12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 7

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Quân Bình Những Yếu Tố Thuyết Phục

Keith Wilhitời giảng từ sách Da-ni-en và Ga-la-ta. Ông đã tìm hiểu số lượng họ nhấn mạnh một đàng ở việc học hỏi từ ngữ và văn cảnh, đàng khác là ở những ám chỉ ý nghĩa cho người nghe.

Hai nhà giảng te nghiên cứu luận án tiến sỹ về hai nhà giảng thuyết nổi tiếng quốc gia để học cách giảng thuyết của họ. Ông đã phân tách các bài giảng của họ, mỗi ngưhuyết khác nhau trong lối dùng bản văn và người nghe. Vị thứ nhất chú trọng đến lịch sử và qúa trình đưa đến bản văn, ở những từ ngữ tiếng Hy-lạp và Do-Thái và bối cảnh lịch sử. Vị thứ hai dùng hầu hết thời giờ nói về điều thính giả nên làm đối với các giáo huấn của bản văn. Ông đã dùng một số những dẫn chứng sống động và cho những áp dụng cụ thể.

Cả hai vị đều là nhà giảng thuyết theo giảng giải. Mỗi người đều giảng giải ý nghĩa của bản văn cách trung thực. Các bài giảng của họ có khuynh hướng theo bản văn. Cả hai đều trung thành giải thích cho người nghe điều tác giả bản văn có ý truyền đạt về Thiên Chúa, và các đường lối của Ngài. Có sự khác biệt rõ trong cách họ viết về những tư tưởng bài giảng của họ. Họ cũng rõ ràng có sự khác biệt trong việc dùng số lượng thời gian cho tài liệu hỗ trợ. Một người nhắm đến việc giáo huấn, và một người lại nhắm đến việc khuyến khích người nghe.

Khuynh hướng này cũng thường có nơi các vị giảng thuyết trong các lớp học ở Đại Chủng Viện. Có lẽ động lực căn bản nơi các vị giảng thuyết đến từ những ơn theo tính khí và tinh thần của họ. Chúng ta có khuynh hướng truyền thông theo một hình thức và những mục tiêu thích hợp với các khuynh hướng của chúng ta. Một số trong chúng ta có khuynh hướng dạy bảo, trong khi những người khác lại thiên về khuyến khích. Thường là chúng ta coi cách thức giảng của mình là tự nhiên bởi vì nó hợp “gu” với chúng ta.

Thúc Đẩy và Lôi Cuốn

Chúng ta thường tự nhiên bày tỏ các năng khiếu và tính khí khi giảng trong cách thức riêng của chúng ta. Nhưng hầu hết các vị giảng thuyết không để ý đến động lực riêng nào làm nên cách họ giảng. Trong Rô-ma 12:6-8, Thánh Phao-lô liệt kê bảy ơn đặc sủng khác nhau nơi các Kitô hữu trong khi thi hành chức vụ. Bảy đặc sủng đó là: Ngôn sứ, phục vụ, dạy bảo, khuyên răn, phân phát, chủ tọa, làm việc bác ái. Ở đây chúng ta không thuộc phạm vi để bàn về chi tiết của các ơn đặc sùng này, nhưng hãy để ý đến hai điều nói về ngôn sứ.

Thứ nhất là ta phải giảng theo những động lực tự nhiên thiên phú của mình. Đừng cố gắng bắt chước một ai khác. Đừng bắt chước cảm xúc của người khác. Bạn luôn luôn có hiệu lực hơn khi bạn để cho cảm xúc của chính mình thiêu đốt cách giảng của bạn. Những ơn thiêng liêng của riêng bạn thì quan trọng để xây dựng thân thể. Bạn phải hoàn tất phần trách nhiệm đã được trao phó nơi bạn.

Định Nghĩa: Những Hình Thức Khai Triển

Việc khai triển bài giảng được làm trong bốn hình thức, mỗi hình thức có sự đóng góp riêng của nó để  hỗ trợ cho các tư tưởng của bài giảng.

Giải thích là việc khai triển bài giảng nhắm đến việc hiểu những ý tưởng của Thánh Kinh và của bài giảng bằng cách dùng dữ kiện làm nên bản văn và các tài liệu giải thích.

Dẫn giải  là trách vụ của khai triển bài giảng bằng cách soi dẫn tư tưởng bài giảng để gợi tưởng tượng sống động nơi người nghe, cho chân lý Thánh Kinh một hình ảnh quen thuộc đủ để người nghe có thể nhìn thấy trong trí.

Luận lý làm việc trong tiến trình khai triển bài giảng, để hướng dẫn các tư tưởng của bài giảng vượt qua những cản trở suy luận trong suy nghĩ của người nghe, bằng cách đưa ra những lý lẽ để chấp nhận các tư tưởng đó là thích hợp và hữu lý.

Áp dụng là hình thức khai triển giới thiệu những ngụ ý của các tư tưởng bài giảng trong cảm nghiệm của con người. Nó có thể là việc miêu tả bằng cách phân tích đời sống ngày nay, hay truyền lệnh trong một lối hành xử nào đó.

Thứ hai, bạn phải thích ứng việc giảng của bạn với nhu cầu và hiện tình của thính giả. Bạn phải giảng theo như lối họ đã được đào tạo nhào nặn. Bạn phải gây lôi cuốn trong cách thức họ thường tiếp nhận các dữ kiện nhờ đó họ sẽ chấp nhận bản tin và đưa nó vào trong suy nghĩ của riêng họ.

Hai lời khuyên này dường như trái ngịch nhau, nhưng bạn có thể trọng dụng cả hai. Để cho những động lực tinh thần của bạn hình thành các bài giảng. Đồng thời nhận thức rằng sự trình bày kêu gọi của bạn phải thích hợp với cảm nghiệm của người nghe. Câu trả lời rất đơn giản: Hãy tạo  thu hút cách quân bình đối với thính giả trong khi giảng theo lối bạn thấy cảm hứng để giảng  tốt nhất. Sự quân bình này được hiểu cách tốt nhất nơi những hình thức khác nhau của tài liệu hỗ trợ bạn sẽ dùng để khai triển các tư tưởng của bài giảng. Chúng ta gọi tài liệu hỗ trợ này là khai triển bài giảng.       

