12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

PHẦN IV

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Thiết Kế Bài Giảng

Khi loại xe Edsel được đưa vào thị trường năm 1957, nó là chiếc xe Ford nhiều người mơ tưởng. Tôi còn là một chú bé khi theo cha tôi đi thưởng lãm chiếc xe đó. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ nó. Có điều hơi lạ là cái nút cho dầu máy lại được đặt ngay ở giữa “vô lăng” tay lái. Chẳng ai thấy như thế bao giờ. Nhưng thử nghiệm ngoài thị trường  cho loại xe Edsel được đưa tới tay của khách hàng tiêu thụ. Họ đã trả lời ‘’cám ơn! Không thích.” Thay vì bán chạy như đã hứa hẹn, loại xe Edsel bị loại bỏ vào năm 1959. Cái đã thu hút các chuyên gia sản xuất xe lại trở nên nhạt nhẽo không thu hút đối với khách hàng.

Ford đưa ra một loại xe khác ít năm sau đó. Loại xe này được chế tạo dưới sự giám sát của ông Lee Lacocca, được gọi là xe “Mustang. Đó là loại xe thể thao và gía vừa phải. thật là một truyện khác với truyện của xe Edsel. Kiểu xe thu hút khách hàng, và nó đã là một thành công lớn.

Cái gì là sự khác biệt giữa hai kiểu xe đó? Một kiểu thì thất bại đáng tiếc, còn một kiểu thì thành công vẻ vang. Sự khác biệt là ở kiểu mẫu thiết kế. Đối với một chiếc xe, mẫu thiết kế của nó là ý niệm về chiếc xe, hình dáng của xe, cảm nghiệm của người lái xe, lực của máy xe và đà đáp của xe khi tăng ga máy xe.

Thiết kế tốt sẽ làm được việc. Nó nối kết được cả về chức năng và mỹ thuật đối với khách hàng và đánh đúng tâm lý yêu chuộng của khách hàng. Thiết kế dở, ngược lại, sẽ không có được sự yêu chuộng của khách hàng. Nó không hợp “gu,” nhu cầu, hay sự hâm mộ của người mua.

Thiết kế trong việc giảng thuyết cũng giống như việc thiết kế ở bất cứ những gì khác, ngay cả việc thiết kế kiểu mẫu xe. Thiết kế nói đến ở đây là việc sắp xếp các phần, các chi tiết, hình thức, mầu sắc và những thứ khác cách đặc biệt để cung cấp một sản phẩm hoàn hảo và nghệ thuật. Thiết kế cho bài giảng là vấn đề sắp xếp. Đó là việc xắp xếp thế nào cho các phần khác nhau, thứ tự các chi tiết, hình thức trình bày, cách trình bày và giọng điệu của bài giảng. Điều này bao gồm việc chọn  lựa các tài liệu, dùng tài liệu cách quân bình, đồng nhất trong tư tưởng, và di chuyển có thứ tự khi trình bày bài giảng.

Một số bài giảng được thiết kế hay. Chúng nối kết được với người nghe, thu hút họ cả trong hai lãnh vực chức năng (đạt được mục tiêu mong muốn) và mỹ thuật (cảm nhận được cái hay và nét đẹp). Thiết kế dở không đạt được hiệu qủa như thế. Cho dù nó có vẻ hay đối với người viết bài giảng, thiết kế bài giảng sẽ phải được chấm bởi người nghe. Thiết kế bài giảng dở sẽ nhận được sự im lặng, buồn chán, lơ đãng, khó chịu, hay ngay cả việc hổ thẹn. Bất kể vị giảng thuyết có chân thật và tha thiết với bản tin thế nào đi nữa, việc thiết kế dở sẽ làm qùe quặt cho việc trình bày bài giảng.

