12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 9

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Họa Hình - Kể Truyện

Nó là một phép lạ. Ít nhất nó dường như là một phép lạ đối với vị giảng thuyết. Ngài tiếp tục giảng, chiến đấu với sự hững hờ giống như lội trong nước ao bùn. Ngài có thể nhận thấy nơi dáng mặt của thính giả. Họ không thực sự lắng nghe. Bất chợt phép lạ xẩy ra. Đột nhiên họ chú ý hướng nhìn vị giảng thuyết. Họ trở nên thật im lặng. Vài người nghiêng mình một chút quay hướng nhìn quan sát người chung quanh. Một cụ để tay đỡ bên tai để nghe cho rõ hơn. Trẻ em đang vẽ tự nhiên bỏ bút giấy và nhìn lên dáng vẻ trông chờ.

Điều gì đã xẩy ra? Có phải vị giảng thuyết bất chợt trở nên một diễn thuyết gia? Một cách nào đó có thể là đúng như thế. Ngài đã bắt đầu kể một câu truyện hay miêu tả một bối cảnh sống động. Không lý do nào khác hơn là bất chợt đã đạt được nối kết thông tin. Đột nhiên họ đã trở nên hứng thú lắng nghe. Thính giả chú ý đến vị giảng thuyết.

Không những từ ngữ họa hình và các câu truyện đóng vai quan trọng trong việc diễn thuyết truyền thông hay, nhưng chúng cũng là di sản mạc khải của Chúa trong Thánh Kinh. Đức tin của chúng ta là một đức tin có lịch sử. Điều chúng ta tin đã được tỏ bày trong lịch sử - qua các biến cố đặc biệt, có nơi có chốn, có các nhân vật làm chứng là đã gặp gỡ Thiên Chúa. Đức tin của chúng ta không đến từ những công bố của nền triết lý, của những huyền bí, những bí mật hay những công thức thần học. Thiên Chúa đã mạc khải chính Ngài qua các cảm nghiệm của những con người bình thường được làm nên khác thường do việc Ngài đã đặc biệt đi vào đời sống của họ.   

Trong các câu truyện và bối cảnh cuộc sống của họ, chúng ta học biết về Thiên Chúa là ai và Ngài đã làm gì. Chúng ta đích thân gặp gỡ Ngài trong các câu truyện của họ khi Ngài đánh động nhận thức của chúng ta về ý nghĩa của những gì xẩy ra ở đó. Cuối cùng chúng ta đối diện với Chúa của tạo vật trong câu truyện của Đức Giê-su Kitô. Nơi đời sống của Chúa Kitô, chúng ta nhìn Ngài như chưa từng nhìn như thế bao giờ. Ngài gặp gỡ chúng ta nơi đó, trong Tin Mừng, câu truyện về cuộc đời của một người mà người đó lại thực là Thiên Chúa.

Nếu mạc khải của Thiên Chúa đến với chúng ta trong những bối cảnh và các câu truyện, việc rao giảng về mạc khải đó cũng phải được rao truyền tới người nghe trong cùng một hình thức giống như thế. Điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ là những người kể truyện. Chúng ta cũng là những người giải thích ý nghĩa các câu truyện cho người nghe. Và chúng ta cũng phải kể những câu truyện mới và vẽ họa những màn ảnh mới cho thế hệ mới. Trong những màn ảnh và các câu truyện này họ sẽ nhìn ra chân lý của các câu truyện Thánh Kinh được tái diễn nơi các địa danh và đời sống của con người ngày nay.   

Trong chương này chúng ta sẽ bàn đến nghệ thuật vị giảng thuyết vẽ họa cách sống động và gợi hình các bối cảnh và các câu truyện Thánh Kinh và thời đại. Việc thực tập nhằm củng cố khả năng này là dựng bối cảnh và các câu truyện. Đây là chương thứ ba đặc biệt chú ý đến khai triển bài giảng. Bây giờ chúng ta để ý đến cách dùng lối kể truyện và từ ngữ họa hình để khai triển các tư tưởng bài giảng.

Truyện và Sắp Xếp Bố Cục

Phần lớn trong Thánh Kinh là lối thuật truyện ở hình thức này hay hình thức khác. Khi giảng về một đoạn văn mang hình thức thuật truyện, bạn làm cho câu truyện đó sống động lại trong bài giảng. Những đoản truyện tường thuật trong Thánh kinh không phải là những câu truyện hoang đường hay tưởng tượng của Disney. Nhưng là những câu truyện có thật trong các biến cố lịch sử. Các nhân vật, nơi chốn và những gì xẩy ra là có thật. Đáng tiếc là một số người kể lại những câu truyện này giống như chúng thật xa lạ, buồn chán, và khó tin.

Ta đã nghe nhiều bài giảng từ những bản văn thuật truyện tường thuật lại câu truyện hơn là kể câu truyện ấy. Giống như việc khám nghiệm xác chết, vị giảng thuyết nói ra việc phân tích chuyên thần học về câu truyện. Nhưng bản văn tường thuật được giảng hay nhất bằng cách kể lại câu truyện với việc giải thích và áp dụng thần học.

Cho dù đa số các Kitô hữu nói là họ tin vào các câu truyện Thánh Kinh, họ có thể tin theo cách khác với lịch sử trần thế. Đây là những câu truyện họ đã được nghe từ thuở bé. Họ nhớ thuộc lòng – A-dong và E-và, Jo-na và con cá mập, Đa-vid và Go-li-at, Đa-ni-en trong hang cọp. Ta có thể nhớ khi còn bé đi tĩnh tâm ở nhà thờ và nghe kể về câu truyện của Thánh Kinh như nó thực sự đã xẩy ra. Câu truyện về Na-a-man và việc ông được chữa lành bởi nước sông. Vị giảng thuyết đã miêu tả đoàn xe ngựa và bụi tung bay khi họ tiến đến nhà của vị tiên tri. Ta không bao giờ quên. Ta đã nhìn thấy và ta đã hiện diện ở đó.

