12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

PHẦN 3

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Khai Triển Bài Giảng

Một dàn bài cho bài giảng được soạn thảo cách rất chu đáo chưa từng thấy. Vị giảng thuyết đã đưa dàn bài tới phần thứ 5: Phần chính được đi theo sau là những phần phụ, rồi đến những phẩn phụ phần phụ, rồi các chi của phần phụ phần phụ. . . Dàn bài như thế sẽ rất nhanh để cho ta bị lạc mất và không biết mình đang ở chỗ nào trong dàn bài. Tới phần phụ thứ năm, vị giảng thuyết còn thêm 7 diểm đề nghị cho thính giả.

Hầu hết những điều vị đó muốn nói đều hữu ích. Nhưng vị đó cảm thấy bị ép buộc phải cho chúng ta biết chúng ta đang ở đâu trong dàn bài của ông. Sau một vài điểm “thứ hai,” “thứ ba” “thứ tư” v.v. chúng ta đều bị lạc mất. Điều coi ra tốt cho vị giảng thuyết trên trang giấy đã trở nên không thể hiểu nổi đối với thính giả. Dàn bài giảng được soạn cho con mắt, nhưng các thính giả lại phải nghe bằng lỗ tai. Như thế thì sẽ không bao giờ thành công.

Vấn đề nan giải của vị giảng thuyết là họ nghĩ toàn bài giảng là dàn bài. Họ để mọi điểm tham khảo Thánh Kinh, mọi dẫn giải, mọi điểm áp dụng như là một khía cạnh của dàn bài. Toàn bài giảng được lập thành dàn bài. Điểm mà vị giảng thuyết không nhận ra đó là phân biệt giữa các tư tưởng của bài giảng và những “tài liệu” để thông đạt các tư tưởng đó tới với thính giả.

Bởi vì bài giảng là một trình bày bằng miệng có ý cho tai của người nghe, tốt nhất là giữ dàn bài đơn giản. Đừng dùng những điểm phụ để gán các “tài liệu phụ” khác vào trong dàn bài. Thay vào đó, hãy coi những “tài liệu phụ” như là tiến trình phát triển của các tư tưởng trong những điểm chính.

Khi đã làm xong dàn bài, Khai triển bài giảng là điều bạn phải làm để hoàn tất bài giảng: những điều cần biết, ý nghĩa, các hình ảnh, những lời sửa chữa hay động viên - tất cả những gì đòi hỏi phải có để thông đạt tư tưởng cách hữu hiệu. Bởi vì bạn có thể đọc dàn bài và bản văn của mình trong một vài phút có nghĩa là bài giảng của bạn sẽ được phát triển.

Thật đơn giản, Khai triển bài giảng  là việc giảng theo cái dàn bài bạn treo lên. Khai triển bài giảng là yếu tố quan trọng trong việc thiết kế bài giảng. Nó là điều bạn nói để quảng diễn và làm trong sáng ý nghĩa các chân lý mà bạn nói trong câu công bố tư tưởng bài giảng và các câu phân bộ bài giảng.  Nếu dàn bài của bạn là một bộ xương, khai triển bài giảng là những bắp thịt làn da làm nên thân hình của nó.

Trong các cuộc đàm thoại, thông thường bạn dùng bốn loại bàn luận để thuyết phục ngươi khác về tư tưởng của bạn. Đây cũng là những yếu tố bạn dùng khi khai triển bài giảng. Nói cách đơn giản, tất cả những điều bạn muốn nói để khai triển quan điểm của bạn sẽ thuộc về một trong bốn yếu tố: giải thích, dẫn chứng, biện luận, và áp dụng.

Thí dụ bạn tuyên bố rằng hãng xe Ford sản xuất xe hơi ngày nay tốt hơn tất cả các hãng xe hơi khác. Bạn có thể nhận được những ý kiến bất đồng từ nhiều người khác. Do đó bạn muốn hỗ trợ cho quan niệm của bạn với những tài liệu phụ được thiết kế để giúp cho quan điểm của mình.

