12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 6

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Viết Các Phân Bộ Bài Giảng

Người ta suy nghĩ theo thể thức thứ tự có nối kết và liên hệ hợp lý với những luồng tư tưởng có lý và nhất thống. Do đó có một sự hiểu ngầm là một bài giảng phải được trình bày với sự sắp xếp tư tưởng cách hợp lý. Nó phải được tiến hành trong phương cách có tổ chức để giúp cho vị giảng thuyết cũng như cho người nghe. Grady Davis cho rằng cấu trúc của bài giảng là một việc nới rộng tư tưởng căn bản. Nếu tư tưởng bài giảng không rõ ràng, cấu trúc của bài giảng cũng không rõ ràng.
Chúng ta sẽ bàn luận về hai giai đoạn trong việc viết những phân bộ của bài giảng ở chương này. Thứ nhất là cẩn thận phân tích cách tác giả nói về vấn đề được bàn tới. Thứ hai là chọn từ ngữ viết các phân bộ hợp với lối diễn tả thời nay. Việc thực tập ở đây là Viết Những Lời Công Bố Phân Bộ. Thuật chúng ta nhằm trau luyện là: Chọn từ ngữ để viết những lời công bố cho các phân bộ của bài giảng cách rõ ràng để phản ảnh điều tác giả muốn nói về vấn đề. Giống như những thuật khác trong phần này, thuật này đặt trọng tâm ở việc liên đới giữa bản văn và bài giảng.

Những Lời Công Bố Phân Bộ Là Gì?

Lúc này chúng ta đi đến một trong những yếu tố quan trọng nhất của cấu trúc bài giảng. Bất cứ điều gì vị giảng thuyết có trong đầu khi dọn bài giảng, mục đích chính của họ có lẽ là viết ra một sơ đồ cho bài giảng. Không cần biết điều gì khác bài giảng sẽ tán dương, nó sẽ bấp bênh nếu không có một sơ đồ rõ ràng và chính xác để đi theo.

Điều mà nhiều vị giảng thuyết thường gọi là những điểm của bài giảng. Ở đây chúng ta gọi là những lời công bố phân bộ. Những lời công bố này là những chân lý thần học được viết ra cách rõ ràng và cẩn thận. Chúng diễn đạt chủ đích của các phân bộ trong bài giảng, theo những yếu tố tư tưởng của tác giả trong bản văn.

Hãy nhớ là vấn đề trả lời cho câu hỏi, “Tác giả nói về điều gì?” Bổ túc từ trả lời câu hỏi, “Tác giả giới hạn lãnh vực của vấn đề như thế nào?”  Sau cùng là những khẳng định trả lời cho câu hỏi, “Tác giả nói gì về vấn đề ông nói đến?”

Khẳng định là từ ngữ thuộc văn phạm nói về phần của một câu để xác định vị thế hay hành động của chủ từ. Một câu có hai phần, chủ từ và khẳng định từ. Khẳng định từ là động từ xác định hay công bố. Trong luận lý nó có nghĩa là điều được xác nhận hay phủ nhận đối với vấn đề được nêu ra để lập luận.

Chúng ta dùng từ ngữ khẳng định ở đây để chỉ những điều tác giả nói về tư tưởng chính trong bản văn. Tác giả có thể diễn bày hai, ba, bốn hoặc nhiều yếu tố hơn nữa về tư tưởng của ông trong khi trình bày tư tưởng trong bản văn. Những yếu tố này là những khẳng định mang theo các tư tưởng để làm nên những câu công bố cho phân bộ bài giảng.  

Định Nghĩa: Những Câu Công Bố Phân Bộ

Các phân bộ của bài giảng là những phần của thân bài giảng nơi mà công việc chính của tư tưởng bài giảng được trình bày. Mỗi phần của các phân bộ đều liên hệ đến tư tưởng của bài giảng như là một khía cạnh của chân lý được trình bày.

Những lời công bố phân bộ là những câu diễn tả tư tưởng được bàn đến trong phần đó. Những lời công bố này, giống như tư tưởng bài giảng, là những câu trọn nghĩa ở thì hiện tại nói về những chân lý thần học phổ quát.

Những lời công bố phân bộ phản ảnh cách tác giả làm việc với vấn đề trong bản văn. Chúng hoàn tất việc nối nhịp cầu từ bản văn tới bài giảng, bằng việc trình bày các khẳng định từ của tư tưởng bài giảng như đã được biểu lộ ra trong bản văn.

Vấn Đề Bổ Túc Từ hợp lại làm nên phần chính của tư tưởng bài giảng bằng cách tạo thành một chủ đề. Nhiều khẳng định từ diễn tả các khía cạnh của tư tưởng bài giảng theo như bản văn trình bày. Vai trò của những khẳng định từ này là phân chia tư tưởng của bài giảng trên căn bản  việc làm của tác giả đối với vấn đề. Những khẳng định từ này quyết định các phân điểm của bài giảng, mà ở đây chúng ta gọi là những lời công bố phân bộ.

Như vậy là chúng ta đã quyết định vấn đề, giới hạn lãnh vực của vấn đề, và những điều nói về vấn đề. Tất cả những điều này hợp lại tạo nên ý niệm khung cốt cho bài giảng như nó phản ảnh tư tưởng được trình bày trong bản văn. Như những câu nối nhịp cầu đưa tư tưởng của tác giả tới bài giảng, mô thức có thể được vẽ ra như: [Vấn đề/Bổ túc từ Khẳng định từ].

Phương pháp được trình bày ở đây duy trì một luồng tư tưởng đi thẳng từ tư tưởng trong bản tin đến bài giảng. Giống như một đường rày được bảo toàn cẩn thận, kỷ luật của phương pháp này sẽ giúp luồng tư tưởng của vị giảng thuyết không đi trật đường để tránh sa lầy vào cạm bẫy suy nghĩ mập mờ. Những luồng tư tưởng đó được kéo bởi ý niệm chính, tư tưởng bản văn như vấn đề/bổ túc từ. Mọi khía cạnh khác của bài giảng phải đi theo ý niệm đó trong cùng một đường rày.

Khám Phá Cấu Trúc của Bản Văn

Việc viết các phân bộ của bài giảng phải bắt đầu bằng việc khám phá những khía cạnh khác nhau của vấn đề tác giả nói đến trong bản văn. Vấn đề tác giả nói đến có nghĩa là cách tác giả làm việc với vấn đề, và trình bày vấn đề trong bản văn. Chúng ta cho rằng tác giả có một ý tưởng nhất thống trong đầu khi viết bản văn. Chúng ta cũng cho rằng tác giả đã có trong đầu những khía cạnh của tư tưởng đó để trình bày ra trong bản văn. Khi đã khám phá và đặt tên cho tư tưởng của tác giả, chúng ta trở lại bản văn để tìm xem tác giả đã nói gì về tư tưởng ấy.

