12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 8

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Tìm Những Tương Đồng Tự Nhiên

Có thể bạn gọi nó là “khó khăn cản trở cho vị giảng thuyết.” Giống như văn sĩ có khó khăn của người viết, bạn ngồi vẽ trên trang giấy trắng khi bạn cố gắng hoạch định cho bài giảng. Bạn muốn giải thích điểm thứ nhất cách thật rõ ràng, nhưng bạn không thể nghĩ ra cách để viết. Bạn muốn dẫn giải tư tưởng cách sống động, nhưng các hình ảnh chẳng tìm đâu ra. Bạn muốn biện luận cho ý tưởng của mình, nhưng bạn chẳng tìm ra được lý do đáng tin cậy. Bạn muốn áp dụng nó vào thực tế, nhưng bạn không không thể nối kết cho hợp lý giữa tư tưởng và hành động.

Khó khăn cản trở này đối với khả năng sáng tạo có thể gây nên bởi nhiều yếu tố. Thứ nhất là nghèo nàn trong việc học hiểu bản văn khiến cho bạn thiếu tài liệu trọng yếu dựa vào đó để  tiến hành. Hoặc là bạn vướng vào cái chứng suy nghĩ mập mờ và cần phải làm sáng tỏ tư tưởng của bạn cho chính xác hơn. Cũng có thể là bạn mệt mỏi và cần rời bỏ bàn làm việc để cho  bài giảng nằm lim rim đó, và đi làm chuyện gì khác cho khuây khỏa. Hay là bạn bị hối thúc trong vội vàng vào phút cuối. Thói quên trong việc chuẩn bị và quản trị thời giờ có thể chữa trị tất cả các nguyên do gây khó khăn cản trở.

Thỉnh thoảng bạn sẽ gặp thấy bức tường trắng chắn việc suy nghĩ sáng tạo bởi vì tình trạng khô khan thiêng liêng. Không gì có thể thay thế việc nuôi dưỡng tâm hồn với Chúa Kitô qua việc đọc Thánh Kinh và cầu nguyện. Giảng thuyết là công việc của siêu nhiên. Nó là việc của Thiên Chúa. Nó vượt ra ngoài những khả năng tự nhiên của bạn để chuẩn bị một bài giảng có hiệu qủa thay đổi đời sống. Nút giải cho cản trở suy nghĩ sáng tạo có thể là làm lại sự tươi mát thiêng liêng. Nhưng đừng mong đợi tính thiêng liêng này có thể thay thế cho việc thiếu chuẩn bị và lười biếng.

Ở chương này chúng ta bàn về việc dùng so sánh tương đồng trong việc khai triển bài giảng. Việc thực tập là khám phá những tương đồng tự nhiên. Bạn sẽ thấy đây là một trong những cách năng động và gía trị nhất trong tất cả các phương cách giúp dọn bài giảng. Thuật chúng ta nhắm để tăng khả năng là nghĩ ra những so sánh tương đồng tự nhiên để dẫn giải các tư tưởng của bài giảng. Chúng ta sẽ bàn thảo từng bước một để đi vào kho đựng trí nhớ về các so sánh tương đồng thuộc các cảm nghiệm của con người.

Cách riêng chúng ta sẽ nói về những điều chúng ta thường gọi là ‘những dẫn giải.’ Dù ‘dẫn giải’ chỉ là một trong bốn yếu tố của việc khai triển bài giảng, nó đóng một vai trò cá biệt. Dẫn giải có thể phục vụ cho ba yếu tố kia. Tài liệu dẫn giải có thể dùng để giải thích, biện luận, và áp dụng, cũng như là để dẫn giải ý tưởng cách trực tiếp. Nói theo một cách, tất cả việc khai triển phải là dẫn giải; nó cần phải sống động, trong sáng và gợi hình.

Những Giới Hạn Của Cảm Nghiệm

Hầu hết những tài liệu hỗ trợ cho bài giảng sẽ được lượm lặt từ việc học hỏi chi tiết của bản văn. Bạn có thể có nhiều tài liệu hơn là bạn cần dùng. Thách đố là khi bạn cần có tài liệu khai triển hợp thời cho một vài tư tưởng đặc biệt riêng. Cho dù bản văn cung ứng một số tài liệu và đề nghị thêm, bạn muốn cho bài giảng hợp với cách giải thích ngày nay, với những cắt nghĩa, dẫn giải, biện luận và áp dụng hiện đại thích hợp. Đó là một sự thách đố sáng tạo.

Làm thế nào bạn có thể có được những tài liệu khai triển cần thiết cho các bài giảng? Cách chung là bạn nghĩ ra chúng, mà không cần khảo xét tiến trình bạn dùng để làm việc này. Khi bạn suy tưởng về một điểm trong bài giảng và đọc lại các ghi chú, các tư tưởng dường như tự nhiên xuất hiện. Chúng là những cảm nghiệm riêng của bạn về những quan sát, những truyện vặt, những thí dụ, những tương tự v.v.

Điều xẩy ra như thế là vì bạn đang bước vào kho tài liệu và kiến thức của thế giới chung quanh bạn, thế giới của kinh nghiệm. Trí nhớ của bạn được lập trình như một máy vi tính, đầy những ý tưởng hay cho đủ loại khai triển bài giảng. Nhưng kinh nghiệm riêng của mỗi người chúng ta có giới hạn. Đặc biệt những vị giảng thuyết trẻ tuổi thường gặp khó khăn để đưa kiến thức  và kinh nghiệm vào việc giảng. Họ không có nhiều kinh nghiệm dự trữ để làm việc phong phú từ đó.

Khi bạn tìm tài liệu hỗ trợ cho các bài giảng, hãy đi xa hơn là những kinh nghiệm riêng. Qúa nhiều những câu truyện cá nhân về gia đình, về thời thơ ấu, về những sinh hoạt riêng có thể làm giảm gía sự phong phú của các tư tưởng Thánh Kinh. Hãy đọc sách báo nhiều. Đi theo những thích thú vượt ra ngoài khuôn khổ của thần học để đọc về khoa học, triết học, lịch sử và những biến cố ngày nay. Nhưng đừng cho rằng những so sánh tương tự giật gân là cần thiết hơn là những kinh nghiệm thực tế chung của mọi người ở khắp nơi.   