Định Nghĩa: Khai Triển Bài Giảng

Từ ngữ khai triển đến từ một động từ có nghĩa là làm cho rộng lớn dần. Tiếng Pháp và tiếng Anh có nghĩa là khai mở, hay mở ra. Khai triển bài giảng, do đó, có nghĩa là mở các tư tưởng của bài giảng ra cho đầy đủ hơn, rộng lớn hơn, và khá hơn.

Khai triển bài giảng là tiếp tục công việc từ chỗ dàn bài ngừng. Nó là tài liệu hỗ trợ và xác định cho các tư tưởng của bài giảng trong dàn bài. Mục đích là để hướng dẫn các tư tưởng của bài giảng vào trong suy nghĩ của người nghe để họ hiểu, chấp nhận và hành động.

Nhiều tài liệu có thể được dùng trong việc Khai triển bài giảng, bất cứ điều gì giúp khai mở tư tưởng của bài giảng. Bốn hình thức phát triển được dùng để khai triển bài giảng. Những hình thức đó là: Giải Thích - Dẫn Chứng - Biện Luận – Áp dụng.

Bạn có thể giải thích ý nghĩa điều bạn muốn nói chiếc xe tốt khá hơn là gì. Bạn cũng có thể dẫn chứng xác định của bạn bằng việc nên lên các thí dụ về kỹ thuật và về kiểu mẫu xe mà bạn cho là tốt khá hơn. Bạn có thể trưng ra một bài báo từ tờ báo về xe hơi và tài xế để biện minh cho quan điểm của bạn. Sau đó bạn có thể áp dụng xác quyết của mình với thính giả bằng việc khuyến khích họ thử lái một chiếc xe Ford.

Giống như bạn cần hỗ trợ cho ý của bạn cho là hãng Ford chế tạo xe tốt hơn, bạn cũng cần hỗ trợ cho tư tưởng của bài giảng mà bản văn đã cung cấp. Dù làm việc với chân lý Thánh Kinh từ một bản văn không giống như là bênh vực cho quan điểm của riêng bạn, nhưng những cách hỗ trợ cho tư tưởng hầu như giống nhau. Bạn sẽ giải thích, dẫn chứng, biện luận, và áp dụng.

Những Bao Quát Chung và Những Điểm Cá Biệt

Sự lôi cuốn hiệu qủa của bài giảng phải bao gồm cân bằng các điểm bao quát chung và các điểm cá biệt riêng. Các điểm bao quát chung có nghĩa là những câu công bố giới thiệu toàn tư tưởng một lúc, trong cái nhìn toàn diện và toàn nghĩa. Tư tưởng bài giảng và những câu phân bộ là những điểm bao quát chung. Những điểm bao quát chung thường là trừu tượng, thuộc về ý tưởng, và bao la hoàn vũ.

Những điểm cá biệt  thì riêng biệt hơn, đó là những tình tiết cụ thể của tư tưởng bao quát. Việc khai triển bài giảng của bạn sẽ bao gồm phần lớn là các điểm cá biệt. Nói theo một cách, tất cả mọi khai triển là việc cá biệt hóa một ý tưởng, đem nó xuống trái đất bằng nghĩa của cảm nghiệm.    

Như đã được đề cập đến, một số vị giảng thuyết dọn một dàn bài chi tiết khi họ thực sự là đang làm việc khai triển bài giảng. Họ thêm vào những điểm trong bài giảng với nhiều điểm phụ và những điểm phụ điểm phụ. Thường thì đó là một nỗ lực muốn sắp xếp tất cả những điều họ muốn nói mà không biết chỗ nào là điểm một dàn bài ngừng để bắt đầu cho việc khai triển một bài giảng.

Điều bạn nên làm là đừng để dàn bài đi xa hơn các phần phân bộ chính. Cá tư tưởng bạn muốn để ở dưới các điểm chính nên được coi là thuộc về phần khai triển bài giảng chứ không thuộc về phần dàn bài. Người nghe sẽ không dễ đi theo bạn tới những điểm phụ. Họ đã đủ khó khăn để nắm bắt được những tư tưởng chính của bạn. Thỉnh thoảng bản văn đòi phải có những điểm phụ - đối chiếu, so sánh, hay các phân cách rõ tư tưởng.Trừ những điểm phụ thuộc  này được bản văn tự đề cập đến, tốt hơn là chúng ta tránh đi các điểm phụ.