Thiết kế bài giảng hay đòi phải có sự chú ý tới ba điểm. Thứ nhất là bản tin của bản văn Thánh Kinh. Chúng ta đã bàn về vấn đề này khá dài. Thứ hai là chất tính và nhu cầu của người nghe. Điểm này sẽ được bàn đến trong phần cảm nghiệm của con người trong chương này. Thứ ba là chất tính của việc thông tin bằng lời nói, và thiết kế các bài giảng thế nào cho tai của người nghe.       

Định Nghĩa: Thiết Kế Bài Giảng

Thiết kế bài giảng bao gồm việc chọn lựa và sắp xếp các tài liệu sẽ được trình bày trong bài giảng. Thiết kế bài giảng phải chú ý tới bản tin của bản văn, các thính giả được nhắm tới, và chất tính của việc truyền thông bằng lời nói.

Thiết kế bài giảng không phải là cho con mắt những là cho lỗ tai.Sự khác biệt rõ ràng giữa việc truyền thông bút luận và truyền thông ngôn luận đòi hỏi việc thiết kế bài giảng phải đặc biệt nhắm đến người nghe.

Tài liệu bài giảng phải được sắp xếp cho việc trình bày hợp với khoảng khắc thời gian hơn là vẽ vời trải rộng thừa thãi. Một bài giảng là một chuỗi những nhóm từ ngữ được dùng để trình bày từng phần một của tư tưởng bài giảng. Thứ tự các phần được trình bày là điều quan trọng sống còn cho việc hứng thú tham dự và thông hiểu của thính giả.

Hiểu Việc Thiết Kế

Thiết kế bất cứ cái gì bởi con người đòi phải có bốn yếu tố. Những yếu tố thiết kế này phải được quan tâm ngay từ những bước đầu của việc hoạch định cho suốt tới khi sản phẩm được đưa ra giới thiệu. Việc thiết kế bài giảng cũng đi theo tiến trình như thế. Chúng ta cùng tìm hiểu xem bốn yếu tố này ảnh hưởng thế nào tới việc thiết kế bài giảng.

Quan tâm thứ nhất trong việc thiết kế là chức năng. Câu hỏi được đưa ra để quyết định cho chức năng là: “Nó được đưa ra để làm gì?” Trừ khi chúng ta biết rõ chủ đích của một vật được dùng vào việc gì, nếu không thì làm thế nào chúng ta có thể biết thiết kế nó? Trong việc chế tạo sản xuất xe hơi, câu hỏi về mục đích này không thể coi nhẹ, ngay sau khi đã có cả hàng trăm năm kinh nghiệm. Nó có mục đích để làm gì? Xe có mục đích để chuyên chở hành khách từ địa điểm này tới địa điểm kia. Chức năng này hướng dẫn cho mọi quyết định trong việc hoạch định và chế tạo xe. Câu hỏi về chức năng là câu hỏi đầu tiên được hỏi, bởi vì không cái gì có thể được làm ra mà không có lý do để làm ra nó. 

Yếu tố chức năng cho việc giảng thuyết là vấn đề của mục đích. Rao giảng cái gì? Bài giảng này có mục đích gì? Chúng ta dễ dàng tự cho rằng giảng tự nó tốt cho một cái gì đó. Định nghĩa “một cái gì đó” là nói đến vấn đề chức năng. Mục đích chung cho giảng thuyết là công bố chân lý Thánh Kinh để truyền thông cách hữu hiệu và đóng góp vào việc đáp theo trong đức tin nơi người nghe. Đối tượng riêng cho mỗi bài giảng  tùy thuộc ở nội dung và mục đích của bản văn, ở thính giả và nhu cầu của họ, và ở từng trường hợp và các hoàn cảnh chung quanh.