Đây là bốn bước để khám phá ra điều tác giả nói về tư tưởng trong bản văn.

Bước 1. Dùng những diễn giải có công dụng pháp ngữ biện/thuyết phục từ tài liệu bản văn để nhận diện những phần có thể là có chứa đựng các ý tưởng của bản văn. Trở lại phần thực tập biểu đồ dàn lược và tìm ở cột "Những công dụng pháp ngữ biện.” Ở đó bạn sẽ thấy một số những từ ngữ có công dụng thuyết phục mà tác giả dùng để truyền đạt tư tưởng của mình. Những loại từ ngữ cho công dụng biện minh hay thuyết phục là, giải thích, dẫn giải, tranh luận, và áp dụng. Đây là những cách tác giả dụng công để truyền đạt tư tưởng của mình. Danh sách của những công dụng pháp ngữ biện chung chia những yếu tố thuyết pháp này thành những vai trò riêng biệt.

Một vài những công dụng thuyết pháp cho thấy sự diễn tả trực tiếp hơn về những ý niệm mà tác giả muốn truyền đạt. Trước hết là hãy tìm những khẳng định, hành động, những giải thích, nguồn xuất xứ, cơ quan, nguyên cớ, mục đích,kết qủa, điều kiện,đối chiếu,căn bản, liên hệ v. v.. Đây thường là những lời công bố tổng quát của tác giả có khuynh hướng hàm chứa nhiều ý tưởng. Những điều bạn đã nhận ra như để dẫn giải, thì có thể diễn tả những ý tưởng tương tự ở ngôn ngữ tượng hình. Những điều để áp dụng sẽ diễn tả các tư tưởng như mệnh lệnh hay khuyến khích.

Bước 2. Đem ‘Vấn Đề/Bổ Túc Từ’ đi đến từng đoạn của bản văn đề dò tìm những yếu tố trong  các tư tưởng của tác giả. Tư tưởng bản văn như ‘Vấn Đề/Bổ Túc Từ’ là ý tưởng cầm lái của bản văn. Bạn đã phân định nó từ những lời của tác giả trong bản văn, nhờ vậy bạn tin vững nó là chủ đề của tác giả. Bây giờ hãy nhìn đến mọi động từ trong bản văn để xem nó nói gì về tư tưởng bản văn. Bạn muốn nhận ra tư tưởng đặc thù mà tư tưởng đó nói thêm về chủ đề. Có thể nói đó là những tư tưởng làm phong phú thêm tư tưởng chính. Chúng nói thêm cho đầy đủ ý nghĩa.

Căn bản là chúng ta hỏi, “Tác giả nói gì về tư tưởng của mình (vấn đề/bổ túc từ)?” Điều tác gỉa nói chính là cách tác giả làm việc với tư tưởng, và hoàn tất việc trình bày tư tưởng đó. Những khẳng định từ này có thể ở dạng những lời xác định, các lời ẩn dụ, các dụ ngôn, hay các tranh luận. Bất cứ ở dạng nào, bạn sẽ muốn nhận diện ý niệm căn bản bằng những từ ngữ thần học. Lúc này bạn chưa viết những câu công bố của phân bộ bài giảng, nhưng mới chỉ nhận diện các tư tưởng mà thôi.  

Bước 3. Xem lại biểu đồ dàn lược để tìm những dấu vết cho thấy cách tác giả làm việc với tư tưởng chính. Chính bản đồ dàn lược sẽ cho thấy những ý tưởng nào phụ giúp cho ý tưởng nào. Những cụm từ hay các từ ngữ phụ giúp cho một tư tưởng được đặt trên hay dưới tư tưởng đó theo hàng dọc của biểu đồ. Hàng dọc chỉ cho thấy những tư tưởng này tương xứng như thế nào trong chức vụ của nó.

Trong thư thứ nhất của Phê-rô (1Pr 1:3-5) thí dụ ở thuật 1, bạn có thể thấy rằng “Đã tái sinh chúng ta” được phụ giúp bởi 4 tư tưởng rõ ràng để hoàn tất ý tưởng. (1) Do lượng hải hà (nền tảng); (2) để nhận lãnh niềm hy vọng; (hiệu qủa) (3) từ cõi chết sống lại (phương thế); (4) để được hưởng gia tài (hiệu qủa). Tất cả bốn tư tưởng này đều liên quan tới vấn đề “tái sinh.” Bạn có thể tìm thấy những chi tiết khác ở đây để hoàn tất ý tưởng đó.

Những công dụng của pháp ngữ biện, hay thuyết phục chúng ta đã nhận diện cho những câu này để thấy là việc tái sinh được trình bày trong bản văn này do việc dùng một nền tảng, một hiệu qủa, một phương thế, và hiệu qủa thứ hai. Những công dụng thuyết phục này diễn tả những cách dùng khác nhau trong vấn đề, nhưng tất cả đều cho thấy ý tưởng tái sinh được phơi bày với những chi tiết trong bản văn.

Bước 4. Đọc lại những câu tóm lược mà bạn đã viết trong phần thực tập quan sát để nhận diện những khía cạnh riêng của tư tưởng bản văn. Những câu tóm lược này được xếp đặt để giúp chúng ta phân loại liên hệ của các ý tưởng trong bản văn. Một số ý tưởng sẽ diễn tả liên hệ giữa tư tưởng bài giảng và một tư tưởng nào đó trong bản văn. Với bản văn trong thư thứ nhất của Phê-rô, chúng ta có nhưng câu tóm lược về những liên hệ giữa các tư tưởng của bản văn. Những câu này đi theo hệ thống được lộ ra trong biểu đồ dàn lược. 

Đôi khi bạn có thể viết câu tóm lược bằng việc cho vào đó một diễn từ công dụng của pháp ngữ biện. Điều này không những chỉ cho thấy hai tư tưởng có liên hệ với nhau mà còn cho thấy chúng liên hệ như thế nào. Khi bạn nhận diện những mệnh đề khẳng định là bạn làm việc xây nền cho các phần bộ của bài giảng. Nhìn thấy cách những tư tưởng phụ thuộc giúp cho tư tưởng chính như thế nào, bạn sẽ dễ dàng viết ra các lời công bố cho mỗi phân bộ của bài giảng.

Các Lời Công Bố Phân Bộ

Những lời công bố cho các phân bộ của bài giảng có thể được viết bằng nhiều cách. Có thể viết như những câu hỏi, những lời truyền khiến; có thể là một câu đầy đủ, hay một cụm từ ngắn gọn. Tuy nhiên những mẫu cách khác nhau này không có cùng giá trị như nhau. Ở đây chúng ta sẽ nói về các mẫu cách viết những lời công bố phân bộ rõ ràng sáng nghĩa và hấp dẫn cho bài giảng.