Những điểm bao quát chung có lợi điểm giới thiệu toàn tư tưởng trong một câu. Đan dệt một câu công bố cho tư tưởng bài giảng hay một câu cho phân bộ trong bài giảng là một thử thách cho trí óc. Những điểm bao quát này chỉ có thể truyền đạt điểm chính của ý tưởng mà thôi. Chúng chưa mang lại cái cảm nghiệm về ý tưởng đó. Thái độ, cảm khí, hành vi, lợi ích của một tư tưởng Thánh Kinh chỉ có thể có trong những điểm cá biệt bạn dùng khi khai triển bài giảng. “Thiên Chúa đáp lại lời cầu nguyện” là một câu công bố bao quát chung, giới thiệu với thính giả điểm chính của ý tưởng. Một câu truyện về việc Chúa đáp lại lời cầu nguyện là điều cá biệt, hấp dẫn người nghe, theo cảm nghiệm về tư tưởng cầu nguyện.

Trong khi những điểm bao quát chung là những giải thích của thực tế, những điểm cá biệt nhằm giúp cho người nghe cảm nghiệm được các nguyên tắc của Thánh Kinh trong óc tưởng tượng của họ. Những điểm bao quát chung nêu tư tưởng ra theo nguyên tắc. Các điểm cá biệt đưa nó về nhà trong sự thấu hiểu, tưởng tượng, lý lẽ, và phản ứng của người nghe. Chúng móc nối ý tưởng với cảm nghiệm bằng việc ghi nhớ hay tưởng tượng. Nếu không có sự móc nối này đối với cảm nghiệm, các nguyên tắc sẽ ở xa vời, thiếu xứng hợp và không đáng tin.

Bạn đã nhận thấy sự cần thiết phải có cân bằng trong các quan điểm chung, và những điều cá biệt trong các cuộc đối thoại hằng ngày. Khi chúng không quân bình, người nghe trở nên chán nản, khó chịu. Đã có bao giờ bạn nghe hỏi, “Vậy điểm chính là gì?” “Bạn muốn nói điều gì chứ?” Những câu hỏi này yêu cầu bạn tuyên bố tư tưởng chung bao quát, để giải thích những sự thật hay thí dụ cá biệt. Những điểm cá biệt thì rắc rối và không đáng kể, nếu không có ý nghĩa từ nguyên tắc bao quát chung nối kết chúng lại với nhau. Một cái khó chịu tương tự đến từ cái có qúa nhiều những điểm bao quát chung mà không có những điểm cá biệt. Người nghe có thể phàn nàn, “Điều này có nghĩa lý với cái gì?” hoặc, “Bạn có thể cho một thí dụ cụ thể?”

Trí khôn con người không thể luôn tiếp nhận những điều bao quát chung. Nó mong mỏi có những điểm cá biệt, thực tế, những chi tiết riêng làm cho bài giảng trung thực cho đời sống. Đây chính là lý do bỗng nhiên người nghe tỏ ra hứng thú khi bạn bắt đầu vẽ lên một hình ảnh hay kể một câu truyện. Bộ máy của trí não sẽ tự nhiên bỏ không chú ý khi người nghe thấy qúa tải những điều bao quát chung. Bạn có thể nhận ra nơi ánh mắt có vẻ xa vời của họ cho bạn biết là họ đang không chú ý lắng nghe. 