Một số vị giảng thuyết có thể cảm thấy bất đắc dĩ để kể các câu truyện Thánh Kinh cách chân thực như thế. Nó có vẻ như là nói thêm vào Thánh Kinh nhiều hơn là câu truyện muốn nói. Không có việc lỗi phạm đối với Thánh Kinh để kể lại các câu truyện cách gợi hình như thế. Nó có thể lại là một lỗi phạm đối với chủ ý của Thánh Kinh khi kể truyện trong cách thức khiến người ta không tin vào những câu truyện đó. Các vị giảng thuyết có thể sợ bị cho là khoe khoang đối với cộng đoàn nghe giảng. Họ có thể e sợ là làm trò hề. Họ có thể không biết vẽ họa hình và kể các câu truyện. Ta có thể hiểu những lo ngại này. Nhưng lòng ước muốn có được việc truyền thông hữu hiệu vượt ra ngoài bóng tối của những e sợ ngày trong việc rao giảng.

Các câu truyện đi theo một vài mẫu lối nhất định khi chúng được mở ra. Trong truyện tiểu thuyết chúng ta gọi nó là “mưu lược truyện”. Điều này có nghĩa là câu truyện được tường thuật để nói lên ý nghĩa hay để đạt mục đích của nó. Eugene Lowry đã dùng tư tưởng “mưu lược truyện’ để diễn tả hình thức của bài giảng giống như một câu truyện. “Trong bất cứ loại mưu lược truyện nào, biến cố của câu truyện di chuyển từ nút thắt, một cảm giác thiếu hụt không đều, thấy ngứa ngáy khó chịu gây nên bởi sự mập mờ, đi tìm giải đáp, một sự giải thoát khỏi điều mập mờ bí ẩn, cái gãi làm cho hết ngứa.” Ở đây không đề nghị là bạn hoạch định bài giảng theo hình thức này. Nếu muốn đọc về cách giảng như thế, bạn có thể tìm đọc sách của Lowry và một số những tác giả khác về việc giảng theo lối kể truyện. Bây giờ chúng ta vạch ra mẫu lối mà Lowry nhận ra trong mưu lược truyện, việc di chuyển từ nút thắt đến giải đáp.

Dàn Lược Truyện

Các câu truyện thường đi theo một mẫu lối với năm giai đoạn. Những giai đoạn này có thể không cân bằng hoặc không cùng “nặng ký” như nhau trong câu truyện. Một vài khía cạnh của truyện có thể chỉ được ám chỉ tới. Vị giảng thuyết có thể dùng mẫu lối truyện bình thường để phân tích bản văn câu truyện và hoạch định kể như việc khai triển bài giảng.

Giai đoạn 1: Hiện trường: Bối cảnh tình thế và hậu trường dẫn tới tình thế đó, các nhân vật.

Giai đoạn 2: Nút thắt: Vấn nạn gây ra sự giằng co sôi động . . .

Giai đoạn 3: Tìm giải nút: Những giải đáp khác nhau được tìm tòi theo lịch trình câu truyện.

Giai đoạn 4: Giải nút: Tìm được nút giải, giải quyết vấn nạn sôi nổi kia.

Giai đoạn 5: Hiện trường mới: Những hiện trường mới phát sinh.

Năm Giai Đoạn của Một Câu Truyện

Chúng ta hãy để ý xem các câu truyện thường được mở ra như thế nào. Đây là năm giai đoạn bạn sẽ thấy trong các câu truyện: Hiện trường, nút thắt, tìm giải nút, giải nút, hiện trường mới. Mỗi câu truyện trong Thánh Kinh có thể  được phân tích theo mẫu lối này. Phân tích một bản văn kể truyện trong cách này sẽ giúp bạn nhận ra những cái nhình mới từ câu truyện, cách cấu trúc dàn lược của tác giả, và chuẩn bị cho việc bạn kể lại câu truyện.

Một câu truyện được bắt đầu với một hiện trường. Đây là hậu trường dẫn đến vấn nạn, các hoàn cảnh chung quanh, các nhân vật v. v. làm nên bối cảnh của câu truyện. Trong dụ ngôn người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu, hiện trường được lập ra cách ngắn gọn: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô (Lc 10:30). Chúng ta quen thuộc với giai đoạn này của câu truyện theo công thức truyền thống, “Ngày xửa ngày xưa.” Khi phân tích những câu truyện Thánh Kinh, hãy tìm ra hiện trường của bối cảnh. Nếu nó được hiểu ngậm hay được trình bày ở phần trước đó, bạn cần xem lại để biết thêm chi tiết bối cảnh dẫn đến câu truyện.

Trong việc dùng các câu truyện cho bài giảng, đừng dùng qúa nhiều thời gian cho giai đoạn hiện trường. Chỉ trong vài câu bạn có thể giúp cho người nghe biết về trường hợp của câu truyện. Chỉ dùng những tài liệu thích hợp cho câu truyện. Luôn nhớ rằng mỗi câu truyện đều được kể với một mục đích. Bất cứ cái gì không góp phần cho mục đích đó đều không cần thiết. Khi bại sắp xếp hiện trường, hãy dùng tài liệu riêng biệt và cụ thể như tên, nơi chốn, thời gian ngày, tháng, năm. Khi kể lại câu truyện Thánh Kinh, hãy đào sâu khi làm việc tra cứu để có những chi tiết này.

Giai đoạn hai của câu truyện là nút thắt của một vấn nạn xẩy ra. Giai đoạn này tạo nên hứng thú và lôi cuốn người nghe vào cuộc. Trong dụ ngôn người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu, Đức Giê-su trình bày giai đoạn nút thắt với những lời như sau: “dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi để mặc người ấy nửa sống nửa chết” (Lc 10:30). 

Giai đoạn này của câu truyện đòi phải có nút giải. Nó gào lên tìm giải quyết thỏa đáng cho tình trạng khốn cùng này. Hãy nhớ là câu truyện này được thiết kế để nói về vấn nạn, “Ai là người thân cận của tôi?” Tình trạng của người bộ hành để lại nơi người nghe cảm giác tò mò muốn biết xem thảm cảnh sẽ đi đến đâu.