Thánh Kinh cho chúng ta một số mục đích rõ cho việc giảng thuyết. Thánh Phao-lô viết, “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính” (2 Tim 3:16). Ngài đã truyền cho Ti-mô-thê, “Hãy rao giảng lời Chúa . . . hãy lên tiếng lúc thuận tiện cũng nhu lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ (2 Tim 4:2). Các bài giảng, do đó, được thiết kế với các mục đích như giảng dạy, khuyên răn, sửa bảo, huấn luyện và khuyến khích. Tất cả các mục đích này tùy thuộc ở việc truyền thông hữu hiệu. Tất cả đóng góp vào việc xây dựng đức tin nơi người nghe, bởi vì “bất cứ hành động nào không thuộc đức tin đều là tội lỗi” (Rom 14:23).

Điều này dẫn chúng ta đến yếu tố thứ hai là hình thể thiết kế. Câu hỏi đặt ra cho hình thể là: “Chúng ta làm nó theo hình thể nào?” Dĩ nhiên đây là cấu trúc của nó. Hình thể của bất cứ cái gì phải làm theo chức năng của nó. Bạn không biết làm ra hình thể của nó trừ khi bạn biết mục đích cho chức năng của nó. Hình thể của đôi giầy được quyết định bởi chức năng của nó, để mang ở chân. Không hai lại nghĩ đến việc thiết kế hình thể đôi giầy ở bất cứ cái gì khác hơn là đóng giầy cho xứng hợp với đôi bàn chân. Cũng như thế đối với chiếc ghế, cặp kiếng hay cái điện thoại. Có thể có vài sáng kiến trong việc thiết kế, hình thể căn bản vẫn được giới hạn ở đòi hỏi của chức năng.

Hình thể trong việc giảng thuyết có nghĩa là sự cấu trúc của bài giảng, dàn bài, và cách tổ chức bài giảng. Như chúng ta sẽ thấy, cấu trúc cho việc truyền thông bằng lời nói được hiểu cách tốt nhất như thứ tự trong việc trình bày tài liệu của bài giảng. Cái gì đến trước, cái gì đến sau, các tư tưởng liên hệ với nhau thế nào - Việc sắp xếp các tư tưởng của bài giảng phải được hoạch định. Vì chức năng là việc truyền thông, hình thể phải được thiết lập để truyền đạt đi. Bài giảng không thể làm nhiệm vụ của nó trừ khi nó được thiết lập theo đúng chức năng của nó.

Thiết kế không chỉ gồm việc quan tâm đến chức năng và hình thể nhưng còn phải quan tâm đến vật liệu cơ cấu được dùng đến. Trong nhiều trường hợp vật liệu được dùng cho một việc nào đó đều đã có. Giầy được làm bằng da; xe hơi làm bằng sắt và những vật liệu khác; bàn ghế được đóng bằng gỗ và bọc vải hay chất nylon. Các vật liệu xứng hợp cho vật này có thể không  xứng hợp cho vật khác. Vật liệu được chọn để xứng hợp với chức năng và hình thể. Một chiếc xe không thể được làm bằng giấy bởi vì chức năng và hình thể của nó không cho phép làm như thế. Cũng vậy cuốn vở ghi chép của chúng ta không thể được làm bằng sắt. Vì nếu như thế, nó không thể chu toàn công việc nó được chỉ định để làm. 

Vật liệu của bài giảng là những tài liệu làm nên bài giảng – các ý tưởng trong bài giảng và các từ ngữ được dùng để diễn tả các ý tưởng đó. Vật liệu của bài giảng cũng phải phục vụ cho chức năng và hình thể. Những điều bạn dự tính nói, như tài liệu bài giảng, sẽ biểu lộ điều bạn nghĩ về  bài giảng sẽ làm được gì - chức năng của bài giảng. Cách xếp đặt bài giảng, tức là hình thể của bài giảng, cũng sẽ ảnh hưởng đến việc chọn lựa các tài liệu. Giống như nhà cửa ở nhiều miền khác nhau được cây cất bằng các vật liệu khác nhau tùy theo cung ứng vật liệu ở mỗi miền. Cũng vậy, một bài giảng bắt đầu vối một khối vật liệu là bản văn Thánh Kinh. Vật liệu căn bản cho bài giảng là bản văn Thánh Kinh.