Các phân bộ bài giảng có thể viết theo những lời công bố thuộc mẫu cách lịch sử. Làm việc kỹ càng với bản văn Thánh Kinh đôi khi các vị giảng thuyết nghĩ là bài giảng phải chú trọng đến bản tin gốc. Điều này có thể dẫn đến việc tất cả các tài liệu, bao gồm cả những lời công bố của phân bộ bài giảng, là ở thì qúa khứ. Vị gỉang thuyết có thể trưng ra những nhân vật trong Thánh Kinh đễ làm bằng chứng: “Thánh Phao-lô nói . . .”

Những lời công bố phân bộ thuộc mẫu cách lịch sử thường có khuynh hướng giữ sự thật của bản văn xa cách với người nghe giảng. Trừ khi việc áp dụng chuyển sang cho người đang nghe, bài giảng sẽ trở thành một bài học về các nhân vật trong lịch sử và về quan niệm của họ. Sau đây là dàn bài của Sáng Thế Ký 22, câu truyện về thử đức tin của A-bra-ham khi Thiên Chúa truyền cho ông sát tế con trai là Isaac. Đề tài có thể là: “Đức Tin của A-bra-ham.”

  1. Trong đức tin A-bra-ham đã đón nhận lời của Thiên Chúa.
  2. Trong đức tin A-bra-ham đã quyết định vâng lệnh của Thiên Chúa.
  3. Trong Đức Tin A-bra-ham đã làm bất cứ điều gì Thiên Chúa đòi hỏi nơi ông.
  4. Trong Đức Tin A-bra-ham đã trông cậy Thiên Chúa ban cho mọi nhu cầu cần thiết.
  5. Trong Đức Tin A-bra-ham đã tiếp tục chờ đợi để được chỉ bảo.
  6. Trong Đức Tin A-bra-ham đã cử hành sự trung tín của Thiên Chúa.

Chúng ta không nên dùng những câu công bố phân bộ như trên. Bài giảng không phải là một bài học về lịch sử tôn giáo của người xưa, nhưng là một thách đố cho người nghe của thời đại ngày nay. Bối cảnh lịch sử của bản văn có thể được dùng để giải thích tư tưởng thần học bạn trình bày. Nhưng những điểm cá biệt lịch sử không nên dùng để công bố như Vấn Đề và những lời công bố phân bộ bài giảng.

Những lời công bố phân bộ của bài giảng có thể được viết như những đề nghị. Loại thứ hai của những lời công bố phân bộ bài giải là mẫu cách Đề Nghị. Trong trường hợp này bạn công bố một tư tưởng Thánh Kinh cách chung chung, ở thì hiện tại như là được áp dụng cho mọi người bây giờ cũng như là ở mọi thời. Cách viết các lời công bố phân bộ này, và cách giải thích nghĩa thần học của bản văn  có thể gọi là mẫu cách Nguyên Tắc.

Bài giảng từ đoạn sách Sáng Thế Ký 22 có thể được đặt tựa đề: “Đức Tin Can Đảm.” Theo mẫu cách đề nghị, những lời công bố phân bộ bài giảng có thể viết như sau:

  1. Đức tin can đảm đón nhận lời của Thiên Chúa.
  2. Đức tin can đảm quyết tâm vâng lệnh của Thiên Chúa.
  3. Đức tin can đảm sẵn lòng dâng hiến tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi.
  4. Đức tin can đảm trông cậy Thiên Chúa ban cho mọi điều cần thiết.
  5. Đức tin can đảm tiếp tục đón nhận sự chỉ dạy của Thiên Chúa.
  6. Đức tin can đảm mừng vui trong sự trung tín của Thiên Chúa.

Những lời này thích hợp trong việc áp dụng có tính phổ quát và cho mọi thời đại. Đây là những lời công bố thuộc thần học về điều được tỏ bày từ đoạn tường thuật trong bản văn.

Những lời công bố phân bộ bài giảng có thể được viết như những lời áp dụng thực hành. Cách thứ ba của lời công bố phân bộ được viết như mẫu cách áp dụng thực hành. Trong khi lời công bố thuộc lịch sử nói về A-bra-ham và đức tin của ông và lời công bố đề nghị nguyên tắc đức tin nói cách chung chung và vượt thời gian, lời công bố áp dụng thực hành nói với người nghe về những gì họ có thể thực hành.

Vấn đề của bài giảng vẫn là “Đức Tin Can Đảm.” Sáu phân bộ theo mẫu cách áp dụng thực hành có thể viết như sau:

  1. Nếu bạn dám đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, bạn sẽ đón nhận lời Thiên Chúa.
  2. Nếu bạn dám đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, bạn sẽ vâng lệnh Thiên Chúa.
  3. Nếu bạn dám đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, bạn sẽ dâng hiến tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏ.
  4. Nếu bạn dám đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, bạn sẽ trông cậy nơi Thiên Chúa cho mọi nhu cầu cần thiết.
  5. Nếu bạn dám đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, bạn sẽ tiếp tục đón nhận những chỉ dạy của Thiên Chúa.
  6. Nếu bạn dám đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, bạn sẽ mừng vui về sự trung tính của Ngài.

Trong lời công bố theo mẫu cách áp dụng thực hành, mỗi lời công bố đều hoàn tất tư tưởng chính là, “Đức Tin Can Đảm.” Mỗi lời công bố là một thách thức thực hành, một lời hứa về hiệu qủa của đức tin can đảm.

Những lời công bố phân bộ bài giảng có thể được viết theo mẫu cách những lời khuyến khích. Trong những lời công bố phân bộ theo lối này, bạn nói thẳng với người nghe, không bằng việc giải thích điều họ có thể làm như là trong mẫu cách áp dụng thực hành. Ở đây bạn nói cho người nghe theo mẫu cách một mệnh lệnh. Chúng ta đã tạo ra mệnh lệnh ở Vấn Đề là: “Đức Tin Can Đảm.” Lời công bố trong mẫu cách khuyến khích thúc dục, truyền khiến người nghe bày tỏ đức tin can đảm ra bằng những cách thức riêng được đề nghị nơi bản văn.

  1. Nghe lời của Thiên Chúa.
  2. Quyết tâm vâng lệnh của Thiên Chúa.
  3. Làm tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi.
  4. Trông cậy Thiên Chúa ban cho mọi điều cần thiết.
  5. Tiếp tục đón nhận những chỉ dạy của Thiên Chúa.
  6. Mừng sự trung tín của Thiên Chúa.

Mỗi lời công bố hoàn tất tư tưởng chính là “Đức Tin Can Đảm” trong mẫu cách khuyến khích. Mỗi lời công bố là một mệnh lệnh để hành động. Đây là cách nói trực thẳng nhất trong bốn mẫu cách của các lời công bố phân bộ.