Trong việc kể lại các câu truyện Thánh Kinh, phải bảo đảm là phần nút truyện phải đáng tin. Đôi khi những câu truyện Thánh Kinh dường như xa lạ đối với người nghe ngày nay. Việc quan trọng  vị giảng thuyết phải làm là đưa vào những dữ kiện cần thiết để giúp hiểu những khó khăn nhân tính trong câu truyện. Thí dụ, giải thích việc tại sao A-bra-ham quan tâm tuân theo mệnh lệnh của Thiên Chúa để sát tế I-sa-ac như một hy lễ là một việc cần thiết. Nếu không giải thích, thính giả thời nay có thể sẽ khó hiểu và không cảm thấy gần gũi với câu truyện. Hãy làm để cho các nhân vật Thánh Kinh có tính người như họ thực sự là người giống như chúng ta. Đừng làm việc qúa nhiều ở giai đoạn nút thắt. Công bố nó thật rõ ràng và lẹ làng mau chóng. Tự nó sẽ có ảnh hưởng riêng của nó.

Một câu truyện đi từ giai đoạn nút thắt đến việc tìm giải nút cho vấn nạn. Dụ ngôn người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu diễn tả ba người đi ngang qua và trông thấy nạn nhân. Giai đoạn tìm giải nút thật rõ ràng ở đây. Vị tư tế đã nhìn thấy nạn nhân, nhưng bỏ đi tránh qua bên kia đường. Một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, trông thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Sau đó Đức Giê-su nói, “Nhưng một người Sa-ma-ri-ta-nô kia đi đường . . . “ Nơi đây Ngài công bố một nút giải với người Sa-ma-ri-ta-nô. “Ông đi ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương.” Nút giải chưa được trình bày, nhưng việc tìm giải nút coi như đã xong. Việc tìm nút giải đơn giản là ở giai đoạn mà các lối giải đáp đã được khảo sát. Luôn dùng đủ thời gian ở giai đoạn này để tìm hiểu các giải đáp khác nhau.

Đôi khi việc tìm kiếm không nói rõ ra cho ta, như trong việc sát tế của A-bra-ham. Khi kể lại câu truyện đó, bạn có thể hình dung ra việc ông A-bra-ham lo tìm những giải pháp khác khi trên đường đi lên núi để làm việc sát tế. Ta có thể hình dung ra ông ta ngồi bên cạnh đống lửa trong đêm thứ hai nhìn I-sa-ac và người đầy tới năm ngủ say. Ông cầu nguyện để có bất cứ câu trả lời nào khác với câu mà ông đang lo sợ. Ông nhìn con ngủ và nhớ lại những lời hứa của Chúa và việc chào đời lạ lùng của con. Hãy làm câu truyện sống động cho thính giả nghe.

Giai đoạn tìm giải nút dẫn đến giai đoạn giải nút cho vấn nạn là trọng tâm của câu truyện. Trong dụ ngôn chúng ta theo dõi, nút giải được đưa ra với chi tiết khi người Sa-ma-ri-ta-nô băng bó vết thương cho nạn nhân và đưa nạn nhân vào quán trọ để được tiếp tục chăm sóc. Đức Giê-su rõ ràng có ý làm cho vị ân nhân này đi vượt xa hơn bổn phận bình thường. Hãy nhớ là mục đích của Ngài là trả lời cho câu hỏi, “Ai là người thân cận của tôi?” Trên thực tế, Đức Giê-su thay đổi câu hỏi thành, “Ai là người thân cận đối với những người lâm nạn?” Việc giải nút có tính cách cảm xúc đột ngột bất ngờ vì yếu tố chủng tộc; người ân nhân đó lại là người Sa-ma-ri-ta-nô.

Giải nút là điểm quanh thứ hai trong câu truyện. Điểm quanh thứ nhất dĩ nhiên là nút thắt. Đôi khi nút giải sẽ là một bất ngờ, như trong trường hợp người Sa-ma-ri-ta-nô. Đôi khi nó là việc quay trở lại đối với điều đã mất hay bị quên lãng. Trong những câu truyện Thánh Kinh thường có sự can thiệp của Thiên Chúa. Cuộc xuất hành từ Ai-cập gồm nhiều mẩu truyện. Thí dụ, phân tích phần biển đỏ theo công thức. Hiện trường: Họ rời Ai-cập. Nút thắt: Người Ai-cập rượt đuổi theo họ. Tìm giải nút: Dường như không có lối thoát khi họ đứng trước biển nước. Giải nút: Thiên Chúa can thiệp với quyền năng mở đường trên biển.

Giai đoạn cuối cùng của một câu truyện là hiện trường mới. Câu truyện đã đi trọn một vòng đến việc làm lại bối cảnh. Nhưng nó là một bối cảnh mới, một hiện trường mới. Những biến cố trong câu truyện đã thay đổi những hoàn cảnh chung quanh. Không điều gì còn như cũ. Đối với cảm nghiệm ở Biển Đỏ, hiện trường mới nhìn dân Do Thái tiếp tục hành trình; với quân đội Ai-cập bị chết chìm dưới biển. Người lâm nạn được phục hồi sức khỏe nhờ sự chăm sóc của người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu. Người con hoang đàng trở về nhà và được phục quyền với bữa tiệc linh đình. A-bra-ham nhận lại I-sa-ac, chứng tỏ tính trung tín của Thiên Chúa.

Hiện trường mới được vạch ra mau chóng. Khi giải nút được tìm thấy và áp dụng, vấn nạn được giải quyết. Hiện trường mới đem đến kết thúc làm ổn định và hài lòng nơi người nghe. Giai đoạn này nói lên lời nói cổ truyền, “Và từ đó họ sống thật hạnh phúc.” Dĩ nhiên cũng có thể là câu truyện không kết thúc cách tuyệt vời. Câu truyện về người giầu có khờ dại được giải đáp với kết thúc bất ngờ, lời công bố về cái chết của ông ta. Hiện trường mới là, “Những gì ngươi sắm đó sẽ về tay ai?” (Lc 12:20).

Do đó đây là năm giai đoạn của một câu truyện. Khi bạn phân tích một câu truyện Thánh Kinh, hãy tìm ra những yếu tố này. Việc bạn kể lại sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn nếu bạn hoạch định theo năm giai đoạn này. Hãy suy nghĩ tính toán kỹ về các câu truyện ngày nay và hoạch định kể theo dàn lược này. Để thực hành, hãy nghĩ về bất cứ chứng cớ nào trong kinh nghiệm riêng của bạn về phúc lộc của Thiên Chúa, và mưu lược câu truyện theo năm giai đoạn trên.

