12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 5

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Từ Bản Văn Đến Bài Giảng

Cầu Millau ở miền nam nước Pháp là chiếc cầu cao nhất thế giới. Chiếc cầu này được hoàn thành vào năm 2004, nằm trên thung lũng sông Tarn Valley trong vùng núi Massif. Đường cầu được treo như màng nhện thép được chăng giằng vào bẩy cây trụ được chôn móng từ thung lũng ở dưới. Cột trụ cao nhất là 300 thước. Mỗi ngày có khoảng hơn 25 ngàn xe chạy qua cầu, vượt qua thung lũng của sông Tarn. Cây cầu này thay thế con đường ngoằn ngoèo eo hẹp và thường kẹt xe giữa Paris và Barcelona. Cây cầu với những đường giây giăng giữa bầu trời cao đã trở thành một danh lam thắng cảnh thu hút khách du lịch.

Để đi từ phía bên này qua tới phía bên kia cầu, băng qua con sông trải rộng phân cách thành phố này với thành phố khác, con người đã trở thành những người kiến trúc cầu. Người ta nhìn qua bờ bên kia và mong ước xây cầu để đi qua bên đó.

Xây cầu là nghĩa bóng cho thách đố về việc giải thích mà chúng ta, những nhà rao giảng, phải đối diện. Chúng ta nhìn qua khoảng cách giữa ngày nay và thời của các nhà viết Thánh Kinh. Cho lợi ích của những người nghe chúng ta rao giảng, chúng ta phải đi qua bờ bên kia và đem về bên này bản tin đã được truyền đạt tới cho những người ngày xưa. Chúng ta đón nhận và công bố bản tin từ mấy ngàn năm về trước, ở một thế giới xa biệt và phân cách với chúng ta hàng bao nhiêu thế hệ, chỉ được nối liền mỏng manh qua những trang giấy in. Chúng ta phải lắng nghe cho dù ngôn ngữ khác biệt. Chúng ta phải hiểu cho dù văn hóa của họ khác biệt với văn hóa của chúng ta ngày nay. Chúng ta phải trung thành công bố bản tin, cho dù chúng ta không bao giờ trực tiếp gặp gỡ những người viết Thánh Kinh.

Việc hiểu và tường trình này chúng ta gọi là “giải thích Thánh Kinh.” Đây là một trong những công việc tiên khởi các vị giảng thuyết phải làm. Giống như một thông dịch viên từ thế giới này chuyển dịch tư tưởng của người khác, bạn cần cẩn thận lắng nghe và tường trình cách trung thực. Bạn để cho bản tin đã một lần được công bố xưa kia và bây giờ lại được công bố cho thế hệ ngày nay. Nhưng nó phải là cùng một bản tin. Sự nối tiếp phải được duy trì rõ ràng. Việc này được thực hiện tốt nhất bằng cách giảng trình bày và giải thích. Mục tiêu nhắm tới ở đây là có bản tin nguyên thủy của bản văn Thánh Kinh để dùng làm bản tin chính gốc của bài giảng.

Một cách nào đó, mỗi tác gỉa Thánh Kinh đều diễn tả bằng những lời được viết về Abel trong sự trung tín của ông đối với Thiên Chúa: “Nhờ tin như thế, mà tuy đã chết rồi, ông vẫn còn lên tiếng” (Do Thái, 11:4).Mọi người chúng ta cũng được kêu mời để kiện toàn lời của Chúa Giê-su nói với Tô-ma, “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 10:29). Những người viết đã chết, nhưng họ vẫn còn sống do việc họ trung tín tường thuật. Chúng ta những người ngày nay đọc mà không nhìn thấy sự trình bày của họ, nhưng chúng ta tin qua bản tin chúng ta nghe cách mới mẻ.

Những thực tập nơi các chương trước được tập trung ở các nghệ thuật tra xét bản văn theo lối đi vào từ chi tiết. Chủ đích của chúng ta là tìm tư tưởng chính của tác giả và xem nó được dùng như thế nào trong đoạn văn. Bây giờ sau khi điều đó đã được hoàn tất, chúng ta phải cẩn thận bác nhịp cầu giữa bản văn và bài giảng. Thực tập trong phần này là đi từ bản văn tới bài gỉang. Nghệ thuật chúng ta muốn củng cố là: Xây dựng một nhịp cầu giải thích để đem sự thật của bản văn vào việc trình bày sự thật đó nơi bài giảng. Ý tưởng trình bày trong bản văn phải được bảo toàn khi đem nó đi qua khoảng cách của ngôn ngữ, văn hóa, và lịch sử hầu để nó có thể được nghe một lần nữa ở thời đại ngày nay trong ý nghĩa nó được ủy thác mang theo.

