cách thật trung thực đến nỗi những người nghe bạn giảng sẽ nhìn ra người đó qua việc bạn miêu tả.

Câu Hỏi Học Hiểu

  1. Thế giới của vị giảng thuyết có nghĩa là gì?
  2. Mục đích của thực tập về yếu tố nhân loại là gì?
  3. Giải thích theo cảm nghiệm là gì?
  4. Định nghĩa yếu tố nhân loại.
  5. Ba yếu tố quan trong để hiểu bản chất con người là những yếu tố gì?
  6. Ba hình thức của yếu tố nhân loại là gì?
  7. Ba lợi ích của việc tìm ra yếu tố nhân loại trong việc dọn bài giảng là những lợi ích gì?
  8. Làm thế nào vị giảng thuyết có thể kiểm soát sự suy nghĩ của họ nhờ đó họ có thể giảng thuyết cho thế giới thực tế?

Cảm Nghiệm Con Người: Mục đích cho thực tập này là phát triển khiếu thuật dõi theo các ý tưởng thần học trong bản văn để đưa đến những điểm thích hợp chạm đến cảm nghiệm của con người.
Bản Văn:

  • Nắm chắc là các tư tưởng bài giảng rõ ràng và được viết chính xác.
  • Nghĩ ra ngoài khuôn khổ thế giới của nhà thờ đến thế giới bên ngoài.
  • Hãy nhớ tính chất của bản tính nhân loại.
  • Cho phép con người thật của bạn được tỏ hiện ra.
  • Nói đến những giả định, những triệu chứng và các hậu qủa.
  • Bày tỏ sự cảm thông và hiểu biết đối với người nghe.

Yếu tố nhân loại là tình trạng con người đối chiếu theo các chân lý được trình bày nơi bản văn. Các khía cạnh của cảm nghiệm con người có thể được trình bày rõ trong bản văn hay chỉ được ám chỉ đến.

  1. Nhận diện các khía cạnh của cảm nghiệm nhân loại được nói đến cách trực tiếp trong bản văn như đã thấy từ nơi bối cảnh bản văn gốc.
  2. Nhận diện những vấn đề thuộc tính nhân loại được ám chỉ trong bản văn khi tác giả đề cập đến các khó khăn thời đó.
  3. Tóm lược những ý tưởng từ bản văn mà những ý tưởng đó sẽ trở nên các tư tưởng của bài giảng.
  4. Dùng những phân loại dưới đây để bắt đầu trình bày cảm nghiệm của một người cần nghe bản tin của bản văn như phương trị liệu cho nhu cầu của họ.
    1. Những triệu chứng khó khăn họ gặp
    2. Những giả định của họ về vấn đề
    3. Một vài hậu qủa do cảm nghiệm của họ
    4. Họ cảm thấy thế nào trong cảm nghiệm đau khổ của họ lúc này.
  5. Viết những điểm về người cần nghe bản tin được viết ra cách sống động, cụ thể như bạn cảm thông được với nỗi đau khổ của họ và phấn khỏi họ với tin mừng bạn muốn cho họ.