Tuy thế, việc khai triển bài giảng không phải chỉ là ở những điểm cá biệt. Khi bạn mở rộng các phần phân bộ của bài giảng, bạn sẽ làm một số xác định hay quyết đoán. Những xác định hay quyết đoán này vẫn là bao quát chung, cho dù chúng có ý mở rộng các điểm trong bài giảng. Ở dàn bài cho đoạn Sáng Thế Ký 3:1-8, điểm thứ 3 là, “Để ý đến sự quyến dũ của cám dỗ khi mà cảm giác thỏa mãn thú vị được hứa hẹn.” Khi bạn giải thích, bạn có thể nói, “Cám dỗ quyến dũ chúng ta khi chúng ta có những ước muốn riêng.” Đó là lời quyết đoán phụ, một lời tuyên bố bao quát chung để hỗ trợ cho tư tưởng chính. Nhưng đó không phải là điểm cá biệt. Bạn có thể dùng một so sánh và nói, “Khi tôi kiêng cữ trong việc ăn uống, rau bông cải xanh thì không phải là chước cám dỗ; bánh phô-ma và kem là những thứ mà tôi thèm.” Đây là điểm cá biệt nói về quyến dũ của cám dỗ.

Lỗi lầm lớn của các vị giảng thuyết là khai triển các tư tưởng bài giảng bằng việc dùng những lời xác định hay quyết đoán của ngày nay với rất ít, hay không có những điểm cá biệt. Nếu bài giảng không có những điểm cá biệt, với những chi tiết như “bông cải xanh” và “bánh Phô-ma,” nó sẽ trừu tượng và buồn chán. Nó sẽ trở nên nặng nề với chỉ những điều bao quát chung chung. Những điều bao quát chung thường là những nỗ lực nói chung chung khi vị giảng thuyết công bố: “Chúng ta sống trong một thế giới . . . “ hay “Thường thường là . . . “ hoặc, “Nhiều khi . . . “ Những gì được nói tiếp theo sau thường là nhạt nhẽo, qúa tổng quát thay vì riêng biệt, cụ thể, độc đáo làm cho ý tưởng trở nên sống động.

Điểm quan trọng trong việc sửa soạn bài giảng là giữ liên hệ rõ ràng giữa những điểm bao quát chung, và những điểm cá biệt. Hòa trộn sự hỗ trợ của các loại khác cần phải cẩn thận cân nhắc cho xứng hợp với những ý tưởng được khai triển. Đây chính là chỗ mà các năng khiếu sắp đặt khai triển trở nên quan trọng. Khi bạn vẽ các bối cảnh và những câu truyện từ bản văn hay từ những hoàn cảnh ngày nay, hãy nắm chắc là chúng ăn nhịp với tư tưởng mà bạn đang khai triển. Nếu không thì thính giả sẽ bị rối. Việc khai triển chính xác này chỉ có thể đạt được nếu các tư tưởng của bài giảng và những câu công bố của các phân bộ được cẩn thận viết để giới thiệu các ý tưởng bạn có trong đầu.

Một năng khiếu quan trọng có thể phát triển cho việc giảng thuyết là nhận ra lãnh vực của sự bao quát chung và sự cá biệt của tài liệu bạn dùng. Nếu bạn không biết cái gì làm nên câu công bố bao quát chung và tài liệu nào làm nên cá biệt, thì làm thế nào bạn có thể thiết kế bài giảng  cách quân bình và hấp dẫn?

Giảng và Thuyết Phục

Một bài giảng là một bài nói để thuyết phục. Giảng thuyết không phải là chỉ để công bố những tư tưởng từ Thánh Kinh. Nó cũng còn phải thuyết phục người nghe chấp nhận và hành động theo các tư tưởng đó nữa. Giảng thuyết mà không nhằm thuyết phục thì không đúng nghĩa của giảng thuyết. Các bài giảng của chúng ta không thể đồng cảnh với những quảng cáo thương mại trên màn ảnh truyền hình, xem xong rồi nhún vai chê bai cho là chỉ là thêm một sản phẩm. Bản tin của chúng ta là vấn đề sống chết của đời sống.