Cái Gì Nối Kết Bài Giảng Và Bản Văn?

Chúng ta cho rằng một bài giảng hay phải có một bản văn. Ngay cả những bài giảng dở cũng nhìn nhận ít nhất nó có một bản văn. Nhưng chúng ta đã đặt câu hỏi cách riêng xem cái gì nối kết bài giảng với bản văn chưa? Có phải việc nối kết này chỉ là hình thức? Có phải chúng ta đọc bản văn Thánh Kinh cho bài giảng chỉ là đễ theo thói lệ tôn giáo? Chúng ta có dùng bản văn dẫn giải để làm cho bài giảng có tính cách hợp pháp lý cho dù bản văn chỉ đóng phần rất nhỏ trong đó?

H. C. Brown chủ trương rằng sự nối kết của bài giảng với một bản văn là căn bản cho quyền uy của bài giảng. Brown trình bày bốn uy quyền cho bài giảng được đặt trên lãnh vực nó phản ảnh vấn đề và mục đích của bản văn. Bài giảng trực tiếp có uy tín Thánh Kinh khi tư tưởng và mục đích chính của nó cũng giống như của bản văn. Quyền uy tín Thánh Kinh trở thành gián tiếp nơi bài giảng khi chủ đề phụ của bản văn được dùng như tư tưởng chính của bài giảng. Đi ra ngoài điều này thì bài giảng chỉ có quyền uy Thánh Kinh một cách sơ sài hoặc đôi khi có thể là sai lạc khi nó không phản ảnh tí nào tư tưởng và mục đích chính của bản văn.

Sự thật không thể nghi ngờ là sự nối kết giữa bản văn và bài giảng làm nên khác biệt quyền uy nơi bài giảng mà vị giảng thuyết rao giảng. Nếu chúng ta tin là Thánh Kinh có quyền uy đối với cộng đồng tín hữu, chúng ta cũng muốn việc rao giảng của chúng ta được rút ra từ uy quyền đó. Một người mang tin trung tín phải tường thuật điều họ được trao phó cách tín trung; họ không được công bố bản tin của cá nhân họ, cho dù họ nghĩ là nó hữu dụng.

Đôi khi nhiều bài giảng nối kết với bản văn cách lỏng lẻo. Giống như đường giây điện bị tuột lỏng, nó chỉ chớp chớp chứ không làm cho bóng đèn chiếu đầy đủ ánh sáng sự thật cách trung thực. Mục đích của chúng ta nơi việc học hiểu ở đây là gắn chặt lại sự nối kết này bao nhiêu có thể để bản văn nói qua bài giảng bằng bản tin của nó.

Một vài học giả ngày nay nghi ngờ về lợi ích và tính hữu lý cho người ngày nay nghe về bản văn cổ xưa từ một nền văn hóa khác. Họ đã đặt câu hỏi hay: Văn chương cổ của Do Thái có liên hệ gì cho đời sống của chúng ta ngày nay? Chúng ta hãy để ý đến vài liên hệ.

Rất có thể liên hệ giữa bản văn gốc và bài giảng ngày nay nằm ở thực cảnh. Nếu chúng ta nhìn thấy những hoàn cảnh xẩy ra trong bản văn cổ tương tự với hoàn cảnh thực của chúng ta, chúng ta có thể nhận ra bài giảng liên hệ với bản văn như thế nào. Bản văn nói về những tàn phá của chiến tranh có thể nói với chúng ta khi chúng ta sống ở thời điểm chiến tranh. Bản văn nói về việc đàn áp kẻ yếu bởi những người quyền thế có thể có liên hệ nếu chúng ta bị áp bức. Nhưng đây có phải là yếu tố tốt nhất để liên hệ bài giảng với bản văn?

Một liên hệ khác giữa bài giảng và bản văn có thể là nhu cầu con người. Nếu chúng ta thấy tác giả thánh vịnh buồn nản, chúng ta có thể liên hệ với cảm nghiệm của ông bởi vì chúng ta cũng cảm thấy giống như thế. Thật rõ ràng là con người ngày nay cũng vẫn giống con người cả ngàn năm trước. Kỹ thuật có thay đổi nhiều từ thời vua David, nhưng bản tính con người thì sao? Một bài giảng dùng bản văn về những chiến đấu chung của con người chắc chắn có thể tìm được người nghe trong thời đại ngày nay.