Hầu hết chúng ta đã nghe những lời khuyên về việc lập hồ sơ các dẫn giải cho bài giảng để dùng. Nhưng rất ít người trong chúng ta làm việc này. Cho dù bạn có một hồ sơ rất tốt, bạn vẫn đối diện với thách đố tìm được chính xác điều bạn muốn khi bạn cần đến nó. Những tập sách cho các dẫn giải cũng làm ta thất vọng. Cho dù một số tài liệu có thể là hay, tìm đúng hình ảnh cho một tư tưởng của bài giảng vẫn là điều khó.

Cho dù bạn có lập hồ sơ tài liệu giảng hay không, càng biết nhiều về cảm nghiệm chung của con người, bạn càng quen thuộc với những so sánh tương đồng tự nhiên hầu giúp cho các tư tưởng bài giảng của  bạn được trong sáng và mạnh mẽ. Nhưng bạn phải đọc sách báo. Bạn phải giữ liên đới với thế giới chung quanh bạn. Bạn phải theo dõi tin tức. Vì các chi tiết cần phải có để trình bày một so sánh tương tự, bạn có thể tìm trên mạng lưới. Bạn có thể đánh vào màn tìm vài chữ nói về tư tưởng chính để tìm những so sánh tương tự.

Một giới hạn khác nữa là kiến thức của vị giảng thuyết về Thánh Kinh. Các tác giả Thánh Kinh đã dùng nhiều so sánh tương đồng như là cách thông dụng để diễn tả các ý tưởng của họ. Ngôn ngữ tượng hình nằm khắp các trang sách Thánh Kinh và làm cho Thánh Kinh sống động và đầy hình ảnh. Ngôn ngữ của  Thánh Kinh không phải là những bước đi khó nhọc của cuốn sách giáo khoa nhưng là một văn tác với những tư tưởng nhẹ nhàng và chân lý vượt thời gian. Truyền thông tư tưởng như là các tác giả của Thánh Kinh, bạn sẽ có hiệu lực.

Ngôn Ngữ Con Người

Một ý tưởng không có ảnh hưởng đến suy nghĩ của chúng ta trừ khi chúng ta có thể nhìn thấy nó. Những tư tưởng trừu tượng vượt tránh chúng ta trừ khi chúng được mặc vào bằng những dấu chỉ cụ thể. Điều này càng đúng với chân lý thiêng liêng. Chúa Giê-su chỉ cho thấy khi ngài nói với ông Ni-cô-đê-mô,”Nếu tôi nói với ông những điều thuộc dương thế mà ông không hiểu, thì làm thế nào ông có thể tin nếu tôi nói cho ông về những sự trên trời?” (Gio-an 3:12).

Bất cứ một người nói ngôn ngữ nào, ngôn ngữ của một người là ngôn ngữ cảm nghiệm của con người về những sự vật ở trần gian. Một người có thể hiểu các ý tưởng chỉ khi nào các ý tưởng đó thuộc về một phần nào trong cái kho chứa kiến thức chung đó. Con người biết rất ít hay chẳng biết gì cả ở bên ngoài cái lãnh vực quan sát của con người. Họ bị ràng buộc bởi các giới hạn của lịch sử của con người và lãnh thổ của trần gian. Họ không thể nắm bắt được chân lý đời đời trừ khi nó được mặc bằng những hình ảnh ở thế trần.

Đây chính là lý do Thiên Chúa dùng những phương tiện nhân loại để tỏ mình ra cho con người. Bởi vì ngôn ngữ của chúng ta là ngôn ngữ của cảm nghiệm nhân loại, Thiên Chúa nói với chúng ta bằng ngôn ngữ của chính chúng ta. Chúa Giê-su đã đến như một người phàm hầu giúp chúng ta hiểu được Thiên Chúa, “Ai thấy Ta là thấy Cha” (Gio-an 14:9). Nhìn thấy Thiên Chúa Cha là điều hoàn toàn vượt qúa chúng ta trừ khi Ngài đến với chúng ta ở dạng nhân loại.

Nguyên tắc nhập thể này phải hướng dẫn chúng ta ngày nay khi chúng ta nỗ lực, qua việc rao giảng, để là những máng chuyển mạc khải của Thiên Chúa. Ngôi Lời trở thành xác thể và ở giữa chúng ta,” thánh Gio-an viết, “ và chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Ngài” (Gio-an 1:14), không phải chỉ cho Ngôi Con nhưng còn cho việc rao giảng công bố về Ngài. Cách duy nhất người nghe có thể thấy được thực thể về Thiên Chúa trong việc rao giảng của chúng ta là khi lời Chúa mặc xác thể. Chúng ta phải công bố chân lý đời đời bằng những hình ảnh ở địa giới.  

Như ghi chép mạc khải của Thiên Chúa, Thánh Kinh được viết để hiểu. Nó không phải là cuốn sách của những triết lý mầu nhiệm và trừu tượng. Thánh Kinh thật là cụ thể, sống động, đầy cảm nghiệm và rất có tính người. Chỉ trong mô thức đó chúng ta mới hiểu được. Hãy nhìn vào cách những chân lý cao trọng của Thánh Kinh được trao ban. Thiên Chúa không được trình bày trong Thánh Kinh như là mộng Đấng Thông Minh Cao Cả hay là Nền của Hiện Hữu. Ngài được trình bày như là Người Chăn Dắt Israel, Vua Giao Ước, Tảng Đá và Thành Lũy. Những hình ảnh này và nhiều hình ảnh khác truyền thông Thiên Chúa muôn đời cho chúng ta trong ngôn từ của những hình ảnh địa giới.

Cũng như thế với phép lạ Thiên Chúa làm trong đời sống của con người. Nó là ơn cứu rỗi, cứu cấp khỏi hiểm họa và tử thần. Nó là sự hòa giải, canh tân những đổ vỡ sứt mẻ trong tình liên hệ. Nó là việc tái sinh trong đời sống phục sinh. Nó là ơn cứu chuộc, phục hồi cái đã bị mất, giải thoát khỏi sự nô lệ. Tất cả mọi hình ảnh Thánh Kinh này gợi lên hình ảnh phép lạ của Thiên Chúa trong đời sống của con người, lấy từ cảm nghiệm của con người quen thuộc với chúng ta.