Ngôn Ngữ Lôi Cuốn

Nếu bạn muốn họa các hình ảnh và kể những câu truyện cách hiệu qủa, bạn sẽ cần dùng một số loại ngôn ngữ. Những ngôn từ và diễn từ này cá biệt hóa các tư tưởng của bạn. Chúng tạo ra cho người nghe tưởng tượng như họ đích thân tham dự trong cuộc và cảm nghiệm được chân lý bạn trình bày. Nói tổng quát không thể đạt đưọc điều này. Ngôn ngữ làm cá biệt hóa có những đặc điểm sau đây: gợi hình, miêu tả, gợi cảm, cụ thể và rõ biệt. Dù những đặc điểm này sẽ lẫn lộn khi dùng, chúng ta cùng xét chúng riêng rẽ ra.

Ngôn ngữ gợi hình vẽ họa ra một điều theo một cách khác để tạo thêm sự trung thực và hình ảnh sống động. Ngôn ngữ gợi hình giúp cho người nghe hiểu được ý tưởng của bà bằng việc nhìn thấy rõ hơn. Hầu hết ngôn ngữ tượng hình được đặt căn bản trên sự so sánh hay là liên tưởng về hai thứ khác nhau nhưng lại có những điểm quan trọng giống nhau. Chú ý xem cách thánh Gia-cô-bê diễn tả về cái lưỡi, “Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà nó làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái luỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta, nó làm cho toàn thân bị ô nhiễm, đối cháy bánh xe cuộc đời” (Gia-cô-bê 3:5-6). Thật là một cách sống động trình bày sức tàn phá của lời nói, do một phần đại diện rất nhỏ, là cái lưỡi.

Những hình ảnh thông dụng nhất của lời nói là những so sánh hay là ẩn dụ nghĩa bóng. So sánh là đối chiếu thẳng và minh bạch, thường là được dùng chữ “giống như” hay “như thể là” “cũng như”, “như khi.” Trong Thánh Vịnh 1:3 một so sánh dài được dùng. “Ngài sẽ giống như cây trồng bên suối nước, sinh nhiều hoa trái đúng mùa, và lá không bao giờ khô héo.” Ẩn dụ hay nghĩa bóng không trình bày so sánh thẳng những cũng thật sống động. Chúa Giê-su đã dùng ngôn ngữ ẩn dụ khi ngài nói, “Thầy là cây nho, anh em là ngành nho” (Gio 15:5).

Ngôn ngữ tượng hình có thể có hiệu qủa nhất nếu nó mới mẻ và sáng tạo. Điều này đòi hỏi phải suy nghĩ và hoạch định. Những hình ảnh cũ hay được dùng qúa nhiều sẽ trở nên qúa quen thuộc khiến ảnh hưởng của nó bị mất đi. Chúng trở nên không gì hơn là những câu nói sáo nhàm chán không còn mang ảnh hưởng theo ý nghĩa nguyên thủy của nó. Có bao giờ bạn nghe nói, “Nhạt như nước ốc?” hay, “Khỏe như trâu!” “To lớn như voi.” “Cứng như đá.” “Hát như sáo reo.” “Vui như tết.” “dễ như xuống đò qua sông.” Người nghe sẽ không còn nhìn thấy hình ảnh của những tượng hình này vì nó qúa quen thuộc.

Ngôn ngữ miêu tả dùng những bổ túc từ để thêm mầu sắc và chính xác cho hình ảnh. Ngôn ngữ tượng hình chúng ta bàn tới ở trên, dĩ nhiên, có thể là miêu tả. Nhưng ở đây ta nói về việc miêu tả không tượng hình để thêm sống động cho việc tường thuật. Các tĩnh từ diễn tả các danh từ và đại danh từ; đó là những miêu tả về các nhân vật, nơi chốn, đồ vật. Các trạng từ bổ túc cho các động từ, các tĩnh từ và những trạng từ khác. Cả trạng từ và tĩnh từ đều có thể là một từ hay là một nhóm từ.

Chỉ một từ ngữ miêu tả có thể thay đổi bối cảnh cách không ngờ. “Phao-lô và Si-la bị kéo vào ngục.” Bây giờ chỉ thêm vào một từ ngữ. “Phao-lô và Si-la đã bị kéo vào ngục.” Chỉ với một từ ngữ bạn có thể nhận ra họ đã bị đối xử tàn tệ, yếu ớt, và hành hạ. “Da-vid đã tiến tới phía tên khổng lồ, ngừng lại để lấy mấy viên đá khi tiến lên.” Thử viết cách khác, “Da-vid tiến tới cách thận trọng về phía tên khổng lồ.” Thật có sự khác lạ trong bối cảnh. Bạn hình dung ra Da-vid cẩn thận và không sợ sệt, giữ mắt nhắm thẳng vào kẻ thù, nhận thức tình thế nguy hiểm.

Hãy dùng ngôn ngữ miêu tả cách cẩn thận. Ngôn ngữ hoa mỹ được thiết kế để gây ấn tượng hay để thu hút cảm giác tốt nhất là nên loại bỏ. Chọn những từ ngừ và những cụm từ nắm bắt chính xác được bối cảnh bạn muốn trình bày. Công tác của bạn như là người ghép từ ngữ được dùng tới ở đây. Đừng bao giờ bằng lòng với từ ngữ gần đúng để nói điều bạn muốn nói. Một trong những điểm của những người mới trong nghề viết lách và diễn thuyết là dùng qúa nhiều tĩnh từ và trạng từ. Dùng miêu tả cách tằn tiện vừa đủ thôi. Như đã thấy ở trên, chỉ một từ ngữ sẽ tô mầu cho cả một bối cảnh, do đó tránh dùng thêm khi nó không cần thiết.

Ngôn ngữ gợi cảm nhận diện những đặc điểm cách riêng được tiếp nhận bởi các giác quan. Khi bạn miêu tả một bối cảnh, luôn luôn kiểm xét xem điều gì các giác quan sẽ tiếp nhận từ trong đó. Cảnh tượng gì? Tiếng động nào sẽ được nghe thấy? Mùi vị gì sẽ ngửi thấy? Những đối tượng có thể cảm giác bằng động chạm đến được không? Vị nếm như thế nào? Và dĩ nhiên là còn giác quan thứ sáu, cảm giác. Nó thường được diễn tả như là “Tôi cảm thấy . . .” hoặc “Tôi có cảm giác . . .”