Có thể sự liên hệ giữa bài giảng và bản văn nằm ở cảm nghiệm thực tế. Hầu hết trong Thánh Kinh thuộc về kể chuyện. Những câu truyện của các người tin thời xưa có thể phấn khởi chúng ta trong đức tin ngày nay. Một cách nào đó, truyện của họ là truyện của chúng ta. Nếu vị giảng thuyết có thể đưa người nghe về thời điểm ngày xưa và dẫn họ vào câu truyện mà bản văn kể, tức là đã làm được sự nối kết. Có phải vậy không? Có phải cảm nghiệm chung trong xích mích gia đình là liên hệ giữa bài giảng và câu truyện của ông Abraham và bà Sarah?

Rao giảng không phải là giải thích đời sống của những người theo đạo cổ xưa và làm thế nào để chúng ta nên giống như họ. Hoàn cảnh thực của họ không phải là điều chúng ta thích thú. Cũng không phải là nhu cầu của họ khiến cho câu truyện đáng kể. Cũng không phải việc phiêu lưu của họ là điều quan trọng đối với cộng đoàn chúng ta ngày nay. Liên hệ giữa bản văn và bài giảng phải có nghĩa rõ ràng hơn là những điều này.

Liên Hệ Thần Học

Dù những liên hệ giữa bài giảng và bản văn này xem có vẻ hữu lý, cuối cùng chúng vẫn sai. Chỉ có một liên hệ chắc chắn giữa bản văn cổ và bài giảng thời nay. Đó là liên hệ thần học. Thánh Kinh là nguồn tài liệu lịch sử, nhưng mục đích chính của Thánh Kinh là thần học. Thánh Kinh có nói về tâm lý, nhưng căn bản cũng vẫn là thần học. Thánh Kinh cũng có đề cập đến những vấn đề xã hội, nhưng căn bản vẫn thuộc về thần học.

Khi nói Thánh Kinh căn bản là thuộc thần học, chúng ta có ý nói Thánh Kinh được viết ra để tỏ bày cho chúng ta về Thiên Chúa. Thần học là môn học về Thiên Chúa và cách Ngài đối xử với thụ tạo, cách riêng là với con người. Các tác giả Thánh Kinh đã viết để tỏ bày cho biết về Thiên Chúa và ý của Ngài. Lịch sử, thơ văn, tiên tri, Tin Mừng và các thư tông đồ tất cả đều nhằm mục đích truyền thông từ Thiên Chúa và về Thiên Chúa. Mặc dù bản tin được viết bởi con người cho con người, chủ đề chính không phải là con người.

Chỉ có thể liên hệ thần học giữa bản văn và bài giảng bởi vì Thiên Chúa không thay đổi. Hãy giả thử bạn thuyết giảng từ một tài liệu tôn giáo cổ xưa mà trong đó thiên chúa được trình bày lại khác với bản tính của thiên chúa thời nay. Nhưng Thiên Chúa của Thánh Kinh không bao giờ thay đổi bất cứ yếu tố nào nơi bản tính hay trong chủ đich sự sáng tạo của Ngài. Điều đó có nghĩa là bất cứ điều gì chúng ta có thể học biết về Ngài từ những cuốn Thánh Kinh cổ xưa thì ngày nay vẫn chân thật như vậy.

Một điều khác vẫn tiếp tục duy trì khiến cho việc giảng thuyết Thánh Kinh có thể thực hiện được đó là bản tính con người. Cho dù móc nối giữa bản văn và bài giảng không thể do ở nơi những hoàn cảnh hay cảm nghiệm nhân loại, chúng ta vẫn có thể biết chắc rằng những người gặp gỡ Thiên Chúa nơi các trang sách Thánh Kinh, họ cũng giống chúng ta. Họ cũng được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa. Họ cũng bị băng hoại bởi tội lỗi. Bản tin thần học cho thời của họ, đến từ một Thiên Chúa không thay đổi tới một đoàn thính giả nhân loại giống như họ, thì bản tin đó vẫn còn gía trị cho thời đại của chúng ta.