Khai triển bài giảng là sự lật mở, nới rộng, hay là quảng diễn các tư tưởng được diễn tả nơi các lời công bố của các tư tưởng, và của các phân bộ bài giảng. Ở chương này chúng ta sẽ giới thiệu việc thực tập được gọi là Quân bình những yếu tố thuyết phục. Nó được thiết kế để tăng khả năng biết dùng các yếu tố thuyết phục bình thường một cách quân bình để tạo điều kiện tốt nhất cho các tư tưởng của bài giảng. Bây giờ chúng ta hãy xét đến việc khai triển với tài liệu bạn sẽ dùng và bốn loại khai triển căn bản.

Bốn Yếu Tố Thuyết Phục

Trong nhiều thế hệ, các tác giả viết về giảng thuyết theo lối trình bày đã nhấn mạnh việc dùng bốn yếu tố pháp ngữ minh biện để thuyết phục người nghe về các chân lý Thánh Kinh. John a. Broadus đã miêu tả những hình thức giảng thuyết này vào năm 1870. Cuốn sách của Broadus tái bản năn 1944 do Weatherspoon đã được dùng nhiều nhất. Trong đó mỗi yếu tố được trình bày riêng một chương. Các tác giả trong thế kỷ 20 cũng đã cổ động cùng loại những yếu tố  này cho tài liệu của các bài giảng. Đây là phương cách cổ truyển đối với việc khai triển bài giảng. Phương cách này vẫn có thể tiếp tục hướng dẫn vị giảng thuyết trước các thách đố của truyền thông ngày nay.

Mỗi yếu tố của việc khai triển có vai trò riêng để đóng góp khi bạn quảng diễn các điểm của bài giảng - giải thích, dẫn giải, biện luận, và áp dụng. Càng hiểu nhiều về công dụng của mỗi yếu tố này bao nhiêu thì bạn càng có thể chuẩn bị một sự hỗ trợ quân bình có ảnh hưởng mạnh cho các tư tưởng của bài giảng bấy nhiêu.

Vị giảng thuyết dễ nghĩ rằng ai cũng thích những khía cạnh học hỏi về Thánh Kinh như mình. Điều cần là có một sự lôi cuốn thu hút toàn thể con người - sự hiểu biết, lương tâm, các cảm xúc, óc tưởng tượng, ý chí, lý lẽ. Điều này có thể làm đưọc bằng một thu hút minh biện quân bình được thiết kế để gây ảnh hưởng đối với một người trong tất cả những cách họ đáp theo.

Giải Thích: Câu công bố phân bộ cần giải thích. Bạn muốn giải thích bản văn của bạn là căn bản như thế nào cho các nguyên tắc mà bạn công bố trong phần dàn bài. Bạn cũng muốn giải thích thêm ý nghĩa về điều bạn nói trong lời công bố của bạn. Bạn sẽ mở bản văn ra và chỉ cho thấy những từ ngữ và những diễn từ có nghĩa đặc biệt. Bạn sẽ nêu lên qúa trình và những kết qủa trong việc bạn học hỏi bản văn. Bạn có thể vẽ lại mô hình cách tường thuật bản văn. Tất cả những việc này là giải thích. Nó nhằm mục đích tạo lập ý tưởng căn bản trong tâm trí của người nghe.

Dẫn giải: Dẫn chứng hay dẫn giải, giúp làm sáng tỏ chân lý trong bản văn nơi tâm trí của người nghe với các hình ảnh gây thu hút gợi tưởng tượng. Từ ngữ dẫn chứng hay dẫn giải trong tiếng La-tinh là lustrare, khai sáng. Có nghĩa là đưa ánh sáng vào một tư tưởng để khai sáng nó. Một dẫn chứng hay dẫn giải cho bài giảng là bất cứ từ ngữ tượng hình nào mang đến cho chân lý Thánh Kinh một hình ảnh tương tự  để người nghe có thể nhìn thấy nó trong trí khôn. Các dẫn giải thật quan trọng đến nỗi chúng ta sẽ dành hai chương tiếp sau để giúp cách dùng thuật dẫn giải cách hữu hiệu.

Biện Luận: Bài giảng được thiết kế để thuyết phục. Để có thể thuyết phục, bạn sẽ phải có một vấn đề cho ý tưởng của bạn. Bạn sẽ phải trình bày cho thấy bạn có lý và đáng tin. Điều bạn nói là hợp tình hợp lý. Biện luận là phần của tài liệu hỗ trợ trong đó bạn đưa ra những lý do để chấp nhận các nguyên tắc bạn trình bày.

Áp Dụng: Áp dụng là đưa ra những ngụ ý của chân lý Thánh Kinh cho người nghe. Nó là một lời mời gọi hành động, đưa các nguyên tắc của Thánh Kinh vào thực hành trong đời sống của chúng ta. Nó ảnh hưởng đến tính tình, cách xử sự, lời ăn, tiếng nói, lối sống, và căn tính riêng của mỗi người. Nó thu hút lương tâm, các gía trị đạo đức, sự thâm tín và dấn thân theo Chúa Kitô.