Đặt Trọng Tâm Nơi Thiên Chúa

Khuynh hướng tự nhiên của các vị giảng thuyết là chú trọng đến bi kịch của con người trong bản văn, cách riêng là ở những đoạn văn tường thuật. Ở trong các thư tông đồ, chúng ta thường coi các tư tưởng trong bản văn với cái nhìn theo bổn phận của những người tin. Chúng ta thường muốn giảng về trách nhiệm luân lý của Kitô hữu. Vì lý do đó, hầu hết các bài giảng của chúng ta đi theo khuôn mẫu nặng mùi luân lý. Đó có nghĩa là những điều chúng ta cần phải làm cho Thiên Chúa.

Thánh Kinh viết trước tiên không phải là để bày tỏ về con người nhưng là bày tỏ về Thiên Chúa cho con người. Ngay cả những đòi buộc luân lý nơi Thánh Kinh cũng tỏ bày về Thiên Chúa. Các bản văn không nhằm để nói về những người của tôn giáo thời xưa và để cho chúng ta phải học theo bắt chước giống như họ. Thánh Kinh được viết để nói cho chúng ta về việc Thiên Chúa là Đấng đã can thiệp vào đời sống của họ. Thánh Kinh được viết để bày tỏ Thiên Chúa cho con người.

Nếu như thế thì có lẽ chúng ta phải đến với mọi bản văn trong ý định khám phá những điều nói cho chúng ta về Thiên Chúa - đặc tính của Ngài, các ý định của Ngài, các khả năng của Ngài và các ghi nhận về Ngài. Mọi bản văn có thể được giải thích một là theo lối chú trọng đến con người hai là theo lối chú trọng đến Thiên Chúa. Bản văn thì luôn cố định. Chân lý luôn ở đó. Những thay đổi là ở nơi người giải thích. Điều chúng ta mang vào bản văn có thể làm lu mờ ý nghĩa gốc đã được xếp đặt trong bản văn.

Phản ảnh tiên khởi về giải thích của vị giảng thuyết đối với bản văn sẽ được bày tỏ ở những lời công bố phân bộ. Dùng những ý tưởng căn bản bày tỏ nơi bản văn để xem chúng nói thế nào về Thiên Chúa. Bạn có thể dùng những điểm qui trọng tâm về Thiên Chúa, và đưa các yếu tố phụ vào việc áp dụng. Bốn mẫu cách cho các lời công bố phân bộ có thể được dùng cho những điểm qui trọng tâm về Thiên Chúa. Chúng ta hãy trở lại với bốn mẫu cách viết những lời công bố phân bộ của bài giảng. Trước hết là coi xem mẫu cách lịch sử có thể được viết thế nào với cách đặt trọng tâm nơi Thiên Chúa. Trọng tâm là ý định và tác động của Thiên Chúa nơi bản văn hơn là của A-bra-ham. 

  1. Thiên Chúa bày tỏ mục đích của Ngài thật rõ ràng cho A-bra-ham.
  2. Thiên Chúa muốn A-bra-ham hoàn toàn vâng lệnh Ngài.
  3. Thiên Chúa đòi hỏi A-bra-ham hiến tế tài sản qúi gía nhất của ông.
  4. Thiên Chúa muốn ban cho A-bra-ham những gì ông cần.
  5. Thiên Chúa cho A-bra-ham những hướng dẫn ông cần biết.
  6. Thiên Chúa muốn A-bra-ham mừng vui với sự nhân lành của Ngài.

Bây giờ chúng ta trở lại với mẫu cách đề nghị. Nhưng lần này chúng ta viết với chủ ý qui tụ về Thiên Chúa hơn là về con người. Dùng cùng bản văn đó và theo cùng một dàn bài căn bản, viết theo cách giải thích qui tụ về Thiên Chúa cho thấy rõ sự khác biệt về bài giảng.

  1. Thiên Chúa tỏ rõ ý định của Ngài cho những ai tin vào Ngài.
  2. Thiên Chúa muốn sự vâng lời trọn vẹn nơi những ai tin vào Ngài.
  3. Thiên Chúa đòi hỏi hiến tế vô điều kiện của những ai tin vào Ngài.
  4. Thiên Chúa hứa sẽ đáp ứng mọi nhu cầu của những ai tin vào Ngài.
  5. Thiên Chúa luôn hướng dẫn những ai tin vào Ngài.
  6. Thiên Chúa muốn được tôn vinh bởi những ai tin vào Ngài.

Tuy cách viết có thể được sắp xếp uyển chuyển đôi chút theo ý bạn, bạn có thể nhận thấy rằng những lời công bố này chuyển từ chú ý về A-bra-ham đến việc chú ý tới Thiên Chúa và những điều Thiên Chúa thực hiện trong câu truyện. Bây giờ chúng ta đi tới việc viết những lời công bố ở mẫu cách áp dụng thực hành. Những lời công bố này được viết thế nào từ khía cạnh qui tụ về Thiên Chúa?

  1. Bạn có thể tin tưởng Thiên Chúa bày tỏ rõ ràng ý định của Ngài cho bạn.
  2. Bạn có thể tin tưởng Thiên Chúa trong sự vâng phục hoàn toàn của bạn.
  3. Bạn có thể tin tưởng Thiên Chúa với bất cứ hiến tế nào Ngài đòi hỏi nơi bạn.
  4. Bạn có thể tin tưởng Thiên Chúa ban cho bạn mọi nhu cầu bạn cần.
  5. Bạn có thể tin tưởng Thiên Chúa luôn trao ban sự hướng dẫn.
  6. Bạn có thể tin tưởng Thiên Chúa luôn vinh danh Ngài nơi cảm nghiệm sống của bạn.

Khi đi đến mẫu cách cuối cùng để viết những lời công bố phân bộ, bạn có thể suy nghĩ làm thế nào để viết những lời công bố khuyến dụ qui tụ về Thiên Chúa. Mẫu cách những lời công bố phân bộ này viết dưới dạng truyền khiến hay là khuyến dụ. Chúng ta sẽ đích thân nói trực tiếp với thính giả về những gì họ nên làm để đáp lại những chân lý của bản văn. Sau đây là một cách mà những lời công bố đó có thể được viết:

  1. Hãy tin tưởng Thiên Chúa tỏ bày rõ ý của Ngài ra cho bạn.
  2. Hãy tin tưởng Thiên Chúa bằng việc vâng lời trọn vẹn.
  3. Hãy tin tưởng Thiên Chúa với tất cả hiến tế Ngài đòi hỏi.
  4. Hãy tin tưởng Thiên Chúa ban cho bạn mọi điều bạn cần.
  5. Hãy tin tưởng Thiên Chúa luôn trao ban sự hướng dẫn.  
  6. Hãy tin tưởng Thiên Chúa vinh danh Ngài nơi cảm nghiệm sống của bạn.