Bản Văn Tới Bài Giảng: Hai Câu Công Bố

Tư Tưởng Bản Văn: Tư tưởng chính của bản văn được viết ra gồm có Vấn Đề và Phụ Diễn Từ được công bố bằng một câu trọn nghĩa ở thời qúa khứ. Nó nói đến những yếu tố lịch sử có liên quan đến bản văn – tác giả hay người nói, những vai phụ diễn hay độc giả, văn giọng hay mục đích của đoạn văn, các hoàn cảnh được viết tới, và những nét văn chương đặc biệt.  

Tư Tưởng Bài Giảng: Cùng Vấn đề và Phụ Diễn Từ giống như ở câu viết cho tư tưởng của bản văn, nhưng ở thời hiện tại, lời công bố có tính cách chung hoàn vũ, không có những yếu tố lịch sử như trong câu viết cho tư tưởng của bản văn.

 

Ở lời mở đầu của phần này, chúng ta đã giải thích phương pháp cổ truyền dùng để đi từ bản văn đến bài giảng. Trong chương này, chúng ta sẽ làm việc thiết lập liên hệ thần học giữa bản văn và bài giảng bằng việc viết hai câu công bố riêng biệt. Câu thứ nhất là tư tưởng bản văn giới thiệu chân lý thần học của bản văn trong bối cảnh lịch sử. Câu thứ hai là tư tưởng bài giảng trong đó bạn viết ra tư tưởng thần học của bài giảng. Điểm chung trong hai câu này là Vấn Đề và Phụ Diễn Từ, chúng là trọng tâm của bản tin.

Hai câu khác sẽ được bàn tới ở chương sau. Những câu này được dùng để dẫn vào các phần của bài giảng. Câu thứ ba được gọi là câu vấn nạn, trong đó tư tưởng bài giảng được viết như một câu hỏi. Sau hết, bạn sẽ viết một câu chuyển tiếp như là một lời công bố mang trách nhiệm mở lối dẫn vào thân của bài giảng và vào các phần trong bài giảng.

Bốn câu nối nhịp cầu này đưa bạn đi từ tư tưởng của bản văn tới việc giảng bài giảng cách trung thực. Ta thừa nhận rằng tiến trình này coi như có vẻ máy móc. Tuy nhiên bạn sẽ nhận ra rằng những câu này giúp bạn đi đúng đường rầy. Chúng sẽ giữ cho tư tưởng của bạn trực chỉ đi từ bản văn tới bài giảng, và bạn thấy vững tin là bạn đang giảng bản tin thần học theo ý của bản văn. Những câu này cũng giúp cho người nghe theo dõi được bài giảng.

Tại Sao Hai Câu Riêng Biệt?

Tại sao lại là điều quan trọng để phân biệt giữa tư tưởng bản văn và tư tưởng bài giảng? Có bốn lý do để viết hai câu riêng biệt, dầu rằng chúng tương tự như nhau.