Lôi Cuốn Toàn Diện Con Người

Bạn muốn việc giảng thuyết của bạn thu hút được nhiều người nghe. Vì mỗi người đều có vài cách để tiếp thu tư tưởng, bạn muốn thu hút họ bao nhiêu có thể theo như khả năng  họ có. Việc đáp theo bản tin Thánh Kinh trọn vẹn đòi phải có sự thu hút trọn vẹn. Hãy nhìn vào biểu đồ dưới đây để thấy bốn loại thu hút bạn muốn thực hiện:

Việc Khai Triển
 
Giải thích
Dẫn giải
Biện luận
Áp dụng
Thu Hút
Trí khôn
Óc Tưởng tượng
Lý luận
Sinh động
Đích Nhắm
Trong sáng
Sống động
Tán đồng
Thực tế
Đáp Theo
Hiểu thông
Tưởng tượng
Chấp nhận
Có ý định

1. Bạn sẽ thu hút trí khôn của người nghe bằng việc giải thích. Từ ngữ trí khôn tiếng La-tinh là intellectus, có nghĩa là một sự tiếp nhận bằng trí óc hay hiểu biết. Khả năng con người nắm bắt được các tư tưởng là khởi đầu cho việc nghe Lời Chúa. Tác động trí óc này còn được gọi là tri thức, một tiến trình hiểu biết hay nhận thức, nhận ra ý nghĩa của một tư tưởng. Như chúng ta đã đề cập đến, việc giải thích là nỗ lực cắt nghĩa các tư tưởng của bài giảng để cho người nghe hiểu được.

Vì con người có khả năng tiếp thu tư tưởng khiến cho ta có thể thực hiện việc giảng thuyết. Các tư tưởng Thánh Kinh có thể truyền đi từ người này sang người khác, giống như bất cứ những tư tưởng nào khác. Khi bạn giảng, tư tưởng thần học trong trí của tác giả bản văn gốc, là những tư tưởng bạn đã phân định từ những lời của người viết, và bây giờ bạn công bố cho thính giả, nhờ đó họ nghe, hiểu và đón nhận. Giải thích là việc làm quan trọng để bạn thuyết phục người nghe đồng ý với các tư tưởng này là thích hợp và đáng tin.

2. Bạn sẽ thu hút óc tưởng tượng của người nghe bằng việc dẫn giải. Khả năng lạ lùng này nơi con người là một tác động hay một quyền năng tạo lập ra những hình ảnh mà không thực sự hiện diện. Họ có thể hình dung ra trong trí khôn điều chỉ được nêu ra qua lời nói hay do những ấn tượng khác. Thu hút óc tưởng tượng là bạn muốn vẽ lên những hình ảnh trong trí khôn nhờ đó, những tư tưởng tinh thần, trừu tượng và thần học của Thánh Kinh có thể được nhìn thấy cách cụ thể, cảm nhận được là chân thật. Việc hình dung cho một tư tưởng là một khí cụ mạnh mẽ của thuyết phục.

Việc dùng sự thu hút gợi tưởng tượng trong giảng thuyết đòi bạn phải có óc tưởng tượng. Bạn sẽ không bao giờ có thể chiếu những hình ảnh lên trong trí của người nghe, nếu chính bạn không thấy những hình ảnh đó. Những hình ảnh bạn trình chiếu phải là những cảm nghiệm quen thuộc của con người. Đây chính là lý do tại sao sự so sánh tương tự thật quan trọng trong giảng thuyết. Bạn vẽ từ ngữ chân lý nước trời, bằng việc dùng những hình ảnh ở thế trần, để cho người trần thế có thể nắm bắt được, điều vượt tầm tay của người trần thế. Một người sẽ không dễ bị thuyết phục về một ý tưởng họ không thể hình dung ra được trong trí khôn.         

3. Bạn sẽ thu hút về khả năng lý luận nơi người nghe bằng sự biện luận. Cho dù lý luận là một khía cạnh của khả năng trí khôn con người, ở đây ta muốn phân biệt trí khôn với lý luận. Trí khôn là khả năng tiếp thu và hiểu thông, trong khi lý luận là khả năng phân tích, suy nghĩ hợp lý và có hệ thống. Trong việc dùng lý luận, bạn có ý muốn đưa ra chứng cớ để dẫn người nghe đến chỗ có cùng những kết luận giống như bạn về các tư tưởng Thánh Kinh bạn giảng. 

Dùng cách thu hút của lý luận không có nghĩa là bạn đặt lý lẽ lên trên đức tin. Tuy nhiên, phải có lý luận tham gia vào để cho Đức Tin được hợp lý. Thiên Chúa không bao giờ đòi chúng ta tin điều vô lý. Nhưng có những cản trở tự nhiên trong suy nghĩ của người nghe chống lại lời Chúa và không chấp nhận thay đổi. Biện luận đóng vai trò quyền thế trong việc thuyết phục, khi bạn tranh biện cho các tư tưởng Thánh Kinh, và vượt thắng những phản kháng và chống đối không muốn chấp nhận.

4. Bạn sẽ dùng thu hút tạo sinh động nơi người nghe bằng việc áp dụng. Sinh động là việc làm của ý chí khi một người giải quyết được nghi nan của mình và đưa họ đến kết luận hay lựa chọn. Đây là một khả năng đặc biệt khác mà Thiên Chúa đã ban cho con người; đó là khả năng lựa chọn. Đừng bao giờ quên là thính giả của bạn có thể chọn và quyết định. Giảng hay là đưa đến lựa chọn. Điều này thể hiện rất rõ trong Thánh Kinh. Việc áp dụng nêu ra rõ những thay đổi, đặt các tư tưởng Thánh Kinh vào trong cảm nghiệm nơi từng cá nhân người nghe. Nó là một khí cụ mạnh mẽ cho việc thuyết phục.

Ở trong lối thu hút sinh động, bạn đưa ra những lối khả thể cho việc suy nghĩ, tư cách, và hành xử. Những người nghe có thể đã quên mất, hay không hề biết là họ có sự lựa chọn như bạn trình bày. Như thế là bạn đã đưa ra tin mới lạ cho họ. Bạn nêu ra cho họ một lối suy nghĩ khác. Nhưng sự lựa chọn vẫn là ở người nghe. Bạn vạch rõ lối cho họ và mời gọi họ quyết định chọn lựa. Đó là tất cả điều bạn có thể làm. Mỗi người phải quyết định cho riêng họ. Đề nghị áp dụng càng hấp dẫn bao nhiêu thì họ càng bị thuyết phục chấp nhận chân lý Thánh Kinh bấy nhiêu.