Yếu tố thứ bốn được quan tâm đến trong thiết kế bất cái gì là hoàn tất sản phẩm. Các hãng xe thường hay nói đến “vừa vặn và hoàn tất.” Vừa vặn có nghĩa là tất cả các bộ phận khác nhau được lắp ráp ăn khớp. Hoàn tất là cảm thấy hài lòng khi nhìn vào chiếc xe mới được chế tạo – màu xe, nước sơn trơn tru, chi tiết chỉ dẫn chăm sóc xe. Sực việc hoàn tất, cùng với hình thể, thu hút cảm giác thẩm mỹ đối với những sự vật chung quanh chúng ta.      

Trong giảng thuyết, hoàn tất có nghĩa chính là “kiểu cách giảng.” Đây là cách bạn diễn tả chính mình. Nó là sự rõ ràng trong sáng, có uy lực và nét đẹp trong việc bạn trình bày các tư tưởng của bài giảng. Ấn tượng chung của bài giảng để lại nơi thính giả được ảnh hưởng do bởi tất cả các yếu tố chúng ta đã bàn tới, nhưng “cái áo” bạn mặc cho yếu tố hoàn tất có thể làm nên sự khác biệt lớn giữa bài giảng hay hoặc là thật hay! 

Khi chúng ta hoạch định thiết kế cho các bài giảng, điều quan trọng là chúng ta để tâm đến những yếu tố này. Hãy nhớ là tất cả các yếu tố này đều liên hệ với nhau. Chức năng dẫn đến việc lập hình thể, bằng cách đặt mục đích như là nguyên tắc hướng dẫn. Hình thể phải quan tâm đến vật liệu, những tài liệu có sẵn. Bản văn Thánh Kinh được cung cấp. Vị giảng thuyết không tự mình tạo ra bản tin. Do đó hình thể của bài giảng phải phản ảnh hình thể của bản văn Thánh Kinh. Hình thể của bài giảng cũng ảnh hưởng đến yếu tố hoàn tất, kiểu cách giảng của vị giảng thuyết, và tính sáng tạo mà vị giảng thuyết mang vào công việc truyền thông.    

Thiết Kế cho Truyền Thông

Thiết kế bài giảng, giống như thiết kế cho bất cứ cái gì, là làm theo mục đích của nhà thiết kế. Nhiều vị giảng thuyết cho rằng mục đích của họ là làm việc cách có tổ chức đối với vấn đề của bài giảng. Do đó cấu trúc của bài giảng thường đi theo những lối viết giống như luận văn hay là bài diễn thuyết - mở đề, thân bài, và kết luận. Là những nhà giảng thuyết, quan tâm lớn hơn của chúng ta là truyền thông. Chúng ta muốn gây ấn tượng trong sự suy nghĩ của người nghe. Chúng ta muốn họ hiểu và chấp nhận những nguyên tắc xuất hiện từ bản văn bài giảng.

Truyền thông là mục đích chức năng của giảng thuyết. Chức năng của giảng thuyết có nghĩa là mục đích thực dụng trực tiếp của bài giảng. Truyền thông có nghĩa là “tạo mối liên lạc trong suy nghĩ của người nghe với bản tin được truyền đạt.” Không thể đạt được đối tượng nào, trừ khi chúng ta thực sự có sự truyền thông thật. Thật dễ để vị giảng thuyết nghĩ rằng mục đích của họ là trình bày bài giảng. Không thể đơn giản như thế. Trình bày một bài giảng là phương tiện đối với mục đích của truyền thông. Nhưng việc truyền thông đòi hỏi nhiều hơn là việc trình bày. Nó đòi hỏi bản tin phải được tiếp nhận và hiểu thấu như chủ đích đặt cho nó. 

Định Nghĩa: Truyền Thông

Truyền thông được định nghĩa như việc “chia sẻ ý nghĩa.” Tiếng La-tinh là communicare, có nghĩa là “chia sẻ hay là ban ra.” Nghĩa chính là “duy trì chung,” để có cùng một sự hiểu biết hay chung cùng một ý nghĩa.