Giảng thuyết là một hình thức của thuật pháp ngữ minh biện. Thuật minh biện được thiết kế để gây ảnh hưởng trên người khác. Đây là một hoạt động cổ võ. Kenneth Burke, trong cuốn “Rhetoric of Religion, đã viết, “Vấn đề tôn giáo thuộc về hàng đầu của thuật minh biện với ý nghĩa là thuật pháp ngữ biện là nghệ thuật của thuyết phục.” Ông cho rằng truyền thông tôn giáo là một hình thức cổ võ được thiết kế để thuyết phục. Các bài giảng thuộc về lãnh vực này, dầu rằng ông Burke đã không nói về giảng thuyết là như vậy.

Định Nghĩa: Thuyết Phục

Thuyết phục là thực tập gây ảnh hưởng, đặc biệt là bằng tư tưởng. Giảng thuyết nhằm mang lại việc thay đổi trong lối suy nghĩ nơi người nghe. Để cho các tư tưởng Thánh Kinh được chấp nhận ở mức độ sâu xa, vị giảng thuyết sẽ trình bày bài giảng của mình bằng việc dùng những yếu tố thuyết phục. Những hình thức minh biện thuyết phục này được thiết kế để lôi cuốn trí khôn, óc tưởng tượng, lý lẽ, và phản ứng nơi người nghe. Mục tiêu lôi cuốn này có ảnh hưởng thuyết phục mạnh nhất. 

Để một người đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, không những họ phải hiểu những lời được rao giảng, họ còn phải chấp nhận những lời đó. Thánh Gia-cô-bê viết, “Vì vậy anh em hãy dũ sạch mọi điều ô uế và mọi thứ độc ác còn lan tràn; hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em” (Gia-cô-bê 1: 21). Lời Chúa, nếu có thay đổi đời sống của một người, người đó phải khiêm tốn đón nhận. Lời này được gieo trồng nơi người nghe, thấm nhập vào lối suy nghĩ của họ.

Đức tin đòi hỏi việc chấp nhận thẳm sâu này nếu người tín hữu mong nhìn thấy hoa trái kết sinh trong đời sống của họ. Nếu lời Chúa chỉ được nhìn nhận mà không bao giờ được chấp nhận, nó chỉ là hạt giống gieo trên đất sỏi đá. Đức Giê-su nói với loại người nghe lời Chúa như thế, “Những hạt rơi trên sỏi đá là những nguời đón nhận lời Chúa cách vui vẻ, nhưng họ không đâm rễ. Họ tin nhất thời, và khi gặp thử thách, họ bỏ cuộc” (Lc 8:13). Lòng tin hời hợt như thế không phải là Đức Tin cứu chữa, với ảnh hưởng biến đổi đời sống của một người.

Sự biến đổi này chỉ đến bởi việc đổi mới tâm thần (Rm 12:2). Đây là cách duy nhất để vượt qua việc đồng hóa với lò khuôn của thế gian. Nói một cách khác, sự thay đổi nền tảng xẩy ra nơi cách suy nghĩ của bạn làm nên một cái gì mới, một thần trí mới mở đường cho việc sống theo ý của Thiên Chúa.  

Rất có thể chúng ta không nhận thức đúng mức cuộc chiến nội tâm xẩy ra nếu một con người trần tục đón nhận lời Chúa cách sâu xa. Không những người đó phải hiểu, nhưng họ còn phải nhận đưa nó vào lối suy nghĩ của mình, và biến nó thành của riêng, đón nhận tư tưởng mới như là bạn, bất kể nó khó khăn đến đâu. Họ phải sẵn sàng thích nghi các tư tưởng khác trong lối nhìn của họ với cái quan niệm mới này. Sự hòa hợp này là việc canh tân thần trí, đón nhận lời Chúa ở độ sâu đến mức độ biến đổi.

Phản Kháng Thay Đổi

Chúng ta là điều chúng ta nghĩ. Cốt lõi và tác phong của căn diện tính mỗi người chúng ta đến từ sự suy nghĩ của chính chúng ta. Qua nhiều năm những điều ta tích lũy và chấp nhận là đúng đã nặn chúng ta thành con người như ngày nay. Nó giống như là có tất cả các dữ kiện dự trữ trong một chương trình của máy vi tính. Máy vi tính làm việc theo chỉ thị của chương trình đó. Ta đã qúa quen với lối suy nghĩ của mình đến nỗi chúng ta không thể tưởng tượng là mình có thể suy nghĩ khác đi, ít nhất là mức độ các vấn đề thông thường. Sự suy nghĩ của ta làm nên ta là ai. Đến mức độ khi ta thay đổi lối suy nghĩ thì ta cũng trở thành một con người khác.