Tất cả việc rao giảng nhắm đến sự thống hối. Tân ước dùng từ ngữ metanoia có nghĩa là “thay đổi trí não.” Trước khi các tư cách và lối hành xử có thể thay đổi, người ta phải thay đổi lối suy nghĩ. Sự biến đổi động chạm đến mọi khía cạnh của đời sống, chỉ xẩy ra bằng việc canh tân trí não. “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cải cách trí não, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12:2).Thu hút toàn diện con người – trí khôn, óc tưởng tượng, lý lẽ, và sự sinh động – là cách tốt nhất để đạt được sự thay đổi trí não đưa đến đức tin hàng phục.

Làm Trong Quân Bình

Quân bình là chìa khóa trong việc khai triển bài giảng. Điều này không có nghĩa là quân bình trong trọng lượng về việc giải thích, dẫn giải, biện luận, và áp dụng. Như bạn đã thấy vai trò của mỗi yếu tố pháp ngữ minh biện này, bạn có thể duy trì các tài liệu hỗ trợ trong quân bình để đạt sự thu hút mạnh nhất.

Sau khi bạn đã cẩn thận viết xong các phân bộ bài giảng, bạn hãy chừa ra khoảng trống ở dưới mỗi câu công bố phân bộ cho bốn yếu tố pháp ngữ minh biện. Rồi viết vắn tắt xuống những ghi nhận cho các tài liệu hỗ trợ. Bạn có thể nhìn thoáng qua và biết đâu là yếu điểm trong việc khai triển. Bạn cũng nhìn vào phần mở đầu và kết luận để xem sự quân bình. Phương cách này giúp bạn phân chia tài liệu hỗ trợ ở mỗi điểm và thông đạt các chân lý trong bài giảng cách hữu hiệu.

Bốn hình thức của việc khai triển bài giảng được phân biệt ở đây nhằm giúp bạn hiểu vai trò của mỗi hình thức trong việc thông đạt và thuyết phục. Trong chính bài giảng bốn loại tài liệu sẽ hòa trộn. Một số câu hay đoạn văn sẽ lãnh nhận hai trách nhiệm. Điều quan trọng là bạn phải có trong đầu rõ ràng trách nhiệm của mỗi tài liệu có thể đóng vai hỗ trợ.

Khi tài liệu của bài giảng thiếu quân bình, hiệu lực sẽ bị giảm sút. Điều bạn nói không có sự trong sáng mạch lạc, và không đạt ảnh hưởng mà bạn mong muốn. Hãy nhìn vào kết qủa khi mỗi loại trong bốn hình thức qúa thống trị hay qúa yếu kém.

Nếu việc giải thích qúa yếu, bài giảng của bạn sẽ dường như là mất nhịp chèo và trôi đi ra ngoài bản văn. Thế gía của Thánh Kinh bạn muốn nơi bài giảng bị ăn mòn đi. Ngược lại, qúa nhiều  giải thích sẽ làm cho bài giảng thành bài học về lịch sử, hay bài thuyết trình về qúa trình của bài Thánh Kinh và học hỏi từ ngữ. Cho dù bạn hứng thú đến đâu về những thứ này, mục đích của giảng thuyết không phải nguyên là vấn đề học vấn.

Dẫn giải có vai trò đặc biệt, đó là nó có thể phục vụ cho những yếu tố khác. Nó có thể giải thích, tranh biện hay áp dụng các chân lý của bản văn. Hay nó có thể được dùng để vẽ lên chân lý của bài giảng, với mục đích làm sáng tỏ và sống động. Hãy gắng giữ tài liệu dẫn giải cụ thể, sống động và khả tín. Phải bảo đảm rằng mỗi tư tưởng của các tư tưởng chính trong bài giảng được dẫn giải xứng hợp đầy đủ.

Nếu việc khai triển của bạn yếu kém trong lãnh vực của tài liệu dẫn giải, bài giảng sẽ khô khan buồn chán. Nó sẽ không gợi lên ánh sáng và sống động cần thiết để có được sự chú ý và gây được ảnh hưởng. Ngược lại, qúa nhiều tài liệu dẫn giải sẽ làm cho bài giảng nên như một trình diễn và thiếu phẩm chất dinh dưỡng.

Yếu trong lãnh vực biện luận sẽ làm cho bạn có vẻ hạn hẹp, nông cạn, và tự phụ, bởi vì bạn không mời gọi người nghe nhìn xem các tư tưởng bài giảng của bạn hữu lý như thế nào. Ngược lại qúa nhiều biện luận có thể làm cho bài giảng như hiếu chiến và hằn học. Sự quân bình đúng mức sẽ tùy thuộc ở Vấn Đề được trình bày, người nghe, và trường hợp để giảng.

Nếu việc áp dụng yếu kém, bài giảng sẽ bị coi như là không thích hợp cho đời sống hàng ngày. Nếu có qúa nhiều áp dụng, vị giảng thuyết sẽ tỏ ra như qúa nhấn mạnh để cổ động hô hào cộng đoàn. Họ có thể trở nên ngộp nghẹt với qúa nhiều cưỡng ép, và sẽ tắt đi không nghe nữa hoặc cho là “chỉ nói nhiều.”

Khi bài giảng được quân bình trong việc dùng các yếu tố thuyết phục, ba lợi điểm được nhận thấy rõ ràng: Thứ nhất, vị giảng thuyết được chuẩn bị cẩn thận và có thể giảng mà không bị phân tâm phải dùng bản giấy ghi chú. Thứ hai, bản tin Thánh Kinh được truyền đạt cách hữu hiệu và thuyết phục hơn. Thứ ba, thính giả chú ý và hứng thú hơn bởi vì sự lôi cuốn quân bình khiến họ tham gia vào mọi cách có thể.

Nhắm Gây Ảnh Hưởng

Hãy nhìn vào biểu đồ lần nữa. Sau mỗi điểm lôi cuốn của các yếu tố khai triển, có một cột với mục tiêu của tài liệu khai triển ở mỗi trường hợp. Mục tiêu nói đến ở đây không có nghĩa là điều bạn mong đợi sẽ là điều bạn thấy xẩy ra từ bài giảng. Mục tiêu ở đây có nghĩa là điều bạn muốn cho tài liệu bạn dùng để chuẩn bị bài giảng. Mỗi hình thức khai triển nhằm trình bày các tư tưởng của bài giảng, trong một cách thức nhất định, với một dự tính ảnh hưởng nhất định. Mỗi loại cống hiến cách riêng cho việc truyền đạt các tư tưởng và thuyết phục người nghe ưng thuận theo.