Người truyền thông nhằm vào việc làm cho người nghe họ nắm giữ được trong trí óc sự hiểu biết chính xác về điều họ muốn nói. Đây không nguyên chỉ là việc chia sẻ tin tức nhưng là ảnh hưởng của tin tức đó nơi những người có liên hệ.   

Nếu truyền thông là quan tâm hàng đầu, chúng ta không chỉ thiết kế các bài giảng chung quanh một vấn đề. Chúng ta hãy thiết kế các bài giảng chung quanh thách đố truyền thông nơi thính giả.Chúng ta hãy đối diện với vấn đề không những chỉ ở các ý tưởng chúng ta muốn trình bày nhưng còn ở những nhu cầu của người nghe. Các mục đích này không xung khắc nhau. Vấn đề là điểm chúng ta nhắm vào. Thiết kế bài giảng của bạn hướng về vấn đề hay hướng đến người nghe? Việc sắp xếp tài liệu được chú trọng hoạch định chung quanh vấn đề hay cũng tối đa cho việc liên lạc truyền thông với người nghe?

Vì Thiên Chúa đã dùng cơ quan nhân loại để truyền thông mạc khải của Ngài cho con người, vị gỉang thuyết trở nên người cộng tác với Thiên Chúa trong công việc này. Vị giảng thuyết có trách nhiệm lớn lao để làm tất cả những gì con người có thể, để nối khoảng cách bằng nhịp cầu truyền thông và trình bày bản tin cách hiệu qủa nhất. “Lời của Thiên Chúa thì sống động và mạnh mẽ, sắc bén hơn gươm hai lưỡi, có thể xuyên thấu chỗ phân cách linh hồn và thần linh, phân định tư tưởng và ý định của tâm can” (Dt 4:12). Thánh Thần làm việc để hướng dẫn chúng ta trong chân lý (Gio 16:13). Thánh Phao-lô trình bày chiến thuật truyền thông của ngài bằng những lời sau đây: “Tôi đã trở nên mọi sự cho mọi người để bằng mọi cách cứu được một số người” (1 Cor 9:22).

Thực tốt để chúng ta bắt đầu bằng việc nhìn nhận là có khoảng cách truyền thông chúng ta gặp  trong mọi trường hợp khi rao giảng. Thính giả có thể không hồ hởi đối với bản tin của chúng ta. Họ có thể thụ động và trung lập. Trí óc họ để ý đến những vấn đề khác. Họ bị chia trí và phân tâm về những vấn đề riêng tư. Hãy hình dung tưởng tượng nếu các thính giả có cái nút máy điều khiển trong tay để thay đổi “kênh” (đài) theo ý muốn. Bạn có thể là kênh (đài) tôn giáo, nhưng thính giả có nhiều kênh khác để chọn trong đầu. Do đó họ tìm cái gì hứng thú để nghĩ đến. Và rất có thể nó không phải là bài giảng của bạn.

Lời của Thiên Chúa qúa cần thiết cho đời sống của con người khiến cho vị giảng thuyết không thể làm ngơ trong việc nối nhịp cầu cho khoảng trống truyền thông. Mọi bài giảng có thể là một biến cố thay đổi đời sống. Thính giả không chắc có thể nghe được bản tin chân lý này ở đâu khác nữa. Nó là một cơ hội có một không hai cho vị giảng thuyết. Không khi nào trong tuần mà cha xứ hay vị linh mục có cơ hội tạo ảnh hưởng trên một cộng đoàn dân Chúa như một bài giảng có thể làm. Tính chất quan trọng như thế đòi phải có sự cẩn thận chuẩn bị và cầu nguyện.