Hãy thử suy nghĩ xem đời sống sẽ lạ kỳ thế nào nếu chúng ta đã tiếp nhận dữ kiện mới cách dễ dàng và sẵn sàng thay đổi. Mỗi tư tưởng mới đều được đưa vào suy nghĩ của chúng ta, tạo nên bất cứ những giả thiết mới hay những giải thích mới nào đòi buộc cho sự kiên định và phù hợp. Mọi ngày sẽ là một ngày mới, và mọi ngày bạn và tôi sẽ là người mới. Chúng ta rất có thể sẽ không nhận ra chính mình từ tuần nảy qua tuần khác, sự thay đổi qủa thật sẽ là rất lớn.

Nó dường như là điều thật khó khăn đối với chúng ta là những nhà giảng thuyết, nhưng Thiên Chúa biết điều Ngài làm khi Ngài dựng nên con người có khuynh hướng hoài nghi và không muốn thay đổi trong lối suy nghĩ của họ. Nói như thế không có ý hạ gía sức mạnh của lời Chúa thay đổi đời sống của một con người. Các tư tưởng thì mạnh mẽ. Chân lý của Thiên Chúa là sự công phá. Nhưng Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người có tự do lựa chọn chấp nhận hay từ chối những tư tưởng mới. Chỉ khi nào họ chọn chấp nhận các tư tưởng đó thì chúng mới có ảnh hưởng trên đời sống của họ.

Việc chống cưỡng thay đổi không phải là vấn đề có ý thức; nó được xây đắp ở mức độ sâu xa trong sự suy nghĩ của chúng ta, ở mức độ mà chúng ta không dễ làm chủ được. Thánh Phaolô đã than lên trong Rô-ma 7. “Thật vậy! Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi cứ làm.” Trong ý thức của trí khôn thánh Tông Đồ biết điều ngài muốn làm. Ngài muốn hoàn toàn vâng phục thần khí và lề luật của Thiên Chúa. Nhưng lại có một mức độ suy nghĩ sâu thẳm hơn ảnh hưởng đến lối hành xử của ngài, một sức mạnh bên trong ngài mà ngài cảm thấy chưa thể điều khiển được. Bởi vì thánh Phao-lô cảm thấy bất lực không thể lái tất cả các cách hành xử của ngài đi theo với ý muốn, ngài đã kết luận rằng chính ngài không thực sự ý thức điều khiển các hành động của mình. “Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi” (Rm 7:15, 17).

“Tội” ở đây không phải chỉ là bản năng xác thịt, nhưng còn là tất cả những tích lũy của lối suy nghĩ theo xác thịt, đó là sự nghiệp của Phao-lô như là một tội nhân trong thế giới sa đọa. Thật là một khích lệ cho chúng ta là những người rao giảng để được bảo đảm rằng Lời Chúa “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Dt 4:12).

Không những quan trọng là người nghe hiểu điều bạn nói; nó còn tối quan trọng là họ phải đón nhận nữa. Ở trường hợp thứ nhất là các tư tưởng được ghi nhận vào trí khôn như là những ý niệm. Nhưng để những tư tưởng bạn rao giảng có gây ảnh hưởng đến đời sống của người nghe, những tư tưởng ấy phải được đưa vào suy nghĩ của họ. Những tư tưởng đó phải được chấp nhận như là hợp tình hợp lý.

Nó không đủ để cho người nghe chấp nhận một tư tưởng là hợp lý cho một người nào khác, hợp lý cách chung chung, hoặc chỉ là hay hay thôi. Tiến trình  thuyết phục có nghĩa là ý niệm được chấp nhận trên căn bản riêng tư và được đưa vào suy nghĩ của chính cá nhân người nghe. Điều này đi vượt xa hơn là chỉ nhìn nhận tư tưởng: “Tôi hiểu điều bạn đang nói.” Nó phải là một đáp trả chủ động: “Tôi chấp nhận điều bạn đang nói là đúng đối với tôi.”