Việc Khai Triển
 
Giải thích
Dẫn giải
Biện luận
Áp dụng
Thu Hút
Trí khôn
Óc Tưởng tượng
Lý luận
Sinh động
Đích Nhắm
Trong sáng
Sống động
Tán đồng
Thực tế
Đáp Theo
Hiểu thông
Tưởng tượng
Chấp nhận
Có ý định

Mục tiêu cho việc giải thích là trình bày các tư tưởng thật rõ ràng sáng sủa. Việc giải thích nối nhịp cầu cho khoảng cách giữa thế giới của lịch sử, nơi mà bản văn được viết ra, với thế giới của người nghe ngày nay. Nó thắt chặt chân lý nơi bài giảng của bạn với bản văn, và xác nhận với người nghe là bạn giảng dựa trên thế giá của Thánh Kinh, chứ không phải là ý kiến riêng của bạn. Để làm việc này, bạn phải trở lại và giải thích về thế giới của Thánh Kinh, hầu người nghe bạn có thể hiểu hơn. Bạn giải thích điều Thiên Chúa nói ngày xưa là điều Ngài nói với chúng ta ngày nay, qua những nguyên tắc phổ quát hoàn vũ vượt thời gian mà bạn đã trình bày ở những câu công bố phân bộ nơi dàn bài.

Bạn chỉ đơn giản muốn sắp xếp tài liệu giải thích để cắt nghĩa các tư tưởng của bài giảng cách rõ ràng bao nhiêu có thể. Rõ ràng có nghĩa là dễ nhận ra và hiểu được, không tối tăm nhưng dễ hiểu. Không những bạn chỉ muốn bản tin của tài liệu lịch sử được hiểu cách thấu đáo, bạn còn muốn những chân lý vượt thời gian của bản văn được sáng tỏ. Trừ khi các tư tưởng sáng tỏ, các loại khai triển khác chỉ có hữu dụng rất ít.

Mục đích nhắm tới ở việc dẫn giải là trình bày các tư tưởng cách sống động. Sự hiểu biết về bất cứ một tư tưởng nào đòi hỏi người nghe phải có thể hình dung nó ra được. Loại dẫn giải thông dụng nhất là các thí dụ, như các chứng tích của những người áp dụng hay từ chối điều bạn trình bày, và phân tích tương đồng, dùng những hình ảnh tương tự từ bên ngoài lãnh vực tôn giáo. Như mở cửa sổ để cho ánh sáng chiếu vào trong phòng tối. Các dẫn giải đưa ánh sáng vào các tư tưởng bài giảng của bạn, nhờ đó người nghe có thể nhận ra điều bạn có ý nói. Dẫn giải đòi phải có hình ảnh; không có hình ảnh có nghĩa là không có dẫn giải. Thử tất cả mọi dẫn giải để xem xét hình ảnh cụ thể riêng của nó.

Cách tốt nhất để gợi tưởng tượng nơi người nghe là dùng ngôn ngữ sống động, vẽ lên các hình ảnh. Tài liệu của bạn sống động khi nó mang điều thực tế cách lạ thường, hay là những hình ảnh thực giống trong đời sống vào trí não của người nghe. Những hình ảnh này mang sinh động đến cho các tư tưởng của bản văn. Chúng để lại ấn tượng trong óc tưởng tượng, nhờ đó các ý tưởng sẽ không dễ bị quên lãng.

Mục tiêu bạn nhắm ở biện luận là trình bày các tư tưởng như tán đồng. Hầu hết các vị giảng thuyết giảng cho đám đông “nguời trong nhà,” những người đồng chí hướng. Tuy nhiên, người nghe chúng ta có thể chưa hẳn đã đồng ý với chúng ta. Họ sống ở xã hội trần thế nơi mà các tư tưởng xung khắc luôn luôn thử thách đức tin Kitô giáo của họ. Họ cần có chứng cớ để hỗ trợ cho các thâm tín của mình. Họ cần biết những phê bình và tố cáo thông thường cần phải được trả lời như thế nào. Vì bài giảng không phải là một tranh luận hay một hội thảo triết lý, bạn sẽ muốn loại bỏ những lý luận phức tạp và trừu tượng. Một lối nói đơn giản, thẳng thắn và hữu lý sẽ có sức thu hút mạnh hơn nhiều.

Thoạt đầu tán đồng dường như là một mục tiêu yếu kém cho phần khai triển này. Có thể bạn sẽ thích hơn khi đưa ra chứng tích không thể chối cãi được. Tuy đó là điều lý tưởng để đạt được, nhưng không chắc bạn có thể tìm được chứng cớ mà không bao giờ bị chống đối tí nào. Tán đồng có nghĩa là ‘có phần đúng, chấp nhận được.’ Nếu biện luận của bạn đạt được tới mức độ có ảnh hưởng như thế, bạn đã vượt qua được chặng khó khăn của luận lý và mở đường cho đức tin. Như thế coi như đủ.

Mục đích bạn nhắm tới ở áp dụng là trình bày các tư tưởng như để thực hành. Áp dụng không có nghĩa là tấn công cộng đoàn với chân lý của bài giảng. Áp dụng trình bày những ngụ ý của chân lý Thánh Kinh cho người nghe ngày nay. Nó là lời mời gọi hành động, đưa các nguyên tắc của Thánh Kinh áp dụng vào đời sống. Nó ứng dụng với tư cách, xử sự, lời ăn tiếng nói, lối sống và căn tính cá nhân. Nó nhắm vào lương tâm, các gía trị đạo đức, thâm tín và dấn thân theo Đức Kitô.