Kiểm tra bối cảnh với các giác quan trong ý thức sẽ cho bạn miêu tả nó cách thực tế hơn. Thí dụ, nhà giam ở Phi-lip-pê nơi Phao-lô và Si-la bị giam cầm tối hôm đó. Họ đã bị đánh đập tàn nhẫn. Rồi họ được đưa vào trong ngục, với sự canh gác cẩn mật. Họ đã thấy cái gì? Có thể là không thấy gì hết ngoài bóng tối bao trùm. Họ đã nghe thấy gì? Nước nhỏ giọt. Con chuột chạy loanh quanh trên sàn nhà. Tiếng kêu than của các tù nhân khác. Họ đã cảm thấy gì? Cái cùm nơi ống chân. Đau đớn từ vết thương rỉ máu phía sau lưng. Cái gía lạnh và ẩm ướt. Họ ngửi thấy gì? Mùi hôi thối của phân và nước tiểu. Khí mốc và ngột ngạt.

Bạn có thể miêu tả bối cảnh đó không? Với ngôn ngữ gợi cảm, bạn có thể giúp cho thính giả cảm thấy nhà giam Phao-lô và Si-la. Họ sẽ không bao giờ quên nhà tù Phi-lip-pê bởi vì họ đã ở đó trong trí tưởng tượng. Bạn cũng có thể miêu tả hai người đó cảm thấy thế nào ở đó - bực bội, chán nản, mệt mỏi v. v. Nhưng phải cẩn thận khi miêu tả các cảm xúc đừng miêu tả qúa đáng. Chỉ nói về những điều họ đã làm trong ngục tù sẽ bày tỏ thái độ của họ về tình trạng ở đó.

Ngôn ngữ cụ thể đem các ý tưởng và các nguyên tắc xuống mặt đất để làm sáng tỏ và giúp cho dễ hiểu. Cụ thể có nghĩa là “những cái có thể tiếp nhận được bằng các giác quan như là thật và rõ biệt.” Nghĩa đối nghịch với cụ thể là “trừu tượng.” Trừu tượng có nghĩa là “thuộc ý thức hệ, như tình yêu, thật thà, khôn ngoan, chân thành, quyền lực, yếu đuối. Những cái cụ thể, nhận thức được bằng các giác quan như, thịt nướng, bánh bông lang, bánh mì mới ra lò, tất cả các diễn tả bày tỏ cụ thể về tư tưởng trừu tượng bổ dưỡng.

Các bài giảng trình bày những tư tưởng trừu tượng trong các câu công bố của tư tưởng bài giảng và phân bộ. Như chúng ta đã nói đến, tất cả việc khai triển bài giảng bao gồm việc cá biệt hóa những ý tưởng chung. Một cách để cá biệt hóa là dùng ngôn ngữ cụ thể. Bạn có thể nói về tình yêu trong một hồi lâu. Nhưng chỉ một vài thí dụ cụ thể về tình yêu sẽ thực sự mang lại cảm giác quen thuộc cho thính giả. “Bà ta luôn luôn nhận ra khi nào ông xã của bà có một ngày làm mệt nhọc.” “Ông ta không bao giờ quên ngày kỷ niệm họ gặp nhau lần đầu.” “Họ nhẫn nại lắng nghe khi ông ta tức giận la lối om sòm.”

Có nhiều cấp bậc trên lộ trình đi từ trừu tượng đến cụ thể. Mục đích của bạn là nhận ra khi nào bạn cần dùng ngôn ngữ trừu tượng và khi nào cần dùng ngôn ngữ cụ thể. Truyền thông hay, đòi có cả hai, được dùng trong cách quân bình và đúng thời điểm. Sự khác biệt giữa ngôn ngữ trừu tượng và cụ thể cũng giống như sự khác biệt giữa ý tưởng chung chung và cá biệt. Để ý đển biểu đồ ở dưới để thấy rõ hơn.

Ngôn ngữ cá biệt nói đến những phần tử cá biệt của những thứ thuộc cùng loại. Từ ngữ đối nghĩa là tổng quát chung, ám chỉ đến tất cả mọi phần tử của một thứ loại hay một nhóm. Có vài pha trộn trong việc bàn luận về ý tưởng tổng quát chung và điều cá biệt riêng với trừu tượng và cụ thể. Để phân biệt chúng, hãy nghĩ đến điều trừu tượngcụ thể như là ám chỉ về những cái có thể nhận thức được bằng các giác quan. Nghĩ đến ý tổng quát chung và cá biệt trong tính cách cá biệt của một điều gí đó.

Khí giới là từ ngữ diễn tả tổng quát chung. Cây kiếm thì cá biệt hơn. Cây kiếm hai lưỡi thì càng cá biệt hơn nữa. Bạn có thể nhận thấy là khí giới là thứ tổng quát chung của nhiều loại, trong khi cây kiếm hai lưỡi là một khí giới cá biệt riêng. Hãy dùng từ ngữ cá biệt nhất có thể để họa lên những hình ảnh và nói lên các câu truyện. Một từ ngữ sẽ gợi lên cả một bối cảnh khi nó là một từ ngữ cá biệt. Khi Mat-ta nói với Chúa Giê-su về Ma-ri-a giúp cô làm việc, Lu-ca kể, “Cô nói với Ngài.” ‘Nói’ là từ ngữ chung tổng quát. “Cô trách móc Ngài.” “Cô nói thầm vào tai Ngài.” “Cô la lên.” “Cô than phiền.” Đây là những từ ngữ cá biệt.

Mục đích dùng ngôn ngữ cụ thể và cá biệt là đi xuống “trái đất” giống như biểu đồ chỉ cho thấy. Phía trái là những thứ thuộc loại tổng quát chung. Phía phải là những cái cá biệt. Những từ ngữ và các cụm từ nói để gợi tưởng tượng, di chuyển về phía phải. Hàng gạch ở phía trên biểu tượng cho những tư tưởng trừu tượng. Hàng gạch ở phía dưới là những thứ cụ thể, và các hành động. Hãy di chuyển xuống để có các ngôn ngữ cụ thể hơn. Nói chung là bạn cần đi về phía phải và hướng xuống đất để có những hình ảnh cá biệt và sống động.