Tài Liệu Khai Triển Bài Giảng

Bạn sẽ bắt đầu làm việc khai triển bài giảng từ lúc mở bản văn Thánh Kinh. Khi dàn bài giảng được hoàn tất, bạn sẽ phân loại tất cả các tài liệu phụ giúp bạn đã ghi nhận và tìm thêm khi cần cho mỗi phần của bài giảng. Thực ra có rất nhiều tài liệu khác nhau bạn có thể dùng để khai triển các tư tưởng của bài giảng. Cách học hỏi các từ ngữ, các trích  dẫn, đối chiếu, sử liệu của bản văn, các câu truyện, các thí dụ, cảm nghiệm cá nhân, luận lý, những thách thức, những lời răn bào, tin tức thời sự v.v.

Cho dù với vô vàn tài liệu, mỗi thứ sẽ làm theo một trong bốn cách chúng ta đã nói tới: Giải thích, dẫn chứng, biện luận, và áp dụng. Vị giảng thuyết hiểu bốn yếu tố này có thể kiểm xét việc khai triển bài giảng cho quân bình. Mỗi hình thức khai triển đóng vai quan trọng riêng trong việc đắp ‘da thịt’ cho dàn bài của bài giảng. Mỗi hình thức làm nên sự lôi cuốn đặc biệt đối với người nghe. Mỗi cách đều đóng phần trong việc truyền đạt cách hữu hiệu. Nếu chúng không quân bình, sự yếu kém sẽ làm giới hạn ảnh hưởng của bài giảng. Hiểu biết điều mỗi yếu tố giúp  trong việc khai triển các tư tưởng của bài giảng sẽ giúp bạn nghĩ ra các tài liệu bạn cần.

Việc khai triển có hiệu lực tùy thuộc ở sự suy nghĩ rõ ràng và viết chính xác các lời công bố của tư tưởng bài giảng và các câu phân bộ. Nếu các câu công bố cho phân bộ bài giảng mập mờ hay lẫn lộn với nhau, bạn sẽ gặp khó khăn không biết hình dung ra điều gì để nói như là tài liệu hỗ trợ. Bài giảng của bạn dường như sẽ lặp đi lặp lại và thiếu định hướng.

Những tư tưởng thần học trong Thánh Kinh có thể có những hình thực khác nhau. Một số lời công bố trực tiếp đến Ngôi Vị của Thiên Chúa, là nền tảng của tất cả thần học. Những lời khác giới thiệu các nguyên tắc căn bản để hiểu về Đức Tin. Một số trình bày các thực hành xứng hợp cho đời sống của các tín hũu. Nến bạn chú ý quan sát để biết những lời công bố trong bản văn thuộc loại thần học nào, bạn có thể để cho bài giảng của mình đi theo chiều hướng thần học đó. Bạn cũng có thể nắm chắc  bạn quân bình việc trình bày của mình bằng cách đi theo những cách thực hành, hay những nguyên tắc, hoặc tính vị của Thiên Chúa để sống theo giống như ý Chúa.

Khi bạn sắp xếp việc khai triển bài giảng, bạn sẽ muốn có tài liệu hỗ trợ cho mỗi phân bộ của bài giảng. Điều này có nghĩa là bạn sẽ giải thích, dẫn chứng, biện luận, và áp dụng từng điểm của các điểm chính này. Bạn có thể nhận ra rằng một số những dẫn chứng hay áp dụng sẽ thích hợp  hơn chỉ ở một chỗ, tùy theo quan điểm bạn xếp đặt cho chúng. Dàn bài được viết chính xác sẽ cho bạn đưa các tư tưởng hỗ trợ vào đúng chỗ của nó.