Bài giảng chú ý đến con người đặt nặng đến những gì các tín hữu phải làm. Nhưng bài giảng chú ý đến Thiên Chúa đặt nặng đến Thiên Chúa là ai và Ngài đã làm gì, Ngài hứa những gì, Ngài sẽ làm gì, Ngài có thể làm những gì. Những điều này xây dựng đức tin. Cách vị giảng thuyết diễntả các chân lý từ bản văn có thể làm nên sự khác biệt thật rõ ràng.

Gía Trị của Những Lời Công Bố Phân Bộ

Những lời công bố phân bộ hay có thể được kiểm xét bằng một bài những đặc điểm nơi trang khung kiểm tra. Những kiểm xét này có thể phục vụ như là một danh sách kiểm kê để giữ cho bạn đi đúng lề lối khi bạn chuẩn bị dàn bài. Một vài những đặc điểm này đã được nói đến trước đây. Bây giờ chúng ta muốn nhấn mạnh đến những điểm quan trọng.

Dùng những lời công bố trọn nghĩa hơn là những cụm từ hay những từ ngữ độc lập. Hầu hết các dàn bài của bài giảng là rải rác nêu lên những danh sách các từ ngữ hay các cụm từ. Rất ít khi được viết ra bằng những câu trọn nghĩa. Nó thật dễ để khéo léo viết một từ ngữ hay một mệnh đề hơn là viết một lời công bố trọn vẹn nghĩa. Vấn đề khó khăn là việc dùng một từ ngữ cho những lời công bố phân bộ không gói trọn một tư tưởng. Vì lý do đó chúng thường không thực sự nói lên điều gì. Hãy nhìn xem dàn bài dựa theo Lu-ca 18:6-8 về ông quan tòa bất ngạo nghễ và bà góa bất lực sau đây:

  1. Người bất lực
  2. Người giúp đỡ
  3. Việc cầu cứu
  4. Những khích lệ 

Chỉ trong văn cảnh của bài giảng thì dàn bài này mới có nghĩa ý. Ngoài ra nó chỉ như là ám hiệu của một cái gì đó. Hãy hỏi những người nghe. Có điều gì ở trong đó để viết xuống? Điều gì được nhớ để chia sẻ với người khác? Điều đó rõ ràng trọn nghĩa hay chỉ là một lời nói khéo? Không những chỉ làm cho người nghe khó hiểu điều bạn muốn nói, nhưng bạn cũng thấy mình không nắm vững cho đến khi bạn viết ra lời công bố bằng ngôn ngữ trong sáng.

Hãy bảo đảm là những lời công bố phân bộ được viết ra khác biệt rõ với nhau.Khi dàn bài bắt đầu thành hình, phải để ý đến những phân bộ có ý tưởng tương tự. Trả lời những câu hỏi nêu lên từ những nghi vấn từ các tư tưởng trong bản văn có thể giúp bạn công bố tư tưởng tương tự bằng cách thức khác. Bạn có thể không nhận ra điều đó cho đến khi bạn ở trong tiến trình làm việc. Lúc đó bạn sẽ nhận ra là bạn đang diễn tả, tranh luận, dẫn giải, và áp dụng hai lần cho cùng một ý tưởng.

Những lời công bố phân bộ không rõ ràng sẽ làm rối trí người nghe. Dù họ thích những nhận định của bạn hỗ trợ cho những những điều chân thực tương tự, họ sẽ vẫn không thể nắm bắt được các tư tưởng. Một việc thực hành tốt là hãy nhìn vào mỗi phân bộ để tìm xem ý nghĩa chính của nó. Nếu người nghe muốn viết xuống một hay hai từ ngữ về ý tưởng của lời công bố, họ sẽ viết cái gì? Bạn nghĩ xem cái gì là căn bản của tư tưởng đó? Hãy bảo đảm là nó khác biệt rõ với từng lời của những lời công bố phân bộ khác.

Hãy dùng lối song song trong cách diễn từ, nhịp điệu, dùng thuật ngữ cho vần thơ. Theo chữ chính và trình bày sự liên đới của các lời công bố phân bộ, bạn sẽ muốn làm cho có song nhịp. Xin hãy cẩn thận đừng bẻ cong sự thật để làm cho chúng thích hợp với dàn bài bạn muốn. Mục đích của bạn là để cho bản văn cung cấp cho bạn dàn bài chứ không phải là áp đặt dàn bài vào bản văn.

Có nhiều cách để viết các lời công bố phân bộ song song. Thuật diễn từ có thể song song. Nhịp điệu có thể giống nhau, như các dòng thơ. Việc chọn các từ ngữ có thể mang đến cho bạn các từ song nghĩa. Tất cả những điều này có thể giúp cho bạn nhớ dàn bài. Nó cũng giúp cho những người nghe nhận ra những điểm chính và phân biệt được với những điểm phụ thuộc. Nó cũng bắt bạn phải cẩn thận hơn khi viết.

Dùng ngôn ngữ thức thời ở thì hiện tại gần gũi với người nghe bạn nói. Những lời công bố phân bộ được nói với các thính giả ngày nay. Điều này đưa chúng ta trở về hai thế giới mà vị giảng thuyết phải làm việc với: Thế giới lịch sử của Thánh Kinh mạc khải và thế giới hiện tại của người nghe giảng. Bài học Thánh Kinh chú trọng đến thế giới Thánh Kinh có thể dùng ngôn ngữ lịch sử của thì qúa khứ để công bố về điều đoạn văn nói đến. Một bài giảng được soạn cho thính giả thời nay sẽ dùng cách viết tương tự nhưng ở thì hiện tại.

Tôi được nghe một bài giảng với những điểm được công bố về Si-mon Phê-rô. Những điểm đó không phải là các nguyên tắc phổ quát. Chúng là những nhận định thuộc lịch sử về Phê-rô. Nó có thể khá hơn nhiều nếu những nhận định đó đã được công bố như là những nguyên tắc phổ quát về đức tin. Chắc chăn người nghe thích thú nghe về chân lý Thánh Kinh cho cảm nghiệm sống của họ hơn là những gì bạn có thể nhận thấy về cảm nghiệm của Si-mon Phê-rô.

Dùng những lời công bố đứng độc lập như những nguyên tắc phổ quát. Thánh Kinh mạc khải nhiều nguyên tắc áp dụng phổ quát. Đây là những chân lý vượt thời gian và luôn luôn đúng, bất kể hoàn cảnh nào hay liên hệ đến ai. Khi bạn làm dàn bài cho bài giảng theo một tư tưởng của bài giảng, hãy viết những lời công bố phân bộ theo cách giới thiệu những nguyên tắc hướng dẫn đời sống Kitô giáo. Cho dù tư tưởng bản văn là lời công bố thuộc lịch sử ờ thì qúa khứ, tư tưởng bài giảng và những lời công bố phân bộ là những nguyên tắc phổ quát thích hợp cho mọi người trong mọi thời đại.