  1. Mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh đến từ những bối cảnh lịch sử riêng. Hãy nghĩ bản tin như là sự tỏ bày của Thiên Chúa được gói trong bộ áo lịch sử. Mặc dù Thiên Chúa đã tự tỏ mình ra trong những sinh hoạt của con người, Ngài có ý tỏ lộ các chân lý gía trị bất biến và toàn vũ. Gía trị bất biến có nghĩa là bản tin có ý dành cho mọi chi tộc và mọi dân tộc của nhân loại ở mọi thời đại. Không những Thiên Chúa đã chọn đi vào lịch sử nhân loại với mạc khải thánh; Ngài còn chọn dùng con người để truyền đạt ý nhiệm của Ngài. Mặc dầu các tác giả Thánh Kinh đã nói về những vấn đề liên quan đến thời điểm của họ, Chúa Thánh Thần đã mang chúng ta trong thiên ý của Ngài. Thiên Chúa không mạc khải chính Ngài ở một lỗ hổng, với những điều trừu tượng, nhưng ở giữa những phấn đấu cụ thể trong đời sống đức tin. Bối cảnh nguyên thủy không thể bị mần ngơ hay cắt bỏ mà không làm tổn hại đến mặc khải trong đó.
  2. Phân định bản tin thần học bất biến đòi phải để ý đến những hoàn cảnh lịch sừ riêng của bản văn. Hoàn cảnh của bản văn làm nên bản tin. Để hiểu bản tin của bản văn đòi phải làm việc với bối cảnh của bản văn. Những hoàn cảnh trong việc biên chép hết sức quan trọng khi nó trở nên một phần của bản văn. Để hiểu bản văn có nghĩa như thế nào ngày nay bắt đầu ở việc hiểu bản văn có ý nghĩa gì cho những người đón nhận nó lúc ban đầu. Bạn có ghể nghĩ đến cầu nối lần nữa, khi nối kết thế giới của bản văn với thế giới của vị giảng thuyết. Ở bên phía của bản văn là bản tin cá biệt. Một tác giả riêng, trong những hoàn cảnh riêng, nói với những người nghe riêng biệt, về những vấn đề riêng trong một ngôn ngữ riêng và ở một thời điểm lịch sử riêng . . . Nói như thế là bạn hiểu rồi. Chúng ta phải viết câu văn cho tư tưởng bản văn riêng hẳn ra với câu văn cho tư tưởng của bài giảng vì tính cách riêng biệt của bản tin trong bản văn.
  3. Bản tin thần học của bản văn phải được để riêng ra ngoài bản văn cho lời công bố rõ ràng. Để diễn bày điều Chúa Thánh Thần có ý nói với chúng ta trong bản văn Thánh Kinh, chúng ta cần phải phân cách bản tin ra khỏi những ràng buộc của lịch sử. Cho dù những hoàn cảnh ban đầu đã làm nên bản tin, chúng ta phải đi vào tâm điểm của giáo điều thần học đã làm siêu vượt hoàn cảnh đó. Một phần trách vụ của những người giải thích là phân cách bản tin chúng ta tìm thấy trong bản văn và đưa nó ra khỏi bối cảnh ban đầu hầu có thể công bố cho người ngày nay.
    Điều này không có nghĩa là chúng ta không nhắc tới hoàn cảnh của tác giả. Hình dung ra bối cảnh ban đầu cho thính giả của chúng ta là một điều quan trọng cho công việc truyền đạt. Nhưng chúng ta không đem ra một bài học về lịch sử. Chúng ta phải nêu lên chân lý chính của bản văn và công bố nó như một mặc khải chung và bất biến của Thiên Chúa nói với con người ngày nay. Đây chính là lý do chúng ta phải viết câu văn cho tư tưởng bài giảng riêng biệt với tư tưởng của bản văn.
  4. Bản tin riêng của bản văn trở nên riêng biệt cho thính giả ngày nay. Trong thực tế chúng ta không giảng bản văn Thánh Kinh. Chúng ta giảng tư tưởng từ bản văn Thánh Kinh. Chúng ta giảng bản tin của bản văn mà chúng ta đã phân định từ những lời của tác giả. Chúng ta tìm những bản tin thần học đã làm siêu vượt hoàn cảnh ban đầu. Nhưng bây giờ chúng ta phải công bố chân lý đó về Thiên Chúa và những ý muốn của Ngài cho người ngày nay. Chúng ta phải mặc cho bản tin trong bộ áo của văn hóa và thời đại ngày nay hầu cho những người nghe chúng ta có thể đón nhận và thi hành.
    Cho dù tư tưởng chính của bản văn trở thành tư tưởng chính của bài giảng, thính giả ngày nay cần nghe bản tin trong khuôn khổ những cảm quan của họ. Những cá biệt của bài giảng như việc giải thích, biện luận, thí dụ dẫn giải, áp dụng thực hành phải được xếp đặt để truyền đạt hữu hiệu nhất cho thính giả ngày nay. Cho dù chúng ta mời gọi họ hướng tâm về bối cảnh nguyên thủy của bản văn, chúng ta sẽ dẫn họ đi tới những áp dụng chân lý Thán Kinh cho đời sống của họ.
    Hy vọng là bạn nhận ra sư quan trọng là chúng ta không lẫn lộn giữa bản văn và bài giảng. Chúng ta là những người giải thích. Chúng ta chủ ý gần gũi với bản văn. Nhưng chúng ta phải chuyển dịch ý nghĩa của bản văn cho thính giả của mình. Chân lý thần học của bản văn Thánh Kinh thì luôn luôn thích hợp. Chúng ta không cần phải thay đổi để làm cho nó thích hợp. Nhưng nếu chúng ta không phân biệt giữa tư tưởng bản văn và tư tưởng bài giảng, chúng ta có thể làm mất chân lý thần học trong cái lộn xộn của lịch sử và những điều phụ thuộc tầm thường.