Bạn có thể trả lời cho vấn đề này giống như một vị giảng thuyết kia đã làm. “Truyền thông là một việc cộng tác. Cả vị giảng thuyết và người nghe có trách nhiệm trong vấn đề này. Tôi có thể cố gắng có cái gì đó đáng để nói, những tôi không thể bắt người ta lắng nghe. Họ không phải là các Kitô hữu hay sao? Chẳng lẽ họ không có trách nhiệm thăng tiến tinh thần cho đời sống của họ? Nếu tôi dọn bàn, chẳng nhẽ họ không ít là tự gắp lấy đồ ăn cho chính mình?”

Quan niệm này nghe có vẻ hữu lý, nhưng nó chẳng giúp đạt được mục tiêu vị giảng thuyết nhắm đến. Thực không khôn ngoan chút nào để mong có sự cộng tác 50/50 và rồi trách móc phía bên người cộng tác không nỗ lực đủ. Đây là chiến lược rất nguy nan cho vị giảng thuyết hay bất cứ ai trong nghề truyền thông. Chúng ta ai cũng biết là, trong bất cứ biến cố truyền thông nào, trách nhiệm luôn đè nặng trên vai người nói. Chúng ta bắt buộc phải nhận trách nhiệm quan trọng lớn hơn này và đi gần đến với người nghe bao nhiêu có thể để khép lại khoảng cách truyền thông. Rất có thể sự bất nhẫn của chúng ta, như những vị giảng thuyết, nằm ở điểm không biết làm thế nào để nối nhịp cầu cho cái khoảng cách truyền thông đó. 

Những Tài Liệu Lối Chi Tiết và Lối Tổng Quát

Các thính giả ngày nay được coi là thiên về thị giác trong việc học hiểu hơn là những thế hệ về trước. Nhưng chưa có thế hệ nào từ ngày tạo dựng con người mà trí tưởng tượng không phải là yếu tố chính trong việc học hỏi. Ngay cả sự thịnh hành của việc truyền thông ấn loát đã thay đồi cách các xã hội văn chương suy nghĩ, con người vẫn sống đời sống của họ trong các hình ảnh của thế giới họ sống.

Ralph Lewis đã chủ trương lối giảng đi vào từ chi tiết như là giải đáp cho vấn đề bài giảng qúa buồn chán, thiên học thức, nặng thói quen truyền thống chán ngắt.  Trong khi đề cập đến những điểm  hay về nhu cầu cho những yếu tố theo lối chi tiết trong giảng thuyết, Lewis vẽ ra bức tranh tiêu cực về thói giảng truyền thống.  Ông phê bình những điểm chỉ tiêu trong bài giảng như là những đề nghị không hứng thú cho người nghe. Ông muốn có tài liệu hấp dẫn tới việc gợi óc tưởng tượng.

Hai đặc tính chung phân cách giữa những yếu tố tổng quát và yếu tố chi tiết trong giảng thuyết. Trước hết, sự khác biệt liên quan đến hướng đi trong việc trình bày tài liệu. Lối suy nghĩ đi từ tổng quát bắt đầu với những chân lý chung và đi tới những diễn tả cá biệt riêng cho các chân lý đó. Lối suy nghĩ đi từ chi tiết bắt đầu với những cảm nghiệm hay các thí dụ cá biệt riêng và đi tới những kết luận chung.

Ngoài hướng đi của việc di chuyển trong bài giảng ra, thì loại tài liệu được dùng trong bài giảng sẽ chỉ cho biết nó đi theo lối chi tiết hơn hay là đi theo lối tổng quát. Tất cả các tài liệu bài giảng có thể được xếp loại thuộc tổng quát hay chi tiết. Một lời công bố chân lý chung như, “Các tín hữu phải yêu thương tha nhân” thì rõ ràng khác với một thí dụ cá biệt trong việc thực hành chân lý đó như câu truyện về người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu. Những tài liệu tổng quát tạo nên những xác quyết thuộc thần học, trong khi những tài liệu lối chi tiết nói đến những cảm nghiệm cá biệt.