Từ Ngữ Hình Ảnh

Chúng ta hãy nhìn vào những so sánh tương tự của Chúa Giê-su. Khi làm việc này, hãy nghĩ  xem làm cách nào bạn phóng lớn từ ngữ hình ảnh của Ngài để giúp cho thính giả của bạn nhìn thấy ý tưởng đó trong trí của họ. Bạn cũng hãy nghĩ xem làm cách nào để hoạch định những so sánh tương tự như thể từ cảm nghiệm riêng của bạn. Một số những lời nói hình ảnh của Chúa Giê-su là các câu truyện. Hãy nhìn vào danh sách các dụ ngôn dưới đây. Bây giờ chúng ta để ý đến những so sánh tương tự ngắn không kể thành truyện.

Lời nói hình ảnh của Chúa Giê-su đến từ nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống của dân chúng Ngài quen biết. Khi bạn hoạch định lời nói hình ảnh cho bản tin của mình, hãy nghĩ về những cảm nghiệm này trong đời sống.

Những việc trong nhà. Đời sống thường ngày trong nhà đã cho Chúa Giê-su nhiều hình ảnh: Cây đèn soi sáng (Mt 6:22-23). Vá mảnh áo rách (Mt 9:16); rượu mới trong bầu da cũ (Mt 9:17); người khoẻ mạnh canh gác nhà mình (Mt 12:26); những con chó trong nhà (Mt 15:26-27); lọc con muỗi (Mt 23:24); gà mẹ và gà con (Mt 23:37); lỗ kim (Lc 18:25); sàng gạo (Lc 22:31).

Ăn và Uống. Ai cũng hiểu viện ăn việc uống, do dó Chúa Giê-su đã thường dùng hình ảnh này: người ta không nguyên sống bởi bánh (Mt 4:4). Đói và khát (Mt 5:6); bánh dành cho con cái (Mt 15:26). Men bánh (Mt 16:6, 11-12). Uống chén (Mt 20:22-23). Nếm (Mc 9:10). Uống nước (Gio 4:13-15). Ướp cho mặn (Mc 9:50). Lương thực mau hư nát (Gio 6:27). Bánh sự sống (Gio 6:32-35). Ăn uống (Gio 6:52-59).

Canh Nông. Chúa Giê-su đã dùng nhiều lời nói hình ảnh trong việc canh nông: Thu hoa qủa (Mt 7:16-20). Lúa chín đầy đồng, thợ gặt (Mt 9:37-38). Mang lấy ách (Mt 11:29). Cây tốt trái cũng tốt (Mt 12:33). Người gieo người gặt (Gio 4:35-38). Hạt lúa gieo vào lòng đất (Gio 12:24). Cây nho và ngành nho (Gio 15:1-8).

Người Chăn Chiên và Chiên. Một trong những nguồn của từ ngữ hình ảnh quen thuộc phong phú là chiên và đoàn chiên; sói rừng đội lốt chiên (Mt 7:6); con chiên lạc của Is-ra-en (Mt 10:6). Chiên giữa bầy sói (Mt 10:16). Chuồng chiên, người gác cửa chuồng, và người chăn chiên (Gio 10:1). Chiên đi theo người chăn (Gio 10:4-5). Tiếng người chăn (Gio 10:3-27). Kẻ trộm, người làm thuê, người chăn chiên (Gio 10:10-14). Chăn nuôi chiên (Gio 21:15-17).

Ánh Sáng và Bóng Tối. Con người thường xuyên cảm nghiệm ánh sáng và bóng tối: ánh sáng ban ngày và bóng tối ban đêm. Họ có thể hiểu được việc Chúa Giê-su dùng trong cảm nghiệm này: Ánh sáng nơi anh em (Mt 6:23). Ánh sáng phơi bày những gì trong bóng tối (Lc 12:2-3). Đèn sáng, đi trong bóng tối (Gio 8:12). Đi ban ngày có ánh sáng mặt trời. Đi ban đêm thì vấp ngã (Gio 11:9-10). Hãy lợi dụng lúc còn có ánh sáng (Gio 12:35-36). Ta là ánh sáng . . .  Không ở lại trong tối tăm (12:46).

Thế Giới Thiên Nhiên. Công việc sáng tạo của Thiên Chúa cung cấp nguồn thật tốt để Đức Giê-su dùng trong việc phân tích so sánh tương tự: Chim trời (Mt 6:26). Hoa ngoài đồng (Mt 6:28-29). Cỏ ngoài ruộng (Mt 6:30). Chó và heo lợn (Mt 7:6). Cáo và chim (Mt 8:20). Khôn như rắn và đơn sơ như chim câu (Mt 10:16). Chim sẻ (Mt 10:29-31). Lau sậy phất phơ trước gío (Mt 11:7). Tiên báo thời tiết (Mt 16:2-3). Mãng xà rắn độc (Mt 23:33). Như chớp loé từ phương đông (Mt 24:27). Xác chết ở đâu, riều hâu bâu lại đó (Mt 24:28). Mặt trời, mặt trăng, ngôi sao (Mt 24:29). Mây trời (Mt 24:30); Gió thổi (Gio 3:8).

Thân Thể Con Người. Chúng ta cảm nghiệm mọi cái qua thân xác của chúng ta. Đức Giê-su đã dùng nguồn so sánh tương tự quen thuộc này: Nếu con mắt là cớ sa ngã (Mt 5:29). Nếu tay làm cớ vấp phạm (Mt 5:30). Mắt là đèn. Mắt sáng mắt xấu (Mt 6:22-23). Mạnh khoẻ, yếu đau (Mt 9:12). Sáng và đui (Mt 9:39-41). Cái rác cái xà trong mắt (Mt 7:1-5). Tóc trên đầu (Mt 10:30). Tay hoặc chân (Mt 18:8). Xương người chết (Mt 23:27). Mình và máu (Mt 26:26-28).

Ngoài những khía cạnh này của cuộc sống, Đức Giê-su còn dùng những thứ khác nữa. Ngài dùng những lời nói tượng hình về các đầy tớ và ông chủ (Mt 6:24). Ngài nói về đời sống gia đình (Mt 7:9-10), về lũ trẻ con (Mt 11:16-17), về phong tục tập quán đám cưới (Mt 9:15), về vũ khí gươm giáo (Mt 10:34), về chính trị, nước nào chia rẽ, thành nào chia rẽ sẽ không tồn tại (Mt 12:25), về trộm cướp (Mt 12:29), về cửa và chìa khóa (Mt 16:19; Lc 13:24-25).