Sự thất bại thông dụng nhất trong việc áp dụng là nó qúa tổng quát, qúa nặng tôn gíao, và qúa bâng quơ mơ hồ. Những áp dụng tổng quát của các vị giảng thuyết không thực sự liên quan đến đời sống thực tế của người nghe. Hãy loại bỏ những chỉ trích vội vàng. Nhắm đến việc áp dụng thực tế. Đối diện với đời sống. Đưa ra những đề nghị cho các thay đổi xứng hợp với các tư tưởng của bản văn. Chỉ cho người nghe cách họ có thể biểu dương đức tin và cảm nghiêm ơn thánh của Thiên Chúa.

Việc Đáp Theo Bạn Tìm Kiếm

Nhìn lại biểu đồ lần nữa. Để ý nơi cột cuối dõi theo việc đáp theo mà bạn hy vọng trong việc dùng bốn loại khai triển. Các tư tưởng của bài giảng không thể chỉ được công bố rồi bỏ lửng đứng đó mà không quảng diễn thêm để kêu gọi người nghe đáp theo. Các tư tưởng của bạn phải được mặc tấm áo hỗ trợ hấp dẫn đi từ việc cẩn thận nghe đến thực hành lời Chúa.

Việc Khai Triển
 
Giải thích
Dẫn giải
Biện luận
Áp dụng
Thu Hút
Trí khôn
Óc Tưởng tượng
Lý luận
Sinh động
Đích Nhắm
Trong sáng
Sống động
Tán đồng
Thực tế
Đáp Theo
Hiểu thông
Tưởng tượng
Chấp nhận
Làm theo

Để ý là việc đáp theo tiến hành từ việc đả thông tư tưởng, tới hình dung ra tư tưởng cách cụ thể, rồi đến chấp nhận tư tưởng là đáng tin và thích hợp, sau cùng là có ý đích thân hành động theo tư tưởng. Tiến trình này chỉ cho thấy sự quan trọng của việc khai triển hữu hiệu trong giảng thuyết. Nó cũng tỏ cho thấy bốn hình thức khai triển cùng đồng thuận làm việc thế nào với nhau cho việc truyền thông và thuyết phục được tốt đẹp.  

Bạn dùng giải thích để có được một sự đơn giản đáp theo điều hiểu biết. Thu hút trí khôn với suy tưởng trong sáng , các tư tưởng của bạn sẽ được thấu hiểu. Sự thấu hiểu này không nhất thiết phải bao gồm việc nắm bắt tất cả các chi tiết trong bản văn hay là những ngụ ý thần học và triết lý rộng lớn hơn của các tư tưởng trong bản văn. Bạn chỉ mong có sự hiểu thấu vấn để của bản văn (và của bài giảng)và các phân bộ của vấn đề.

Bạn dùng dẫn chứng/giải để cho người nghe có thể hình dung ra các tư tưởng. Sức mạnh của óc tưởng tượng là điều quan trọng trong mọi lãnh vực học hỏi. Trừ khi một người có thể nhìn ra một ý niệm, bằng không họ sẽ không nắm bắt hay nhớ nó được. Vì bạn giảng về những tư tưởng thần học, bạn sẽ hình dung ra chúng nơi những điều tương tự với tự nhiên, nhờ đó người nghe có thể vẽ ra những hình ảnh cho các ý tưởng đó trong trí khôn của họ. Bạn chỉ muốn sao cho họ thấy ra được. Nếu tài liệu dẫn giải của bạn thực hiện được như thế tức là nó có hiệu qủa.

Bạn dùng biện luận cho việc chấp nhận các tư tưởng của bài giảng.Không có tư tưởng nào có thể thay đổi đời sống của người nghe cho đến khi nó được chấp nhận. Cho đến lúc này tư tưởng có thể đã được thấu hiểu và hình dung ra, nhưng cho đến khi nó được chấp nhận, nó chẳng làm được gì nơi người nghe. Chấp nhận có nghĩa là người nghe tiếp nhận tư tưởng là đáng tin cậy (chấp nhận được) và thích hợp (có thể áp dụng cho họ). Họ sẽ sẵng lòng để tư tưởng đó cùng đứng với điều họ nghĩ là họ đã thừa biết. Điều này không có nghĩa là bạn đã chất qúa tải họ với luận lý. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là họ nhìn nhận những tư tưởng đó có lý và sẽ tiếp nhận chúng trên căn bản đó.

Bạn dùng áp dụng để khơi động ý định đáp theo. Một lần nữa, điều này dường như một mục đích yếu kém cho việc đáp theo bài giảng. Tại sao không mong đợi quyết định hay hành động? Rất có thể bài giảng của bạn sẽ đưa đến kết qủa quyết định rõ ràng nơi người nghe. Quyết định đó có thể được bày tỏ trong vài lối hành động khi hội họp như bước ra để bày tỏ sự dấn thân khi được mời ra trước bàn thờ. Tuy nhiên hầu hết những thách đố mong đợi thấy nơi đời sống của những người nghe không thể thực hiện ngay trong nhà thờ. Họ cần làm những sự thay đổi ngoài ranh giới phụng vụ nơi thánh đường. Nếu việc đáp theo bài giảng của bạn từ tuần này qua tuần khác chỉ nhằm tin vào Thiên Chúa với những thay đổi thực tế, bạn đã thành đạt được rất nhiều.

Hoạch Định Khai Triển Bài Giảng

Sau khi đã duyệt qua việc thu hút lôi cuốn, mục đích và sự đáp theo trong việc khai triển bài giảng, bây giờ chúng ta lưu ý tới nhũng hướng dẫn cho việc hoạch định khai triển. Hãy nhớ là khai triển bài giảng là một khía cạnh quan trọng cho việc dọn bài giảng. Không bài giảng nào được chuẩn bị đầy đủ cho đến khi việc khai triển được hoạch định cách cẩn thận. Những hướng dẫn sau đây có thể dùng để kiểm kê cho việc khai triển hữu hiệu.