Chúng ta có thể dõi theo lịch trình được thiết lập trong Thánh Kinh –chân lý thiêng liêng được mặc lấy hình ảnh tự nhiên. Mọi chân lý Thánh Kinh chúng ta muốn truyền thông có thể được dẫn giải trong một hình thức quen thuộc với những người chúng ta nói với. Đây là điểm chính cốt của  việc khai triển bằng so sánh tương tự. Nó không phải là một yếu tố tùy tiện thêm vào như gia vị cho bài giảng. Nó là một chức vụ của truyền thông nhân loại cần thiết cho tiến trình mặc khải của Thiên Chúa.

Thực Tại Tự Nhiên và Siêu Nhiên

Tất cả những cái không phải là Thiên Chúa đều là những cái được tạo dựng bởi Thiên Chúa. Tất cả là một tạo dựng, bất cứ nó thuộc vị trí nào trong tự nhiên và siêu nhiên. Dù chúng ta không nhìn thấy những lãnh vực siêu nhiên, chúng ta biết chút ít về nó nhờ mạc khải của Thiên Chúa. Điều chúng ta biết đã được tỏ ra cho chúng ta qua những cái chúng ta có thể nhìn thấy nơi lãnh vực tự nhiên. Thiên đàng, không nhìn thấy bởi mắt phàm và trí không không hiểu được, tuy thế chúng ta biết cung điện đức vua hay vườn hằng sống.

Việc chúng ta có thể hiểu về những cái chúng ta không nhìn thấy bởi vì có một cái đồng nhất và kiên định trong tất cả công việc sáng tạo của Thiên Chúa, tự nhiên hay là siêu nhiên. Những thể thức và những nguyên tắc giống nhau đang hoạt động trong tất cả mọi lãnh vực của thực thể. “Qủa vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người” (Rm1:20).

Thí dụ có thể có bao giờ chúng ta hiểu được con người đáp theo Ngôi Lời của Thiên Chúa như thế nào không? Chúng ta không thể hiểu được, trừ ra ở những ý niệm siêu nhiên tương đồng nơi nơi những lãnh vực tự nhiên. Chúa Giê-su giải thích cách đơn giản khi Ngài nói về dụ ngôn người gieo hạt giống. Ngài dẫn giải sức mạnh của Lời Chúa và những cách đáp theo của con người với hình ảnh của người nông dân gieo hạt giống ngoài đồng ruộng. Thực thể tự nhiên, cách tiếp nhận của đất, tương xứng với thực thể siêu nhiên, cách tiếp nhận của tâm hồn con người.

Sự liên tục của thực thể tự nhiên và siêu nhiên này là nguồn phong phú khích lệ cho những ai làm việc rao giảng. Chúng ta có thể tin tưởng rằng các chân lý thiêng liêng đầy sức mạnh mà chúng ta muốn truyền thông có thể được diễn tả trong ngôn ngữ mà thính giả có thể hiểu được. Có một hình ảnh tương tự trong cảm nghiệm nhân loại cho mọi ý niệm mà Thiên Chúa có ý mạc khải cho con người. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta có thể biết mọi sự về Thiên Chúa. Nó không có nghĩa là những chân lý mà Thiên Chúa muốn chúng ta nhận biết có thể hình dung ra được bằng những hình ảnh thuộc trần gian theo cảm giác của chúng ta.

Không phải tất cả các hình ảnh bạn dùng để hỗ trợ cho các tư tưởng của bài giảng là so sánh tương tự. Hãy phân biệt rõ sự khác biệt giữa so sánh tương tự và thí dụ. Thí dụ là một việc dẫn chứng. Nó trình bày việc hỗ trợ từ kinh nghiệm trong lãnh vực thiêng liêng. So sánh tương tự là một hình ảnh tương đồng tự nhiên, không thuộc đạo đức tôn giáo. Tìm hiểu những tương đồng tự nhiên sẽ dẫn bạn đến cả hai lãnh vực so sánh tương tự và thí dụ.

Bài giảng cho bản văn Gioan 3:1-8, điểm thứ nhất tái sinh là điều cần thiết để thấy Nước Thiên Chúa. Một thí dụ để khai triển điểm này có thể sẽ là một câu truyện về một ai đó cảm nghiệm thấy một cái nhìn mới trong những vấn đề tinh thần liên quan đến việc trở lại của họ. Một sự tương tự có thể sẽ là một cảm nghiệm tự nhiên nhìn ra một điều mà bình thường không nhìn thấy.

Định Nghĩa: Tương Tự Tự Nhiên

Tương Tự: Một liên hệ của sự giống nhau giữa hai cái, có nét giống nhau, không phải là cùng một thứ, nhưng có những thuộc tính, ảnh hưởng hay hoàn cảnh tương tự.

Tự Nhiên: Thuộc về thế giới hữu hình thiên nhiên hay là về việc học hỏi về thế giới ấy.

Tương Tự Tự Nhiên: là những liên hệ, những hoàn cảnh, những biến cố, hay những vấn đề quan sát thấy trong lãnh vực tự nhiên để có thể dùng như là những hình ảnh tương tự cho các ý tưởng thần học. Đây là những tương đồng, có những điểm giống nhau làm chúng trở nên hữu dụng để giúp hiểu, hình dung ra, chấp nhận và thực hành các ý tưởng Thánh Kinh tốt hơn. Chúng là những cái tự nhiên quen thuộc với cảm nghiệm của con người.

Xin đề nghị một phương pháp đơn giản từng bước một về việc hoạch định hữu hiệu cho tài liệu của bài giảng qua việc dùng những so sánh tương tự. Tự nhiên ở đây là nói tới những tài liệu khai triển được thu góp từ lãnh vực tự nhiên, những cảm nghiệm quen thuộc của con người ở trần gian. So sánh tương tự có nghĩa là sự nối tiếp giữa các lãnh vực siêu nhiên và tự nhiên cho phép chúng ta tìm những hình ảnh trần thế để gợi vẽ lên chân lý siêu nhiên.

Chẳng có gì lạ trong phương pháp này cả. Nó thực sự chỉ là một tiến trình bạn xử dụng cách tự nhiên mà không biết mình đang dùng nó. Khi bạn thấy trống rỗng, bạn hãy dùng những bước này để tìm về hồ sơ riêng của những cảm nghiệm thông thường cho các tài liệu khai triển cần thiết cho bài giảng.  