Khó có thể phân rẽ những từ ngữ hình ảnh này ra khỏi những dụ ngôn của Đức Giê-su. Dõi theo danh sách các dụ ngôn sau đây. Các dụ ngôn nói ra câu truyện trong khi các hình ảnh ta kê khai ra ở đây là qua những so sánh tương tự.

Các Dụ Ngôn của Đức Giê-su

  • Cây Đèn Dưới Thùng – Mt 5:14-16
  • Thợ Xây Nhà -  Mt 7:24-27
  • Người Gieo Hạt Giống – Mt 13:3-9, 18-22
  • Lúa mì và Cỏ Lùng – Mt 13:24-30, 36-43
  • Hạt Cải – Mt 13:31-32
  • Viên Ngọc Qúi – Mt 13:45-46
  • Thả Lưới – Mt 13:47-50
  • Chiên Lạc – Mt 18:10-14
  • Đầy Tớ Không Biết Thương Xót – Mt 18:21-25
  • Thợ Làm Vườn Nho - Mt 20:1-16
  • Hai Người Con – Mt 21:28-32
  • Tá Điền Sát Nhân – Mt 21:33-40
  • Tiệc Cưới – Mt 22:2-14
  • Cây Vả - Mt 24:32-33
  • Đầy Tớ Trung Tín và Bất Trung – Mt 24:45-51
  • Trinh Nữ Khôn Ngoan , Khờ Dại – Mt 25:1-13
  • Những Yến Bạc – Mt 25:14-30
  • Chiên và Dê – Mt 25:31-46
  • Hạt Giống Mọc Lên – Mc 4:26-29
  • Đầy Tớ Tỉnh Thức – Mc 13:33-37
  • Người Cho Vay Nợ - Lc 7:41-43
  • Người Sa-ma-ri-ta-nô – Lc 10:30-37
  • Người Bạn Quấy Rầy – Lc 11:5-8
  • Người Phú Hộ Ngu Ngốc - Lc 12:16-31
  • Cây Vả Không Trái – Lc 13:5-9
  • Chỗ Thấp Nhất – Lc 14:7-14
  • Bữa Tiệc Đãi Khách – Lc 14:16-24
  • Xây Ngọn Tháp – Lc 14:27-30
  • Vua Đi Giao Chiến – Lc 14:31-33
  • Đồng Bạc Bị Mất – Lc 15:8-10
  • Người Cha Nhân Hậu Lc 15:11-32
  • Quản Gia Bất Lương – Lc 16:1-8
  • Người Phú Hộ và La-za-rô – Lc 16:19-31
  • Chủ và Đầy Tớ - Lc 17:7-10
  • Lòng Tin của Bà Góa – Lc 18:2-8
  • Pha-ri-siêu và Người Thu Thuế - Lc 18:10-1

Trình Bày Các Cảnh Tượng và Các Câu Truyện

Các cảnh tượng và các câu truyện có sức mạnh trong truyền thông. Hãy hoạch định dùng chúng trong bài giảng không những chỉ kể lại những câu truyện của Thánh Kinh nhưng cả trong những dẫn giải mới. Trước khi chúng ta làm việc thực tập cho khiếu thuật này, hãy để ý đến sáu hướng dẫn làm cho việc dùng từ ngữ hình ảnh và các câu truyện được hữu hiệu nhất.

Phân biệt giữa truyện bên trong và truyện bên ngoài. Trong tất cả mọi từ ngữ hình ảnh bạn vẽ lên hoặc câu truyện bạn kể,  gồm có hai lãnh vực khác nhau. Truyện bên ngoài hay cảnh tượng bên ngoài là những biến cố khách quan và những hoàn cảnh chung quanh. Chúng bao gồm bất cứ những gì xẩy ra, bất cứ đối thoại nào trong biến cố đó. Truyện bên trong là việc giải thích và đáp lại xẩy ra bên trong con người của các diễn viên trong câu truyện. Truyện bên trong có thể bao gồm mục đích của ý Thiên Chúa mà những mục đích đó không được tỏ rõ ra nơi những điểm nhìn thấy khách quan bên ngoài. Hãy chú trọng đến câu truyện bên ngoài. Chỉ trình bày câu truyện bên trong khi cần thiết để hiểu điều gì đang xẩy ra. Bạn có thể phỏng đoán những cách đáp lại bên trong nơi các câu truyện Thánh Kinh, nhưng phải làm cách cẩn thận.

 Tường thuật cảnh tượng hay kể câu truyện giống như bạn là người chứng kiến. Điều này không có nghĩa là bạn nói về chính mình. Nó có nghĩa là bạn kể cái có thể được chứng kiến bởi bất cứ ai. Hãy nhớ bạn là người tường thuật (phóng viên). Để ý đến những chi tiết – tên, địa điểm, thời gian, biến cố. Miêu tả điều bạn chứng kiến. Để làm việc này, bạn sẽ phải đặt chính mình vào nơi đó. Cho các cảnh tượng và các câu truyện mới, hãy cố gắng cá biệt hóa để bạn không có vẻ tường thuật như là một tin đồn thổi. Các chi tiết sẽ đóng góp rất lớn cho việc bạn trình bày.

Hãy làm việc tra cứu cần phải làm để có được những dữ kiện cần thiết. Tường thuật Thánh Kinh có những bối cảnh lịch sử không quen thuộc đối với bạn. Những người này là ai – A-ma-le-ki, Phi-li-tin, Mo-a-bi-ti? Nguồn gốc của họ là gì - văn hóa và tôn giáo? Hãy tìm ra câu trả lời. Nơi này là nơi nào, địa thế ra sao? Những chi tiết như thế sẽ làm cho bài giảng của bạn sống động và thú vị. Khi kể những câu truyện mới ngày nay, hãy để giờ tìm ra các chi tiết. Bạn không thể dùng ngôn ngữ cụ thể và cá biệt nếu bạn không biết các chi tiết cá biệt.

 Trình bày bằng ngôn ngữ đơn giản. Trong sáng đòi có tính đơn giản. Tránh dùng những từ ngữ thêu dệt bóng bảy cao siêu. Dấu chỉ cho biết người thiếu kinh nghiệm là cố gắng dùng những từ vựng để gây ấn tượng. Đừng cố tỏ ra như diễn kịch. Hãy để cho cảnh tượng và câu truyện tự nó diễn ra. Đừng ép lái người nghe đáp theo. Chắc chắn có ảnh hưởng trong cảm xúc được xây lên trong các câu truyện và các từ ngữ hình ảnh. Bạn không cần phải tạo ra cái cảm xúc đáp theo. Tránh những từ ngữ chuyên môn trừ khi bạn cần giải thích chúng. Hãy nói cách bình dân.