Trang Kiểm Kê: Khai Triển Bài Giảng

Tôi đã viết các tư tưởng bài giảng rõ ràng và chính xác.
Tôi đã kiểm tất cả các khai triển để có sự hỗ trợ chính xác cho tư tưởng bài giảng.
Tôi đã hoạch định quân bình bốn yếu tố trong mỗi phân bộ.
Tôi đã thử nghiệm mỗi phần của khai triển với dự tính chức vụ của nó.
Tôi đã tránh đưa ý riêng của mình vào các hình thức khai triển.
Tôi đã cẩn thận hoạch định việc khai triển cho phần mở đề và kết luận.
Tôi đã thiết kế thứ tự khai triển để gây sự thu hút hữu hiệu nhất.
Tôi đã hoạch định việc khai triển với ngôn ngữ cụ thể và biệt lập rõ.

 Nắm chắc là các tư tưởng của bài giảng đã được viết rõ ràng chính xác. Việc viết các câu nối nhịp cầu và các phân bộ bài giảng không phải là phần trực tiếp trong kế hoạch khai triển. Có những ý tưởng này được công bố chính xác thật cần thiết cho việc khai triển đến nỗi bạn không thể hoạch định tốt khi thiếu nó. Bạn không bao giờ biết chắc bạn nói gì nếu những câu công bố ý tưởng lại lờ mờ không chính xác. Nếu bạn gặp khó khăn trong việc hoạch định khai triển, hãy nhìn lại xem có cần làm việc thêm trong phần viết các tư tưởng bài giảng.

Kiểm mỗi phần khai triển để có sự đồng nhất chính xác với tư tưởng nó hỗ trợ. Ở giai đoạn này, việc khai triển còn yếu. Nếu thính giả của bạn không biết chắc việc khai triển của bạn hỗ trợ như thế nào cho quan điểm bạn trình bày, họ sẽ bị rối trí và chán nản. Mở đề nên được khai mở cách chính xác để hỗ trợ cho tư tưởng bài giảng, không phải chỉ để phá thinh lặng. Mỗi câu công bố phân bộ phải được hỗ trợ với việc khai triển đồng nhất với ý tưởng công bố.

Hoạch định quân bình bốn hình thức khai triển cho mỗi phân bộ. Chìa khóa cho việc khai triển hữu hiệu là quân bình. Chỉ khi bạn tạo được sự lôi cuốn thu hút rộng đối với trí khôn, óc tưởng tượng, lý lẽ và sinh động thì bạn mới thông đạt tư tưởng của mình cách hiệu qủa. Để ý xem trong thuật 12, hình thức giảng buông cho mỗi trong bốn yếu tố để bạn có thể nhìn thoáng qua xem chỗ nào cách trình bày của bạn còn yếu và cần thêm hỗ trợ.

Thử mỗi yếu tố của bốn yếu tố để thấy vai trò chính của nó trong phần khai triển. Viết các chú thích xuống cho một vài yếu tố trong việc khai triển là một chuyện. Để cho tài liệu đó có công dụng hiệu lực trong vai trò bạn chỉ định cho nó lại là một chuyện khác. Hãy nhớ, giải thích nhằm đến việc hiểu thông – chú giải, định nghĩa, làm sáng tỏ, qúa trình, tái công bố. Dẫn giải gợi ra hình ảnh; không có hình ảnh, không có dẫn giải, cho dù bạn có gọi nó là gì đi nữa. Biện luận có nghĩa là những lý do riêng biệt để chấp nhận các tư tưởng của bài giảng. Áp dụng là cân nhắc các tư cách và hành xử bởi các nguyên tắc bạn trình bày và kêu mời thay đổi.

Tránh theo những khuynh hướng riêng thích một loại khai triển hơn những loại khác. Ta thường quan sát thấy thầy giáo hay dùng nhiều thời giờ để giải thích. Người có óc sáng tạo có thể làm nhiều dẫn giải. Đầu óc lý lẽ thường hay thích tranh luận. Người cổ võ thích áp dụng thực hành. Bất cứ điều gì bạn nhấn mạnh hơn đều có khuynh hướng loại bỏ những hình thức khác và làm cho việc khai triển thiếu quân bình. Tìm để có những dẫn giải hay là việc khó, do đó một số người thường bỏ qua việc này. Các sinh viên hỏi, “Chúng ta có đòi phải có dẫn chứng cho mọi điểm hay không?” Câu trả lời là “Không cần.” Bạn chỉ cần những dẫn chứng cho các quan điểm bạn muốn người nghe hiểu và nhớ. Điều này cũng áp dụng cho những cách khác trong các hình thức khai triển.

Cẩn thận hoạch định cho phần mở đề và kết luận. Việc khai triển trong phần mở đề và kết luận hỗ trợ cho tư tưởng bài giảng chứ không phải cho một trong những phân bộ. Mở đề nên (1) Gây chú ý, (2) đánh động tạo hứng thú, (3) giới thiệu vấn đề, (4) giới thiệu bản văn, và (5) di chuyển trôi chảy vào bài giảng. Những mục tiêu này sẽ đòi có tài liệu dẫn giải (chú ý), áp dụng (bước cần thiết), và giải thích (vấn đề, qúa trình của bản văn, chuyển tiếp). Kết luận cần được nhắc lại tư tưởng của bài giảng và của các phân bộ, dẫn chứng cho tư tưởng bài giảng cách sống động, và kêu mời đáp theo, với những áp dụng thực hành rõ ràng.

Để ý tài liệu trong thứ tự khai triển hầu gây được thu hút tốt nhất. Chúng ta tiếp tục liệt kê bốn hình thức của việc khai triển trong cùng thứ tự: giải thích, dẫn giải, biện luận, áp dụng. Cho dù những yếu tố này sẽ  hòa trộn trong việc trình bày bài giảng, thứ tự chung cần được để ý. Thứ tự của những yếu tố này đi từ giải thích qua hình ảnh đến chấp nhận và sau cùng là chủ tâm hành động. Rõ ràng là bạn không thể làm theo thứ tự ngược lại; nó không thích hợp với cách người ta suy nghĩ. Những thứ tự khác có thể gây rối trí. Do đó cần để ý đến thứ tự cho việc khai triển trong thiết kế bài giảng.