Bước 1: Bắt Đầu Với Một Tư Tưởng Rõ Ràng

Bước đầu tiên trong tiến trình này là bạn chắc chắn phải nắm vững được ý tưởng cách rõ ràng. Điều này có thể đạt được bằng cách viết chính xác điều bạn muốn nói. Chúng ta đã đề cập tới điểm này ở những chương trước. Nếu bạn không thể nói lên lời công bố cho tư tưởng hay phân bộ của bài giảng bằng một câu văn rõ ràng thì bạn vẫn chưa biết bạn sẽ nói về cái gì.

Giải thích nhắm đến việc thông hiểu. Bạn muốn người nghe hiểu được các tư tưởng của bài giảng. Dẫn giải là nhằm mục đích hình dung tư tưởng ra cho thính giả. Bạn muốn người nghe nhìn thấy cách sống động bao nhiêu có thể trong lối hình dung. Biện luận hy vọng thính giả sẽ chấp nhận những tư tưởng đó là đáng tin và hợp lý. Áp dụng là trình bày đức tin thực hành bằng việc làm theo những tư tưởng của bản văn. Nếu suy nghĩ của bạn không chính xác, bạn sẽ gặp khó khăn trong việc tìm tài liệu khai triển để đạt được những mục tiêu này.

Trong việc tìm để khai triển các tư tưởng của bản văn trong các bài giảng, chúng ta muốn dẫn giải mỗi tư tưởng của bài giảng cách sống động cho người nghe. Chúng ta sẽ tìm thấy trong bản văn về vấn đề khai triển này. Nhưng chúng ta cũng muốn làm sáng tỏ các tư tưởng của bài giảng bằng những hình ảnh và những cái tương tự từ thế giới ngày nay. Khi đã nhận diện cách rõ ràng tư tưởng thần học, chúng ta có thể đi tìm những tư tưởng tự nhiên tương tự để dùng cho việc so sánh tương tự.

Hiển nhiên là những giáo huấn của Thánh Kinh không phải tất cả là thuộc ở một thế giới khác. Hầu hết giáo huấn của Thánh Kinh quan tâm đến trao đổi liên đới giữa con người với nhau trong thế giới này. Ngay cả trong những giáo huấn về đạo đức luân lý, tuy vậy, cũng có lãnh vực của đức tin kêu gọi sự đáp theo siêu nhiên. Cần phải có dẫn giải hay để tỏ cho tín hữu lãnh vực  đức tin nơi những lời khuyên răn thực tiễn của Thánh Kinh.   

Do đó bước đầu tiên là cẩn thận viết lên tư tưởng của bạn. Viết các điểm của bài giảng bằng một từ ngữ sẽ chẳng nói lên rõ một điều gì. Các tư tưởng hoàn chỉnh đòi phải có vấn đề và bổ túc từ. Các câu công bố phân bộ, giống như tư tưởng của bài giảng, cần nói lên những nguyên tắc phổ quát chung có thể đứng độc lập như chân lý thánh kinh. Cho tới khi mỗi tư tưởng bạn muốn truyền thông được viết ra như thế, nếu không, bạn sẽ gặp khó khăn trong việc hoạch định khai triển cách hữu hiệu.

Bước 2: Chung Hiệu Hóa Tư Tưởng

Sau khi đã công bố mỗi tư tưởng thật rõ ràng, bạn có thể nghĩ đến tài liệu hỗ trợ cho các tư tưởng của bài giảng. Để tìm những so sánh tương tự, bước tiếp theo là chung hiệu hóa tư tưởng. Lúc này bạn di chuyển từ tư tưởng riêng biệt trong bản văn bài giảng đến tư tưởng chung. Mọi giáo huấn của Thánh Kinh là một tỏ bày riêng từ một ý tưởng chung đối với tạo vật của Thiên Chúa. Bởi thế ý tưởng chung bao gồm chân lý của bài giảng và tất cả những tỏ bày của cùng một ý tưởng. Nói cách đơn giản, bạn di chuyển từ một tư tưởng riêng đến một ý tưởng chung.

Trong bài giảng từ Mat-thêu 9:35-37, tư tưởng bài giảng là, “Không có đủ thợ cho việt gặt hái.” Mỗi câu phân bộ trả lời câu hỏi, “Tại sao không có đủ thợ?” Điểm thứ nhất là, “Có qúa ít Kitô hữu nhận ra tình trạng đám đông dân chúng” (câu 35). Để dẫn giải tư tưởng này ta có thể đi đến ý tưởng chung là nhận ra nhu cầu. Khi Chúa Giê-su nhìn thấy đám đông dân chúng với nhu cầu của họ, chẳng có dấu gì cho thấy các môn đệ cũng nhìn ra như thế. Chúng ta cũng thường mắc vào lầm lỗi ấy.

Di chuyển từ ý tưởng chung nhận ra nhu cầu mở ra cho ta cả một con kênh, chảy ra từ kho trí nhớ của các dữ kiện. Ta có thể nghĩ đến những trường hợp mà ý tưởng này gợi ra trong đời sống. Do đó ta dẫn giải điểm muốn nói bằng cách nói về việc người ta ý thức như thế nào về các nhu cầu của người khác theo quan niệm của họ. Thợ cắt tóc nhìn thấy tóc mọc dài rậm rạp. Người bán xe nhìn thấy những chiếc xe cũ. Ta làm cách thực tế bằng việc kể lại việc bước vào tiệm cắt tóc và thấy người thợ hớt tóc xem xét việc cắt tóc cho tôi. Tôi nói về việc người bán xe mời khách hàng đổi xe cũ lấy xe mới. Điểm đề cập ở đây là dĩ nhiên chúng ta không nhìn ra nhu cầu thiêng liêng của những người khác bởi vì chúng ta không nghĩ theo cách đó.

Do đi từ tư tưởng cá biệt của bài giảng trong vấn đề chúng ta không nhận ra những nhu cầu thiêng liêng của người khác, đến ý tưởng chung là nhìn thấy các nhu cầu, ta có thể đi tới bước thứ 3 và nhớ lại  những trường hợp cụ thể nơi mà ý tưởng chung hiện ra trong đời sống. Những cái này trở nên các hình ảnh cho tư tưởng của bài giảng từ ngay cảm nghiệm quen thuộc của người nghe.