Dùng ngôn ngữ cá biệt hóa cảnh tượng cho người nghe. Cách dùng ngôn ngữ để cá biệt hóa sẽ giữ cho cảnh tượng và các câu truyện  thú vị và sống động. Điều này đòi phải biết dùng ngôn ngữ tượng hình với những so sánh và nghĩa bóng- ẩn dụ. Ngôn ngữ miêu tả cần được dùng cẩn thận với các tĩnh từ và trạng từ. Dùng ngôn ngữ gợi cảm để gây cảm nghiệm trước cảnh tượng. Dùng ngôn ngữ cụ thể thay vì trừu tượng. Dùng ngôn ngữ cá biệt hơn là ngôn ngữ tổng quát chung chung.

Trình bày các cảnh tượng và các câu truyện với đủ ánh sáng sống động để nắm bắt được sự chú ý. Chúng ta hãy quân bình hóa lời kêu gọi trình bày cách đơn giản ở trên với sự khuyến khích đặt thêm vài điều vào việc trình bày các cảnh tượng và các câu truyện. Đừng để cho những e dè sợ sệt ngăn cản bạn kể truyện hay thêu dệt thêm vào cảnh tượng với vài nét gì cho sống động. Để ý quan sát khi cha mẹ kể truyện cho con cái. Họ không dùng giọng nói vô cảm xúc và thiếu nét diễn giải. Một câu truyện hay một từ ngữ hình ảnh đòi có sự tham gia sống động vào việc trình bày.       

Hoàn Tất Việc Thực Tập

Việc thực tập, các cảnh tượng và các câu truyện, được làm ra để củng cố khả năng vẽ họa lên các hình ảnh và kể các câu truyện. Để thực tập khiếu thuật này, chúng ta sẽ phân tích và kể lại một câu truyện Thánh Kinh. Hình thức thực tập giúp cùng với phần phân tích của bạn và phần hoạch định việc trình bày của bạn. 

Bước 1. Đọc câu truyện hay cảnh tượng Thánh Kinh vài lần, có thể đọc vài bản dịch khác nhau. Để ý đến các chi tiết khi đọc. Phân định mục đích thần học.

Bưóc 2. Ghi nhận những chi tiết miêu tả về cảnh tượng và viết xuống bản mẫu thực tập. Tìm những hình ảnh, các cách miêu tả, ngôn ngữ gợi cảm, những chi tiết cụ thể và cá biệt. Hãy thong thả nhắm mắt lại, đi trong tưởng tượng qua cảnh tượng đó.

Bước 3. Tìm những nét sinh động trong đó và ghi nhận lấy. Ở đây bạn nhìn đến các nhân vật, những liên hệ, các động lực thúc đẩy, những thay đổi, sự tham gia của Thiên Chúa, những xung khắc, và các bất ngở.

Bước 4. Phân lược câu truyện bằng cách dùng năm giai đoạn: Hiện trường, nút thắt, tìm giải nút, giải nút, hiện trường mới. Viết xuống những đặc điểm của câu truyện thuộc mỗi phần này.  

Bước 5. Ghi nhận tóm tắt các điểm cần cho việc trình bày, thêm vào những chỗ mà bản văn ít nói đến hoặc không nói gì. Thêm các chi tiết miêu tả.Dùng năm giai đoạn để hoạch định cho việc trình bày của bạn.

Câu Hỏi Học Hiểu

  1. Tại sao cảnh tượng hay câu truyện lại như có sức lạ lùng trong bài giảng?
  2. Giải thích năm đặc tính của ngôn ngữ cần thiết cho các cảnh tượng và các câu truyện.
  3. Những giai đoạn nào các câu truyện thường đi theo?
  4. Tại sao việc tra khảo lại quan trọng đối với các cảnh tượng và các câu truyện?
  5. Truyện bên ngoài và truyện bên trong có nghĩa là gì?

Các Cảnh Tượng và Các Câu Truyện  Mục đích của thực tập này là để phát triển năng khiếu họa vẽ ra các cảnh tượng và các câu truyện Thánh Kinh cách sáng tạo và sống động.
Bản Văn:

  • Kiểm xét cho chắc là các tư tưởng bài giảng được viết ra thật hay và rõ ràng.
  • Kể câu truyện Thánh Kinh cách thật sống động và giầu tưởng tượng
  • Nhìn nhận những diễn từ thấy trong câu truyện
  • Dùng ngôn ngữ gợi óc tưởng tượng
  • Kể truyện như là người chứng kiến
  • Tìm hình ảnh sống động và giầu tưởng tượng trong bản văn.

Bài tập này bao gổm kể lại một câu truyện được chọn ra từ Thánh Kinh và dùng cách kể với ngôn ngữ sống động và giầu tưởng tượng. Hoàn thành bài thực tập này theo những bước sau đây:

  1. Đọc vài lần về câu truyện Thánh Kinh đượ chọn theo vài bản dịch khác nhau. Ghi nhận mục đích thần học của câu truyện theo cách tốt nhất bạn có thể phân nhận ra.
  2. Để ý các loại ngôn ngữ được dùng trong bản văn bạn tìm hiểu.
    - Ngôn ngữ tượng hình
    - Ngôn ngữ cá biệt
    - Ngôn ngữ miêu tả
    - Ngôn ngữ gợi cảm
    - Ngôn ngữ cụ thể
     
  3. Phân tích những sinh động của hiện trường và ghi chép xuống:
    - Bối cảnh
    - Đối thoại
    - Những ngạc nhiên bất ngờ
    - Các nhân vật
    - Các động lực
     
    - Các mối liên hệ
    - Sự can thiệp của Thiên Chúa
     
  4. Phân chia câu truyện theo năm giai đoạn:
    - Hiện trường
    - Nút thắt
    - Tìm giải nút
    - Giải nút
    - Hiện trường mới
  5. Thêm những diễn từ không được trình bày trong truyện, nhưng đã tìm được từ việc tra cứu và tưởng tượng về câu truyện.