Một trắc nghiệm tốt cho những lời công bố phân bộ là tách nó ra khỏi bài giảng để xem nó có nghĩa ý khi nó đứng riêng một mình. Có phải đây là một lời công bố rõ ràng về nguyên tắc mà không mang theo những vương víu của thói tục văn hóa? Nó có gạn lọc lấy cốt lõi của ý tưởng từ trong bản văn, cho dù bản văn đó đã được viết cho loại thính giả khác ở một thế giới xa xưa? Nó có mang trọn nghĩa cho dù khi nó đứng tách rời ra khỏi bài giảng không?

Bản Kiểm Chứng: Các Phân Bộ Bài Giảng

  • Tôi dùng những lời công bố trọn nghĩa cho các phân bộ hơn là các diễn từ hay các từ ngữ độc lập.
  • Tôi biết chắc là mỗi lời công bố trong các lời công bố của phân bộ khác biệt rõ ràng với nhau.
  • Tôi dùng lối song song cho diễn từ, nhịp điệu hay thuật ngữ.
  • Tôi dùng thì hiện tại, ngôn ngữ thời nay cho thính giả của tôi.
  • Tôi dùng những lời công bố có thể đứng độc lập như những nguyên tắc phổ quát.
  • Tôi sắp xếp các phân bộ theo thứ tự tiến trình hợp lý.
  •  Tôi tránh những điểm phụ không có rõ trong bản văn.
  • Tôi cố gắng trình bày các tư tưởng của bản văn cách rõ ràng hơn là lặp đi những chữ cùng âm điệu.

Đi theo tiến trình hợp lý của tư tưởng để sắp xếp các lời công bố phân bộ của bài giảng. Hầu hết là thứ tự các ý tưởng làm nên các phân bộ sẽ đi theo với bản văn. Bạn sẽ thấy không cần phải làm bất cứ thay đổi nào trong thứ tự luận lý trình bày của tác giả. Đây chính là cách tốt nhất cho bạn đi theo để giảng, bởi vì nó giúp dễ dàng nhớ các điểm trong bài giảng của bạn, nếu những điểm đó cũng là những điểm thứ tự trong bản văn.     

Đôi khi bạn sẽ muốn sắp xếp lại thứ tự để nó thích hợp đi theo với tư tưởng của bài giảng. Một vài hình thức xây dựng bài giảng đòi  có một thứ tự riêng cho tiến trình của tư tưởng để bài giảng có ảnh hưởng.

Tránh không dùng những điểm phụ hầu duy trì được tiến trình cân bằng cho mỗi phân bộ. Một số vị giảng thuyết dùng các điểm phụ và phụ điểm phụ để xếp dàn bài một cách rắc rối, phức tạp, khiến cho người nghe không theo dõi được. Điều này có thể là một nỗ lực trong tiến trình của bài giảng được đội lốt ở việc tạo dàn bài. Tiến trình của bài giảng được hoàn thành bởi việc giải thích, dẫn giải, tranh luận, và áp dụng để nói thêm về tư tưởng riêng của phân bộ.

Tiến trình bài giảng được bắt đầu khi dàn bài được hoàn tất, và dàn bài tốt nhất là ngừng ở ngay tại những lời công bố phân bộ. Nếu bạn thấy có những điểm phụ được tác giả trình bày trong bản văn, những điểm này có thể được dùng trong bài giảng. Nhưng tốt hơn là không xếp thứ tự các điểm phụ này để tránh cho người nghe bị rối trí về những thứ tự thứ nhất, thứ hai, thứ ba v.v.

Tránh việc lặp đi lặp lại chữ cùng âm, nhưng hãy diễn tả tư tưởng của tác giả trong bản văn cách chính xác rõ ràng. Có truyền thống của một số người cho rằng những lời công bố của phân bộ bài giảng nên được viết với những chữ cùng âm. Điều này thường có nghĩa là từ ngữ chính trong mỗi lời công bố bắt đầu bằng một chữ cái giống nhau. Vị giảng thuyết có thể cho vào những điểm phụ có cùng âm. Nghệ thuật tô bóng những lời công bố phân bộ này rõ ràng là làm cho vị giảng thuyết cảm thấy mình có một dàn bài hứng khởi.       

Trong thực tế, cách lặp đi lặp lại đồng âm từ trong giảng thuyết sẽ làm tổn thương những chân lý của bản văn mà vị giảng thuyết muốn trình bày. Để tìm được một chữ P khác, vị giảng thuyết phải bỏ qua sự thật là từ ngữ mình lựa chọn không diễn tả chính xác ý nghĩa của bản văn. Đôi khi mối quan hệ tìm chữ đồng âm này trở nên như một nghiện ngập. Có vị giảng thuyết cho rằng nếu không có một dàn bài đồng âm thì họ cảm thấy như đứng giảng cách trần trụi. Người khác thú nhận rằng ông biết là mình gặp khó khăn khi dùng qúa nhiều thì giờ với tự điển để tìm từ ngữ hơn là dùng thì giờ tra cứu Thánh Kinh.

Câu 3: Tra Vấn

Trong phần giải thích này, chúng ta giới thiệu bốn câu nói sẽ giúp bác nhịp cầu cho khoảng cách giữa bản văn cổ và bài giảng ngày nay. Đây là phương pháp giải thích cổ truyền  với một truyền thống lâu dài. Nó được gọi cách khác là mẫu mực căn bản, phương cách nền tảng, hay phương pháp chữ khóa. Ý tưởng chính của những câu này là tư tưởng thần học được công bố trong Vấn đề/bổ túc từ. Bốn câu là tư tưởng bản văn, tư tưởng bài giảng, tra vấn, và câu chuyển tiếp. Chúng ta dùng những câu này để thiết lập một tiếp nối vững chắc từ bản văn tới bài giảng và tiến trình của bài giảng.

Ở chương trước chúng ta đã nói đến hai câu đầu, tư tưởng của bản văn và tư tưởng của bài giảng. Bây giờ chúng ta trình bày về công dụng của hai câu trong việc nối kết, câu tra vấn và câu chuyển tiếp. Câu tra vấn được thành hình bởi xoay tư tưởng bài giảng thành câu hỏi, bằng cách dùng một trong sáu câu hỏi căn bản: Ai, điều gì, khi nào, ở đâu, tại sao, và thế nào.

Nhìn vào Gio-an 3:1-8 dưới ánh sáng tư tưởng của bài giảng và quyết định câu hỏi nào xứng hợp nhất trong sáu câu: ai, điều gì, khi nào, ở đâu, tại sao, và thế nào. Câu hỏi nào bản văn muốn trả lời? Coi câu này xem thế nào: Ai cần tái sinh trong nước Thiên Chúa? Nếu đây là câu hỏi xứng hợp, bản văn sẽ cho bạn một diễn tả về người cần tái sinh, hay có lẽ một số người cần được tái sinh. Thử câu này xem: Việc tái sinh là cái gì mà lại cần trong nước Thiên Chúa? Những câu hỏi này không mở lối đi vào cách tác giả làm việc với ý tưởng đó. Một cách đơn giản, nó không giúp ích cho ta.