Hầu hết việc khai triển bài giảng của bạn sẽ đến từ chính bản văn. Giống như bản văn đã cho bạn vấn đề bổ túc từ,giống như nó đã cho bạn những khẳng định từ cho các phân bộ, bây giờ nó sẽ cho bạn việc khai triển của nó. Việc học hiểu bản văn Thánh Kinh theo lối đi vào từ chi tiết sẽ mở ra những quan sát, các định nghĩa, bối cảnh lịch sử và những tài liệu khác. Bạn cũng sẽ thấy những lý do trong bản văn để hỗ trợ cho các tư tưởng của bài giảng. Sẽ có những lối nói tượng hình, bạn có thể dùng để dẫn chứng các điểm trong phân bộ. Những áp dụng thực hành được tác giả dùng cũng sẽ hữu hiệu cho bài giảng.

Một số tài liệu sẽ thích hợp hơn để khai triển tư tưởng chính của bài giảng, hơn là cho những lời công bố của phân bộ. Khai triển tư tưởng của chính bài giảng sẽ được dùng ở phần giới thiệu và phần kết luận. Khi mở đầu bài giảng, bạn sẽ muốn kéo sự chú ý, và tạo hứng thú cho ngưòi nghe. Điều này đòi hỏi tài liệu cho phần giới thiệu phải chính xác, thích hợp với tư tưởng của bài giảng. Sau đó, ở phần kết luận, khi bạn đưa người nghe trở lại với tư tưởng chính của bài giảng, bạn sẽ muốn dùng dẫn chứng và áp dụng thực hành để kêu gọi người nghe làm theo.

Nghệ Thuật Trong Phần Này

Khai triển bài giảng cung cấp sự hỗ trợ cho những tư tưởng của bài giảng. Trong phần này chúng ta sẽ học hiểu và thực hành ba nghệ thuật liên quan đến việc khai triển bài giảng.

Thuật số 7 là quân bình những yếu tố thuyết phục. Ở chương này chúng ta sẽ tìm hiểu bốn yếu tố của thuật pháp minh biện đươc dùng trong việc khai triển bài giảng: Giải thích, dẫn chứng, biện luận, và áp dụng.  Mỗi yếu tố này có chức vụ riêng biệt để lôi cuốn người nghe.

Thuật số 8 là tìm hiểu những tương tự tự nhiên. Ở chương này, bạn sẽ học một cách có hệ thống để tạo ra những dẫn chứng đặt nền tảng nơi những hoàn cảnh  và những liên hệ giống nhau ở thế giới chung quanh chúng ta. Với những dẫn chứng đặt nền tảng nơi những cảm nghiệm chung, chúng ta có thể truyền đạt những tư tưởng của bài giảng cách sáng tạo giầu tưởng tượng đối với người nghe.

 Thuật số 9 là khêu gợi những hình ảnh và các câu truyện. Mục đích của thực tập này là khai triển năng khiếu lôi cuốn óc tưởng tượng qua việc vẽ lên những màn ảnh hay các câu truyện. Ở đây chúng ta sẽ học loại ngôn ngữ gợi tưởng tượng nơi người nghe.

Trong việc khai triển các nghệ thuật ở những lãnh vực này, chúng ta sẽ có khả năng móc nối khá hơn với người nghe bằng việc thu hút sự chú ý và giữ họ trong hứng thú. Trong tiến trình này chúng ta sẽ thấy họ hiểu và đón nhận các tư tưởng bài giảng lấy ra từ bản văn Thánh Kinh. 

Các Câu Hỏi Học Hiểu

  1. Định nghĩa ý nghĩa của việc khai triển bài giảng là gì?
  2. Dàn một bài giảng nên mở rộng đến tầm mức nào?
  3. Đinh nghĩa những vấn đề phổ quát chung và những vấn đề cá biệt là gì?
  4. Điều gì làm cho bài giảng có tính thuyết phục?
  5. Tại sao người ta lại có khuynh hướng không muốn thay đổi?
  6. Vị giảng thuyết tìm đâu ra những tài liệu hỗ trợ cho bài giảng?
  7. Ba nghệ thuật được nói đến ở phần này là những nghệ thuật gì?