Chìa khóa cho bước này, chung hiệu hóa tư tưởng, là nhận diện tư tưởng cá biệt và nắm chắc là bạn hiểu nó rõ ràng. Luôn nhớ rằng ý tưởng có tính cách chung chung, không thuộc thần học và không thuộc đạo đức tôn gíao. Nó giúp ta vẽ vòng tròn vào một hoặc hai từ ngữ của mỗi câu công bố phân bộ, nhờ đó giúp phân biệt mỗi câu với nhau và riêng biệt hóa mỗi tư tưởng. Để ý xem việc này được thể hiện thế nào trong dàn bài cho Sáng Thế Ký 3.

Quyến Dũ của Cám Dỗ

Sáng Thế 3:1-8

  1. Cảnh tỉnh với quyến dũ của cám dỗ khi những chỉ dạy luân lý bị nghi ngờ (câu 1-3).
  2. Cảnh tỉnh với quyến dũ của cám dỗ khi các hậu qủa của tội lỗi bị phủ nhận (câu 4-5).
  3. Cảnh tỉnh với quyến dũ của cám dỗ khi được hứa thỏa mãn khoái cảm (câu 6-7).

 Từ dàn bài này chúng ta có ba ý tưởng khác nhau: Những chỉ dậy về luân lý bị nghi ngờ, hậu qủa của tội lỗi bị phủ nhận, và hứa thỏa mãn khoái cảm. Mỗi điều này chứa đựng một lừa bịp (cám dỗ). Mỗi điều có một sự quyến dũ riêng đối với bản năng thể xác. Nhưng ý tưởng trong mỗi câu đi xa hơn lãnh vực đạo đức tôn giáo. Nó là cảm nghiệm chung của con người.

Khi chúng ta nhận diện ý tưởng chung, chúng ta sẵn sàng để nghĩ tới những điều tương tự tự nhiên có thể được dùng để truyền thông tư tưởng cách hữu hiệu. Điều này dẫn chúng ta đến bước kế tiếp trong việc tìm những cái tương tự tự nhiên: Khám phá ra thật nhiều bao nhiêu có thể những phơi bày cá biệt cho ý tưởng chung.

Bước 3: Bộc Phát Những So Sánh Tương Tự Tự Nhiên

Đây là bước thứ ba trong tiến trình lôi kéo ra những tài liệu khai triển mà bạn đã biết. Để ý đến chiều hướng ở thí dụ trên. Thứ nhất bạn công bố rõ ràng tư tưởng của mình. Thứ hai là vẽ vòng tròn vào một hay hai từ ngữ chính diễn tả tư tưởng. Bây giờ bạn nhìn vào những diễn tả riêng biệt của ý tưởng đó trong những lãnh vực ngoài lãnh vực thiêng liêng. Những diễn tả này có thể là các so sánh tương tự tự nhiên. Bạn cũng nghĩ đến các thí dụ.

Một khi ý tưởng chung đã sáng tỏ, hãy tìm nó trong những lãnh vực của đời sống ngoài lãnh vực tôn giáo. Bạn sẽ thấy rằng ý tưởng sẽ tiếp tục xuất hiện. Một số những lãnh vực khác là khoa học, chính trị, kinh tế, thiên nhiên, gia đình, trẻ em, lịch sử, các lực sĩ thể thao, những biến cố hàng ngày, tình bạn, sinh hoạt hàng ngày, v. v. Thực ra là không có giới hạn cho các lãnh vực trao đổi của con người nơi mà bạn có thể tìm được một so sánh tương tự cho tư tưởng của bài giảng.

Để ý đến điều xẩy ra khi chúng ta tìm những so sánh tương tự trong những lãnh vực này, dùng những điểm chỉ trong dàn bài ở trên. Bạn có thể nghĩ ra các thí dụ cho những nghi ngờ đối với các chỉ dậy không? 

  • Khoa học - Hiệp đồng cho phi thuyền không gian đã không theo đúng mô hình.
  • Chính trị - Các chánh án tái cắt nghĩa Hiến Pháp cho thích hợp với các khuynh hướng mới.
  • Kinh tế - Nhân viên mới không đồng ý với chính sách của hãng ở vài điểm.
  • Gia đình – Con cái nghi ngờ những chỉ dạy được nói bởi anh anh chị.
  • Súc vật – Chó được huấn luyện để tuân lệnh đã chạy rong không theo chỉ dẫn của chủ.
  • Lực sĩ thể thao - đội trưởng của đội đặt vấn đề với huấn luyện viên.

Như bạn thấy, điểm nói đến là tìm ra những thí dụ mà ý tưởng tương tự xuất hiện từ cảm nghiệm thông thường của con người. Danh sách liệt kê ở trên có thể tiếp tục được kê ra. Tốt hơn hết là viết ra nhiều điều hơn là bạn cần nhờ đó bạn sẽ có nhiều chọn lựa cho một vài thí dụ bạn sẽ dùng.

Nếu bạn tìm tài liệu cho việc giải thích để làm sáng tỏ ý tưởng cho người nghe ngày nay, hãy tìm những so sánh tương tự có thể giúp cho thính giả hiểu được ý tưởng đó. Thí dụ nói đến ở trên, nghi ngờ những lời chỉ bảo, ta sẽ tìm những trường hợp nghi ngờ xảy ra rõ ràng hàng ngày trong cảm nghiệm tự nhiên của con người.  Nếu chúng ta qúa thiên về việc nghi ngờ những chỉ dạy trong các lãnh vực khác của đời sống như thế, chúng ta có thể hiểu cám dỗ là gì trong các vấn đề luân lý và đạo đức thiêng liêng.

Đối với biện luận, bạn tìm những tương tự tự nhiên chứng minh cho tư tưởng của bạn là đáng tin và hợp lý đối với thính giả. Ở thí dụ trên, so sánh tương tự của chính trị có thể hữu dụng cho việc biện luận. Liên đới giữa luật pháp ngày nay đối với Hiến Pháp giống như là những chỉ dạy về đạo đực luân lý Kitô giáo từ Thánh Kinh. Ở cả hai trường hợp chúng ta đều bị cám dỗ để đặt lại vấn đề đối với các chỉ dạy nền tảng căn bản để làm theo những ước muốn riêng của mình. Diễn tiến xẩy ra với luật trong hiến pháp cũng xảy ra đối với những giáo huấn đạo đức Thánh Kinh.