Do đó chúng ta phải thử khi, ở đâu, tại sao hay thế nào. Ta chọn tại sao: Tại sao tái sinh lại cần thiết trong nước của Thiên Chúa? Câu hỏi này dường như hợp với những điểm chính trong cuộc đàm thoại giữa Đức Giê-su và Ni-cô-đê-mô. Đức Giêsu su nói, “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và thần khí” (câu 5). Đó là một tư tưởng trong bản văn về vấn đề cần thiết phải tái sinh, nhưng dường như nó trả lời câu hỏi lý do tại sao.

Dùng câu tra vấn sẽ cung cấp một đường lối hướng dẫn để mở kiến trúc của bài giảng đi theo một hướng rõ ràng. Câu hỏi bạn dùng sẽ gọi ra một câu trả lời nào đó. Nhưng bạn không chọn câu hỏi cho có lệ. Bạn đã chọn vấn đề từ bản văn, bổ túc từ từ bản văn, và công bố tư tưởng bản văn dựa trên bản văn. Bây giờ bạn sẽ để cho bản văn quyết định câu hỏi bạn hỏi về vấn đề của nó.

Bây giờ nhìn vào Sáng Thế Ký 3:1-7 một lần nữa. Ở đó chúng ta đã đặt tư tưởng cám dỗ/lôi cuốn, hay sự lôi cuốn của cám dỗ. Sự tra vấn sẽ thăm dò bản văn để tìm các thuộc tính, hay những khía cạnh lôi cuốn của cám dỗ. Như một tra vấn, ta chọn “cái gì.” Do đó câu hỏi sẽ như thế này: “Cái gì là sự lôi cuốn của cám dỗ?” hay “Sự lôi cuốn của cám dỗ là cái gì?” Ta nhìn kỹ lại bản văn và loại bỏ: ai, khi nào, ở đâu, tại sao và thế nào. Nếu ta đọc đúng, bản văn muốn nói cho ta vài điều về lôi cuốn của cám dỗ là cái gì.

Nếu bạn chọn một câu hỏi bạn cho là có thể làm việc được, hãy đem câu hỏi đó thử nghiệm vào toàn diện bản văn, từng câu một. Bản văn có cho những câu trả lời đối với câu hỏi bạn nêu lên hay không? Bạn có thể đọc trong suốt bản văn và tìm thấy, ở việc làm của tác giả về vấn đề đó, những câu trả lời riêng cho câu hỏi của bạn hay không? Nếu không tìm thấy, bạn hãy chọn câu hỏi khác và viết lại câu hỏi tra vấn cho đến khi bạn tìm được đúng. Sau đó là bạn sẵn sàng cho câu cuối cùng là câu chuyển tiếp vào thân bài giảng.

Câu 4: Câu Chuyển Tiếp

Câu chuyển tiếp là câu thứ bốn trong phương cách truyền thống được tạo thành để đưa tư tưởng của tác giả bản văn an toàn từ bản văn tới bài giảng. Nó trả lời cho câu hỏi nêu lên trong câu tra vấn, và giới thiệu những khẳng định thuộc tính của tư tưởng bài giảng, mà những thuộc tính ấy được tìm thấy trong tư tưởng của bản văn. Các khẳng định thuộc tính là những câu trả lời đối với câu hỏi tra vấn nêu lên và là căn bản cho những câu công bố phân bộ của bài giảng. 

Ở đây chúng ta giới thiệu một dụng cụ hữu ích đó là CHỮ CHÌA KHÓA. Chữ chìa khóa là một danh từ chung trừu tượng để làm tên gọi cho một phân vụ để phân loại các câu công bố của phân bộ bài giảng. Câu hỏi bạn đã gắn vào tư tưởng bài giảng để làm nên câu tra vấn thường là sẽ dẫn đưa bạn đến chữ chìa khóa.

Chữ chìa khóa nhận diện một loạt tư tưởng do việc phân loại chúng ra như các nguyên tắc, các lợi điểm, các điều chắc chắn, các thay đổi, các kỷ luật, các bằng chứng, các điều xấu, các lỗi lầm v.v. Mỗi câu công bố phân bộ (các điểm trong bài giảng) được nối kết với nhau như một nguyên tắc, một điều chắc chắn, hay một danh từ trừu tượng nào khác. Do đó các lời công bố phân bộ sẽ là một bộ. Giống như một bộ bánh xe hay một bộ đĩa, chúng ăn hạp với nhau. Tất cả chúng hoàn thành tư tưởng bài giảng và được công bố trong cùng kiểu mẫu.

Hầu như là không có giới hạn về các diễn từ bạn có thể dùng như là từ ngữ chìa khóa. Nhưng có một số loại từ ngữ không nên dùng làm chìa khóa. Thí dụ như những từ ngữ chỉ đồ vật hay dụng cụ. Nó qúa rộng và mu mơ không thích hợp. Cũng không nên dùng các điểm chỉ như từ ngữ chìa khóa. Hãy nhớ là từ ngữ chìa khóa chỉ đơn thuần là khí cụ để nhận diện các phân bộ của bài giảng như nó hiện lên trong cách tác giả làm việc với vấn đề mà thôi.     

Vì câu hỏi ta dùng cho Gio-an 3:1-8 là tại sao, ta đã chọn những lý do làm chữ chìa khóa. Ta hỏi câu hỏi “Tại sao việc tái sinh lại cần thiết trong nước của Thiên Chúa?” Dường như các câu trả  lời dễ dàng được phân loại như các lý do cho sự cần thiết của việc tái sinh. Do đó các câu công bố của mỗi phân bộ sẽ là lý do tìm thấy trong bản văn cho rằng tái sinh là điều cần thiết trong nước Thiên Chúa.

Định Nghĩa: Từ ngữ Chìa Khóa

Từ ngữ chìa khóa là một danh từ chung, trừu tượng để phân loại hay phác họa chất tính của những câu công bố phân bộ trong bài giảng. Trong phương thức trình bày ở đây, nó được dùng trong câu chuyển tiếp như một cách để trả lời cho câu hỏi được nêu lên trong việc tra vấn. Từ ngữ chìa khóa giúp xây dựng một dàn khung cho thân của bài giảng, bởi vì tất cả các câu công bố phân bộ của bài giảng phải rập theo nó.

Từ ngữ chìa khóa đưa vị giảng thuyết trở lại với bản văn để tìm những câu trả lời cho tra vấn của mình mà những câu trả lời đó có thể được mô tả theo từ ngữ chìa khóa. Con số của các từ ngữ chìa khóa có thể dùng thì hầu như vô hạn định. Từ ngữ chìa khóa đúng cho một bản văn sẽ đi theo việc chọn câu hỏi được dùng trong việc tra vấn.