Đối với các tài liệu để dùng, Lewis đề nghị việc khai triển cụ thể và chi tiết. Bất cứ bài giảng nào, bất kỳ hướng đi của tư tưởng là gì, sẽ buồn chán và không hứng thú nếu nó không có những cảm nghiệm cụ thể cá biệt gần gũi với đời sống. Lewis nói giảng theo lối đi vào từ chi tiết giống như Đức Giê-su đã dùng các liên quan cá nhân, những nhu cầu nhân loại, những dụ ngôn, các câu truyện, lối luận lý tường thuật, những cảm nghiệm quen thuộc, thị hiếu, các câu hỏi, đối thoại v.v. Không thể nghi ngờ là việc giảng thuyết hay sẽ dùng những yếu tố của lối đi vào từ chi tiết này.  Nhưng giảng hay cũng đòi phải có những công bố rõ ràng về các chân lý Thánh Kinh.

Óc tưởng tượng sáng tạo chỉ được thức tỉnh nhờ những điểm cá biệt. Có một luồng điện trong trí của mỗi người nghe. Nó sẽ ngắt đi khi họ nghe qúa nhiều ý tưởng trừu tượng. Vị giảng thuyết có thể nhìn ra điều đó trên khuôn mặt của người nghe khi sự hứng thú bật cờ báo hiệu. Mắt họ nhìn lên trần nhà, và mặt họ như không tỉnh thức. Đôi khi họ quay tìm lục túi xách tay, lật mở trang sách hát, hay viết những việc cần làm ờ ngoài phong thư dâng cúng. Khi vị giảng thuyết thấy những dấu này, họ có thể tìm cách đáp lại ngay tức khắc bằng cách dùng một cái gì đó cụ thể, sống động, cá biệt và xứng hợp để lấy lại sự chú ý của thính giả. Họ có thể áp dụng lối gợi hình.

Khiếu Thuật trong Phần Này

Các khiếu thuật trong phần này là thiết kế bài giảng để truyền thông các chân lý của bản văn và móc nối với người nghe.

Khiếu Thuật thứ 10 là Động Chạm đến Cảm Nghiệm Con Người. Khiếu thuật này đi lần lượt từ những chân lý Thánh Kinh được khám phá ra từ bản văn đến những ý tưởng thích hợp với cảm nghiệm của người nghe. Nơi đây chúng ta học suy nghĩ về cách thiết kế bài giảng theo thực tế của bản tính nhân loại.

Khiếu thuật thứ 11 là Nhắm Đến Việc Đáp Theo Đức Tin.Khiếu thuật này là hoạch định mọi yếu tố của thiết kế bài giảng hướng về mục tiêu chính của việc đáp theo đức tin nơi người nghe. Chúng ta làm việc này khi chúng ta công bố uy tín của Thiên Chúa bằng việc trình bày bản tin của bản văn từ khía cạnh lấy Thiên Chúa làm tâm điểm.

Khiếu thuật 12 là hoạch định việc Giảng Bằng Lời Nói (oral presentation). Khiếu thuật này quyết định việc lựa chọn và sắp xếp  các tài liệu bài giảng sao cho hữu hiệu nhất trong việc truyền thông bản tin. Chúng ta hoạch định việc trình bày  để phản ảnh bản tin của bản văn, chất tính của người nghe, và những sinh động của việc giảng bằng lời nói.

Các Câu Hỏi Để Học Hiểu

  1. Thiết kế bài giảng nghĩa là gì?
  2. Thử nghiệm thiết kế cho sảm phẩm tiêu thụ là gì?
  3. Bốn yếu tố được quan tâm đến trong việc thiết kế cho bất cứ một sản nào là những yếu tố gì?
  4. Cái gì là vật liệu căn bản cho một bài giảng?
  5. Ý nghĩa căn bản của truyền thông là gì?
  6. Mục đích chính của giảng thuyết là gì?
  7. Mục đích công dụng của bài giảng là gì?