Các bài giảng cần có những áp dụng cụ thể và thực tế. Nhiều vị giảng thuyết thi hành ít sáng kiến ở điểm này, không ngần ngại trở lại với những áp dụng liên hệ đến nhà thờ như là việc đi nhà thờ thường xuyên, làm chứng nhân, và dâng cúng. Tìm những tương tự tự nhiên sẽ mở ra cả một thế giới của áp dụng cho bất cứ tư tưởng bài giảng nào. Hãy nghĩ đến tất cả các lãnh vực của đời sống mà các Kitô hữu sinh hoạt và hỏi xem Đức Tin có thể thực hành về tư tưởng này trong lãnh vực đó hay không. Lấy thí dụ về việc nghi ngờ những lời chỉ dạy. Bạn có thể nghĩ đến những trường hợp khi một Kitô hữu bị cám dỗ để nghi nan về các giáo huấn của Thánh Kinh.

Bước 4: Chọn Những So Sánh Tương Tự Hay Nhất

Sau khi đã có những so sánh tương tự bộc phát cho tư tưởng, bạn phải quyết định chọn những so sánh tương tự nào để dùng cho bài giảng. Tất nhiên là bạn không thể dùng tất cả những dẫn giải bạn có. Bạn muốn dùng những dẫn giải hay nhất. Nhưng làm thế nào để quyết định dẫn giải nào để khai triển? Sau đây là những đề nghị.

Bạn muốn dùng những so sánh tương tự hay những thí dụ thích hợp với tư tưởng của bài giảng nhất. Cho dù bạn đã bắt đầu với tư tưởng và đã làm việc từ đó, một số những dẫn giải của bạn sẽ nhắm thẳng hơn vào mục tiêu của tư tưởng. Một dẫn giải chỉ hơi lạc tâm điểm đôi khi gây rối và luôn luôn là yếu.

Một thử nghiệm khác để dùng cho những so sánh tương tự là xem chúng có thích hợp với thính giả hay không. Xếp loại cảm nghiệm có thể khác nhau rất nhiều từ một nhà thờ này đến nhà thờ kia. Một số ở vùng thôn quê, một số ở thị thành hay ngoại ô thị thành. Những miền khác nhau trong cùng một quốc gia đòi việc thích nghi cho tài liệu của bài giảng. Những khác biệt về lợi tức kinh tế và giai cấp xã hội của thính giả cũng đòi có những dẫn chứng khác nhau. Giảng cho những giáo dân của các giáo xứ thôn quê khi qúa trình của vị giảng thuyết cũng xuất thân từ thôn quê có thể giúp họ dễ hiểu và thích thú. Ở những giáo xứ nơi đô thị thì lại cần phải cẩn thận khi dùng những câu truyện thuộc thôn quê.

Tìm Những So Sánh Tương Tự Tự Nhiên

  1. Nhận diện rõ ý tưởng Thánh Kinh và viết chính xác bao nhiêu có thể.

    Tái sinh là cần thiết để nhận ra nước Thiên Chúa.

  2. Dùng theo lối  Vấn Đề/Bổ Túc Từ, chung hiệu hóa ý tưởng bằng những diễn từ không thuộc thần học.

    Những điều kiện để nhìn thấy những điều vô hình.

  3. Tìm hiểu cuộc sống và cảm nghiệm thời đại để thấy những xuất hiện của ý tưởng đó, liệt kê tất cả những gì bạn có thể nghĩ được.
    • Nhà thiên văn nhìn thấy các chòm sao.
    • Kỹ sư nhìn thấy mạch điện.
    • Ngư phủ nhìn ra nơi có cá.
    • Người tình nhìn ra biểu lộ ở dung nhan.
  4. Chọn từ danh sách của các so sánh tương tự tự nhiên bạn đã cho là hữu hiệu nhất cho bài giảng.
  5. Biệt cách hóa những so sánh tương tự như là những truyện vặt, những cảnh huống, những biến cố, hay những tình trạng.

Bạn cũng có thể thử các dẫn giải xem bạn có thể xử dụng chúng tốt đẹp hay không. Một cha xứ đã dùng so sánh tương tự cách trau chuốt công phu về hệ thống tuần hoàn của cơ thể con người để dẫn giải hiệu lực của máu huyết Chúa Giê-su. Nhưng sau khi lễ xong, một bác sỹ đã nói với cha về tài liệu sai mà cha đã dùng trong bài giảng. Ông nhận định với cha là, “Tốt hơn là xin cha nên dùng những gì cha biết.”

Thử thách cuối cùng cho việc chọn những dẫn giải hay nhất dẫn chúng ta tới bước thứ năm trong tiến trình này. Bạn muốn để ý xem bạn có thể trình bày so sánh tương tự trong cách gợi hình sống động và làm sáng tỏ ý nghĩa cho thính giả.

Bước 5: Biệt Cách Hóa So Sánh Tương Tự

Bước thứ năm cho việc tìm những tương tự tự nhiên là biệt cách hóa các so sánh tương tự bằng cách đan dệt chúng để dùng riêng cho bài giảng. Để có hiệu qủa cho việc khai triển, những so sánh tương tự cần phải có thực trong đời sống, cụ thể và có thể tin được. Bạn không thể chỉ nói, “Giống như đứa trẻ đón nhận những chỉ dậy từ chị của nó.” Có thể một số người hiểu được điều bạn nói, nhưng nói như thế thì rất ít  gợi hình. Kể một câu truyện. Vẽ lên một hình ảnh. Làm cho nó sống động. Kể về trường hợp bạn nghi ngờ và đặt vấn đề với những lời dạy bảo  chính mẹ nhờ chị của bạn nói cho bạn. 

Biệt cách hóa những so sánh tương tự để dùng trong bài giảng là như gói ghém chúng cách đẹp đẽ nhất cho vấn đề truyền thông. Ngôn ngữ sống động và thực tế bạn dùng sẽ làm nên sự khác biệt rõ ràng. Chúng ta sẽ chú ý đến việc dùng các câu truyện và ngôn ngữ sống động ở chương chín.

Một khía cạnh khác trong việc gói ghém những so sánh tương tự để dùng trong bài giảng là thêu dệt chúng cho cộng đoàn. Như đã nói, khi bạn chọn lựa tài liệu khai triển bạn phải nghĩ đến thính giả. Qúa trình lý lịch, lãnh thổ, cộng đoàn địa phương, trình độ học vấn, các nghề nghiệp, tuổi tác, và những yếu tố khác làm nên cá biệt của mỗi thính giả.