Trình bày khai triển bằng ngôn ngữ rõ biệt riêng và cụ thể. Chúng ta sẽ đề cập đến nguyên tắc này thêm ở chương 9. Cần biết nắm chắc là bạn không chỉ quẳng ra những tham khảo chung chung mơ hồ khiến người nghe không hiểu được. Không có gì sống động cho đến khi nó được rõ biệt. Hãy làm mọi điều cho thực tế và rõ biệt bao nhiêu có thể. 

Hoàn Tất Thực Tập

Trang thực tập cho việc hoạch định khai triển bài giảng được thiết kế để làm việc với một ý tưởng. Trong việc chuẩn bị bài giảng, bạn muốn có một dàn bài đầy đủ ở trước mặt. Nếu bạn chuẩn bị việc khai triển cho phần mở đề hay kết luận, hãy viết tư tưởng của bài giảng. Việc khai triển cho mỗi phân bộ liên hệ trực tiếp đến tư tưởng đó.

Bước 1. Viết ra những câu công bố phân bộ, hay tư tưởng bài giảng thành câu trọn nghĩa. Hãy nhớ, hoạch định việc khai triển trực tiếp tùy thuộc ở sự trong sáng và chính xác của các câu công bố tư tưởng.

Bước 2. Vẽ vòng chung quanh những từ ngữ trong lời công bố mang ý tưởng chính mà bạn đang khai triển. Đôi khi nó giúp nắm bắt được trọng tâm của mỗi tư tưởng  trong vấn đề và bổ túc từ giúp cho có sự trong sáng và chính xác nhất.

Bước 3. Bắt đầu với giải thích và viết  vắn tắt các ghi chú xem điều gì cần được giải thích từ bản văn và qúa trình của bản văn. Cũng ghi nhận việc giải thích để định nghĩa và làm sáng tỏ nguyên tắc liên hệ.

Bước 4. Hoạch định dẫn giải có liên hệ trực tiếp tới điểm mà bạn nêu lên. Phải nắm chắc là nó đúng mục tiêu với ý tưởng và chứa đựng hình ảnh sống động. Cũng phải chú ý đến những tài liệu dẫn giải khác trong bản văn. Bạn có thể dùng dẫn giải để hỗ trợ cho những yếu tố khác.

Bước 5.  Làm các ghi chú cho biện luận để nó hỗ trợ cho quan điểm bạn nêu ra. Hãy nhớ nó chỉ là một biện luận nếu bạn nêu ra những lý lẽ để chấp nhận tư tưởng bạn trình bày. Hãy ứng dụng tất cả các biện luận trong bản văn.

Bước 6. Hoạch định áp dụng thực hành, miêu tả cũng như chỉ thị. Giữ việc áp dụng cụ thể và rõ biệt. Tránh lối nói đạo đức tôn giáo tổng quát không đánh động đời sống thực tế hàng ngày.

Bước 7. Kiểm lại kế hoạch khai triển lần nữa để có sự quân bình và đủ thời gian để trình bày tài liệu hỗ trợ. Hãy nhớ là các ghi chú viết trên giấy có thể đánh lừa bạn về thời gian cần có. 

Câu Hỏi Học Hiểu

  • Định nghĩa khai triển bài giảng là gì?
  • Mỗi vai trò cá biệt của bốn hình thức khai triển là gì?
  • Tại sao sự quân bình lại quan trọng trong việc hoạch định khai triển?
  • Diễn tả tính lôi cuốn của bốn yếu tố được dùng trong việc khai triển.
  • Mục đích của mỗi yếu tố trong việc khai triển là gì?
  • Vị giảng thuyết muốn có sự đáp theo nào trong việc dùng mỗi yếu tố đó?
  • Giải thích thứ tự tự nhiên của bốn yếu tố khai triển.

Những Yếu Tố Thuyết Phục    Mục đích của thực tập này là dùng những yếu tố thuyết phục thông thường cách quân bình để tạo thành qủa tốt nhất cho các tư tưởng của bài giảng.
Bản Văn:

  1. Nắm chắc các tư tưởng bài giảng phải trong sáng và được viết chính xác.
  2. Tìm tài liệu khai triển từ trong bản văn trước tiên.
  3. Nhắm việc thu hút cách quân bình đối với toàn diện con người.
  4. Tất cả việc khai triển phải đồng nhất với tư tưởng.
  5. Thử nghiệm từng phần cho đúng ý với chức vụ của nó.
  6. Cẩn thận hoạch định phần mở đầu và kết luận.

Viết câu công bố phân bộ bạn khai triển. Bạn có thể dùng tư tưởng bài giảng để hoạch định việc khai triển cho phần mở đầu và kết luận.

Đánh dấu vòng tròn ở từ ngữ trong câu công bố chứa đựng ý tưởng chính trong tư tưởng của bạn. Viết diễn từ căn bản đó ra:

Viết những tư tưởng bạn dùng cho việc khai triển như để giải thích. Giải thích nhằm giúp hiểu những ý niệm của Thánh Kinh và thuyết giảng bằng việc dùng các tài liệu của qúa trình(background) và giải thích.

Để ý việc khai triển như một dẫn giải bạn sẽ xử dụng. Dẫn giải tìm khai sáng tư tưởng qua việc dùng hình ảnh và tường thuật để thu kích thích óc tưởng tượng nơi người nghe.

Viết các tư tưởng cho việc khai triển như cho biện luận. Biện luận dùng các lý lẽ để cho thấy một tư tưởng hữu lý và hướng dẫn nó đi qua những cản trở lý sự trong đầu óc của người nghe.

Hoạch định việc khai triển để việc áp dụng. Áp dụng nói ra những ngụ ý của tư tưởng Thánh Kinh và kêu mời thay đổi và hành động đáp theo trong đức tin.

Nhìn lại những ghi chú trong việc khai triển và kiểm xét sự quân bình. Để ý đến số lượng thời gian mỗi phần cần có để trình bày. Thay đổi nếu cần.