 Bốn câu nối kết nhịp cầu dẫn bạn từ bản văn đến dàn bài của bài giảng. Câu thứ bốn là câu chuyển tiếp, chứa đựng từ ngữ chìa khóa. Với đoạn Sáng Thế Ký 3:1-10 chúng ta đặt tên cho tư tưởng là “Sự lôi cuốn của cám dỗ.” Với câu tra vấn chúng ta hỏi: “Sự lôi cuốn của cám dỗ là cái gì mà các Kitô hữu phải để ý?” Câu chuyển tiếp trả lời cho câu hỏi bằng cách giới thiệu từ ngữ chìa khóa và loan báo những khẳng định thuộc tính được công bố như những phân bộ của bài giảng: Tóm lược ở đây đề ra là ba điều gian giảo trong sự lôi cuốn của cám dỗ. Do đó mỗi câu công bố của các phân bộ bài giảng sẽ là một gian giảo cần để ý về sự lôi cuốn của cám dỗ.

  1. Để ý đến lôi cuốn của cám dỗ khi những huấn dụ về luân lý bị chất vấn (câu 1-3).
  2. Để ý đến lôi cuốn của cám dỗ khi những hậu qủa của tội lỗi bị phủ nhận (câu 4-5).
  3. Để ý đến lôi cuốn của cám dỗ khi các khoái cảm được đoan hứa (câu 6-7).

Tới đây chúng ta đã viết bốn câu chính để bảo đảm rằng con đường từ bản văn tới bài giảng được đi thẳng và trung thực. Khi giảng bạn có thể công bố những câu này, nhưng có thể bạn không công bố. Nếu bạn công bố, thì nên công bố vào phần giới thiệu để mở đường vào thân bài giảng. Tự kỷ luật mình để viết ra những câu này là điều quan trọng cho dù bạn không bao giờ nói ra trong khi giảng. Tuy nhiên khi nói những câu nối kết nhịp cầu này ra trong phần giới thiệu sẽ giúp cho thính giả nhìn thấy hướng đi của bài giảng.

Hoàn Tất Thực Tập

Bước 1. Đặt căn bản trên Vấn đề/Bổ túc từ nhận diện những khẳng định thuộc tính của tác giả, những điểm riêng về cách tác giả làm việc với tư tưởng chính trong bản văn. Nhìn lại biểu đồ dàn lược, những công dụng pháp ngữ thuyết phục, và những câu tóm lược sẽ giúp bạn.

Bước 2. Viết câu thứ ba và thứ bốn của những câu nối kết nhịp cầu dùng Vấn đề/Bổ túc từ như ý tưởng chính trong mỗi câu. Bạn đã viết tư tưởng của bản văn và tư tưởng của bài giảng rồi. Bây giờ viết câu tra vấn và câu chuyến tiếp.

Bước 3. Chọn một từ ngữ chìa khóa để thiết lập một bộ những câu công bố phân bộ và hướng dẫn bạn trong cách viết những câu đó. Từ nghữ chìa khóa là một danh từ chung, trừu tượng đặt tên cho một phần loại đứng riêng trong đó những phân bộ sẽ được đưa vào.

Bước 4. Viết những câu công bố phân bộ theo tiêu chuẩn cho các lời công bố có hiệu lực. Viết chúng  ở thì hiện tại, những câu trọn nghĩa, những nguyên tắc thần học, mỗi câu đều khác biệt với nhau, dùng ngôn ngữ thích hợp với người nghe.

Bước 5. Chọn loại câu công bố phân bộ xứng hợp với bản tin và văn loại của bản văn và mục đích của bài giảng. Duyệt lại những cách diễn tả  thuộc về lịch sử, đề nghị, áp dụng thực hành, hay khuyến dụ.  

Bước 6. Kiểm lại những câu công bố phân bộ dò theo bản kiểm tra và viết lại nếu cần cho tới khi bạn hài lòng về sự trong sáng và chính xác bao nhiêu có thể.

Câu Hỏi Học Hiểu

  1. Những câu công bố phân bộ có nghĩa là gì?
  2. Nghệ thuật gì được tăng triển mạnh bởi việc thực tập viết ra các phân bộ?
  3. Liên hệ gì là liên hệ giữa tư tưởng bài giảng và các lời công bố phân bộ ?
  4. Có nghĩa là gì khi nói “ một hàng tư tưởng đi thẳng từ tư tưởng của tác giả tới bài giảng của vị giảng thuyết?
  5. Giải thích kiểu mẫu Vấn đề/bổ túc từ  các khẳng định thuộc tính.
  6. Nhận diện bốn kiểu viết những lời công bố phân bộ.
  7. Phân biệt giữa khuynh hướng chú trọng nơi con người và khuynh hướng chú trọng nơi Thiên Chúa ở các lời công bố phân bộ.
  8. Một số những hướng dẫn để phân tách cách tác giả làm việc với vấn đề là những cách gì?
  9. Tại sao các phụ điểm lại cần phải loại bỏ?
  10. Các vị giảng thuyết nên dùng những tiêu chuẩn tốt nào để kiểm chứng các câu công bố phân bộ?

Câu Công Bố Phân Bộ: Mục đích phần thực tập này là viết các phân bộ bài giảng rõ ràng và tuyên bố vấn đề giáo huấn trong bản văn.

Bản Văn:


  • Làm việc từ biểu đồ dàn lược và các quan sát.
  • Đi theo lối từ những công bố của bản văn đến các công bố của bài giảng.
  • Tìm xem tác giả làm việc thế nào với vấn đề.
  • Viết các công bố phân bộ bằng những câu trọn nghĩa.
  • Nắm chắc là các câu công bố phân bộ viết theo từ ngữ chìa khóa.
  • Biên soạn cho mỗi câu công bố phân bộ khác biệt rõ với nhau.

Viết tư tưởng bản văn như một câu trọn nghĩa ở thì qúa khứ với Vấn Đề/Bổ Túc Từ.

Viết tư tưởng bài giảng như một câu trọn nghĩa ở thì hiện tại với Vấn Đề/Bổ Túc Từ.

Viết lời tra khảo như một câu trọn nghĩa với Vấn Đề/Bổ Túc Từ.

Viết lời chuyển tiếp như một câu trọn nghĩa với Vấn Đề/Bổ Túc Từ và từ ngữ chìa khóa.


Liệt kê những khẳng định từ bạn đã tìm thấy trong bản văn khi tác giả trình bày vấn đề.

Viết các câu công bố phân bộ phản ảnh theo như tác giả trình bày vấn đề nhưng nói với người nghe ngày nay.
1. .................
2. .................
3. .................
4. .................
5. .................