Gói ghém những so sánh tương tự đòi hỏi đưa ra một so sánh tương tự rõ ràng. Điều này có nghĩa là chỉ rõ điểm so sánh tương tự áp dụng cho tư tưởng bài giảng. Những dẫn giải sẽ có hiệu qủa tùy thuộc vào việc bạn đan xoáy nó vào tư tưởng bài giảng. Đừng bao giờ nghĩ là hết mọi người đều hiểu. Hãy công bố rõ ràng điểm bạn có ý muốn nói. Dùng một số những lời tương tự với cái bạn so sánh để nói lên điểm bạn đề cập đến, nhờ đó người nghe có thể nhớ đến hình ảnh bạn nói.    

Để dẫn chứng quan điểm cho rằng “Thiên Chúa có thể giúp chúng ta trọn vẹn chỉ khi nào chúng ta đặt niềm tin nơi Ngài,” ta có câu truyện về con mèo. Con mèo của tôi chạy leo lên cây thông để tẩu thoát khỏi sự rượt đuổi của mấy con chó nhà người hàng xóm. Khi leo vội vàng hốt hoảng nó bị trượt lên trượt xuống bởi những lớp vỏ cây khô. Vừa leo vừa trượt. Tôi cố gắng gọi con mèo xuống, nó lại càng cố gắng trèo cao hơn. Sau cùng nó rơi xuống từ trên cao cách mặt đất khoảng 10 mét. Điểm tôi muốn nói là gì? Nếu con mèo đã tin lời tôi, tôi đã có thể giúp nó. Đây là cách tôi nêu ra sự so sánh tương tự với thính giả.

Có phải có một vài điều đe dọa làm bạn hốt hoảng sợ hãi leo lên cây? Bạn tuột tay. Bạn mỏi mệt. Nhưng bạn lại sợ không dám đối diện với khủng hoảng. Bạn giống như con mèo trong bức tranh, một tay nắm chặt lấy cành cây treo tòong teng với hàng chữ viết, “Cố nắm víu nghe cưng!” Nhưng hãy lắng nghe. Thiên Chúa không thể giúp bạn nếu bạn không buông tay và tin tưởng vào Ngài. Hãy buông tay. Ngài sẽ luôn luôn đứng đó chờ để bắt đỡ lấy bạn. Bạn có thể tin ở Ngài.

Hãy lưu ý rằng ngôn ngữ của so sánh tương tự được dùng để chỉ cho thấy điểm muốn nói. Những lời được dùng để diễn tả cảm nghiệm của người nghe đến từ câu truyện về con mèo.

Trong một bài giảng về những ám chỉ đến việc Đức Kitô đến lần thứ hai, một điểm được đề cập đến là, “Thiên Chúa đã xếp đặt một mốc điểm kết thúc mọi sinh hoạt của con người mà không còn quay trở lại được.” Để tìm dẫn giải cho tư tưởng này, ta đi tới ý tưởng chung tổng quát, “không quay trở lại được.” Từ đó ta đi tìm những diễn tả cho ý tưởng này. Điều tôi tìm ra là ở cuốn tiểu thuyết gọi là “Fail Safe” (An Toàn Sai Lầm) về chiến tranh nguyên tử.

Tìm Trên Mạng Lưới Nối Kết

Các vị giảng thuyết ngày nay có nguồn phong phú về các dẫn giải cập nhật hợp thời mà những người trước đây vài thập niên không có. Chúng ta có mạng lưới nối kết và bộ máy tìm kiếm cho phép chúng ta tìm những câu truyện chúng ta muốn tìm. Những tin tức về các biến cố hay hoàn cảnh bạn nghe biết có thể kiểm chứng nhanh chóng và giãi bày ra với nhiều chi tiết làm cho nó sống động và đáng tin.

Trong một bài giảng về việc Đức Kitô trở lại lần thứ hai, tôi cần một dẫn giải để gây chú ý và hứng thú cho vấn đề khi mở đề. Như mọi khi trong phần mở đầu, tôi muốn dẫn giải tư tưởng của bài giảng. Tư tưởng của bài giảng là, “Việc Chúa Kitô trở lại lần thứ hai mang đến một khẩn trương đối với các đòi hỏi của đời sống người Kitô hữu.” Tư tưởng chung tổng quát là, “khẩn trương của đời sống.” Dùng tư tưởng chung tổng quát này, tôi đã tìm một một hình ảnh hợp thời gian tính.

Cái đến nhanh nhất trong trí nhớ là tai nạn phi thuyền Colombia làm cho bảy phi hành gia thiệt mạng. Tôi đã tìm trên mạng lưới để lấy những chi tiết về tai nạn phi thuyền Colombia – ngày giờ, địa điểm, tên của các phi hành gia. Tôi diễn tả cảm giác tâm trạng của mình là một cách nào đó chúng ta không thể bày tỏ hết nhận thức của chúng ta về thảm cảnh đó. Nhưng tôi cũng chỉ cho thấy là ngay cả sau một thảm cảnh như thế, đời sống vẫn tiếp tục. Rồi tôi đi vào bản văn chỉ cho thấy rằng một ngày nào đó tất cả cũng sẽ qua đi và chúng ta không thể nói được là, “Đời sống vẫn tiếp tục.”

Một vị giảng thuyết kia nêu lên một điểm về tự do khỏi tội lỗi và đã muốn có một so sánh tương tự về một tù nhân, một người không thoải mái về sự tự do của mình và muốn quay trở lại nhà giam. Vị đó đã tìm được một dẫn chứng chi tiết về một câu truyện như thế nhờ tìm trên mạng. Một vị khác muốn dẫn giải “Sứ vụ hoàn tất,” và đã tìm một câu truyện ông nhớ mang máng về một sỹ quan đại úy quân đội mất một chân một trong trận chiến nhưng đã trở lại chiến trường với cái chân giả để hoàn tất sứ vụ.

Hãy nhớ, chìa khóa hiệu lực cho các so sánh tương tự của các dẫn giải trong bài giảng có hai mặt: (1) dùng đủ những chi tiết và hình ảnh cá biệt để gợi óc tưởng tượng, và (2) nối kết so sánh tương tự với tư tưởng bạn muốn nói bằng những lời giống nhau.

Hoàn Tất Thực Tập

Tìm hiểu các so sánh tương tự tự nhiên là một phương pháp làm việc theo tiến trình sáng tạo thông thường cho việc hoạch định khai triển bài giảng. Những bước trong tiến trình này thật đơn giản: Công bố tư tưởng của bạn cho thật rõ ràng, chung hiệu hóa tư tưởng, bộc phát những so sánh tương tự thự nhiên, chọn so sánh tương tự và các thí dụ hay nhất, cẩn thật biệt cách hóa các so sánh tương tự giúp cho truyền thông có hiệu qủa.

Sau khi bạn đã cảm được việc làm này, bạn sẽ không bao giờ thiếu tài liệu dẫn giải nữa. Tôi có thể bảm đảm rằng sẽ có rất nhiều những hình ảnh sống động, những biện luận sắc bén, và những áp dụng thực tế được gợi lên trong trí bởi việc tìm kiếm có hệ thống này khi nhìn vào thế giới chung quanh bạn.

Phần thực tập, Tìm Hiểu Những So Sánh Tương Tự Tự Nhiên, được thiết kế để dùng với một tư tưởng cá biệt từ bài giảng. Đây có thể là chính tư tưởng của bài giảng hay một trong những câu công bố phân bộ.

Bước 1. Viết tư tưởng bài giảng hay lời công bố phân bộ cách chính xác trong một câu trọn nghĩa. Hãy nhớ là bạn không thể hoạch định những hỗ trợ hay cho một tư tưởng không rõ ràng.

Bước 2. Nhận diện ý tưởng tổng qúat trong tư tưởng của bạn và công bố nó bằng một hay hai từ ngữ. Ý tổng quát này sẽ được diễn tả với tư cách không thuộc thần học.

Bước 3. Để tự bộc phát trong các lãnh vực cảm nghiệm đã được liệt kê trong mẫu thực tập cho các so sánh tương tự phản ảnh ý tưởng chung. Đừng nghi ngờ những gía trị của các so sánh tương tự này. Càng kê khai ra nhiều, bạn càng có những lựa chọn hay để dùng cho bài giảng. Cũng nên vận dụng những thí dụ bạn đã khám phá thấy.

Bước 4. Chọn những so sánh hay nhất từ danh sách liệt kê trên căn bản của vấn đề, thính giả, và nhận định tốt nhất của bạn về khả năng bạn có thể dùng chúng cho bài giảng. Qúa trình và kiến thức của bạn sẽ làm ra một số so sánh hữu dụng cho bạn hơn là những người khác.

Bước 5. Cá biệt hóa những so sánh tương tự bạn chọn để trình bày trong cách diễn tả cụ thể và riêng biệt rõ ràng. Để thực tập, hãy tả ra xem bạn sẽ trình bày mỗi so sánh tương tự như thế nào bằng những lời thực tế. Viết ra xem bạn sẽ trình bày một trong những so sánh tương tự như thế nào trong bài giảng. Cũng nên vẽ ra điều so sánh, nêu rõ điểm muốn nói ra và nói thẳng ra cho thính giả.

Các Câu Hỏi Học Hiểu

  1. Giải thích, “Ngôn ngữ của con người là ngôn ngữ của cảm nghiệm.”
  2. Định nghĩa so sánh tương tự tự nhiên.
  3. Nguyên tắc nhập thể là gì?
  4. Ý nghĩa của việc tiếp tục tạo dựng tự nhiên và tinh thần siêu nhiên là gì?
  5. Bốn bước cho việc tìm hiểu những so sánh tự nhiên là gì?
  6. Những lãnh vực nào trong đời sống cần được tìm hiểu cho những so sánh tương tự tự nhiên?
  7. Vẽ ra so sánh tương tự có nghĩa là gì?
  8. Bạn có thể biệt cách hóa một so sánh tương tự như thế nào?
  9. Sự khác biệt giữa các so sánh tương tự và thí dụ như thế nà

Các So Sánh Tương Tự Tự Nhiên  Mục đích của thực tập này là phát triển khả năng nghĩ ra những so sánh tương tự tự nhiên để dẫn giải các tư tưởng của bài giảng.
Bản Văn:

  • Bảo đảm là các tư tưởng bài giảng phải thật rõ ràng và viết thật hay.
  • Hoạch định hỗ trợ quân bình cho các tư tưởng của bài giảng.
  • Tìm trong các lãnh vực quen thuộc của cảm nghiệm con người.
  • Vượt ra ngoài giới hạn cảm nghiệm cá nhân.
  • Phân biệt giữa các so sánh tương tự và các thí dụ.
  • Trình bày các so sánh tương tự cách sống động và giầu tưởng tượng.

Hoàn tất thực tập này với những bước sau đây:

  1. Viết ra câu công bố phân bộ bạn sẽ dẫn giải. Bạn có thể dùng tư tưởng bài giảng để tìm những so sánh tương tự cho phần vào đề và kết luận.
  2. Khoanh tròn một hay hai từ ngữ trong lời công bố có thể dùng để nhận diện tư tưởng chung phổ quát không có tính cách thần học.
  3. Nghĩ bộc phát trong các lãnh vực của đời sống theo liệt kê dưới đây. Đây là những diễn tả của các tư tưởng thần học. Viết nhiều bao nhiêu có thể. Đừng nhận định hay ngờ vực.
    - Gia đình
    - Buôn bán
    - Thú vật
    - Lực sĩ
    - Những vật dụng thông thường
    - Những vấn đề của thế giới
    - Những cái khác
    - Thiên nhiên
    - Con cái
    - Giáo dục
    - Lịch sử
    - Du lịch
    - Tình bạn
    - Những cái khác
  4. Kiểm nhận những so sánh tương tự hay nhất từ danh sách ở trên theo căn bản thuộc vấn đề bạn trình bày, thính giả, và khả năng riêng của bạn biết áp dụng chúng trong bài giảng.
  5. Hoạch định cách bạn sẽ riêng biệt hóa những so sánh tương tự bạn đã chọn. Bạn sẽ muốn trình bày chúng với ngôn ngữ thật cụ thể, cá biệt và giầu tưởng tượng.
  6. Viết ra một so sánh tương tự trong các so sánh của bạn vào phía sau trang giấy như là bạn sẽ trình bày trong bài giảng.