Tư Tưởng Bản Văn

Ở chương trước chúng ta đã nói về sự cần thiết để đặt tên cho tư tưởng của bản văn. Chúng ta nhận định chủ để thần học được tỏ bày qua những lời của tác giả. Chúng ta không áp đặt chủ để trên bản văn. Chúng ta không dùng bản văn để giảng một vài tư tưởng mình thích hay thính giả muốn nghe. Chúng ta không bới móc ra vài đề phụ hay đề cập đến vài bình luận và giảng theo đó. Ngay cả khi chọn một bản văn bởi vì nó đề cập đến một chủ đề riêng, chúng ta vẫn để cho lời của tác giả bản văn xếp đặt ra vấn đề và chủ đích của nó.

Tư tưởng của bản văn là câu văn được viết ra rõ ràng và chính xác nói lên tư tưởng của tác giả bản văn. Nó bao gồm những yếu tố trong hoàn cảnh lịch sử làm nên bản văn. Câu văn này cung cấp một mẫu mực để viết ra câu văn cho tư tưởng của bài giảng, nhờ đó bạn có thể nhận ra xem mình có để cho bản văn nói lên bản tin của nó hay không.

Việc đầu tiên phải làm để viết lên tư tưởng của bản văn trong một câu văn là khám phá ra vấn đề của bản văn. Vấn đề không được khám phá ra do phỏng đoán nhưng do việc cẩn thận nhìn vào những chứng tích trong bản văn. Nhưng một mình vấn đề không phải là một tư tưởng trọn nghĩa. Một tư tưởng trọn nghĩa phải có hai phần: Vấn đề và Bổ túc từ. Vấn đề là điều mà tác giả nói đến. Bổ túc từ là giới hạn lãnh vực điều tác giả nói.

Tư tưởng bản văn nên được trình bày ngắn gọn và gói ghém những yếu tố cần thiết. Nó phải là một câu nói về tư tưởng thần học căn bản của bản văn. Mọi phần của Thánh Kinh là lịch sử khi chúng ta bàn tới ở ngày nay; do đó tư tưởng bản văn được viết lên ở thời qúa khứ. Đây chưa phải là tư tưởng của bài giảng. Nó mới chỉ là một câu công bố về điều mà tác giả đã nói lên trong bối cảnh lịch sử của họ.

Có vài cách để gọi câu văn này. Chúng ta gọi nó là tư tưởng bản văn. Nó cũng có thể được gọi là tư tưởng phân giải hay tư tưởng chính của bản văn. Hãy để ý đến những tên gọi khác nhau này khi bạn đọc những sách của một số tác giả khác. Khi bạn gặp những lối làm việc khác nhau về tư tưởng bản văn bằng những tên khác, bạn cũng nên biết rằng có một số người không muốn phân biệt câu văn viết lên tư tưởng của tác gỉa bản văn với câu viết về tư tưởng bài giảng. Họ rất có thể chỉ gọi tư tưởng bài giảng bằng một trong những tên gọi ở trên hay gọi nó là chủ đề hoặc là đề tài.

Câu 1: Câu Công Bố Cho Tư Tưởng Bản Văn

Chúng ta đã nói rằng tư tưởng bản văn bao gồm Vấn Đề và Bổ Túc Từ nói lên ý tưởng của tác giả bản văn. Câu văn này gồm một số yếu tố lấy ra từ bối cảnh gốc được dùng để làm sáng tỏ bản tin của tác giả. Những yếu tố này cùng với nhau cung cấp cho chúng ta công thức để viết lên tư tưởng của bản văn. Hãy nhìn đến những yếu tố này để xem coi chúng có công dụng thế nào trong câu văn công bố.

Bao gồm tác giả, người nói, hay nhân vật chính trong câu văn công bố. Tính lịch sử của bản văn gốc có nghĩa là có một số nhân vật đã tham dự vào. Người thứ nhất được nói đến là chính tác giả của bản văn, cách riêng là các thư tông đồ, các thánh vịnh, các sách tiên tri, và  tài liệu về khải huyền. Trong những trường hợp này, tác giả là chính người trình bày trong cuộc. Trong những bản văn tường trình, người nói hoặc vai chính có thể là một nhân vật quan trọng làm nên bản tin. Hãy cho người này vào trong câu văn công bố.

Trong Tin Mừng, bạn có thể không chắc chắn để nói là chính tác giả là nhân vật chính, hay người nói hoặc một nhân vật trong đó. Bạn có thể nói cách nào cũng được. Nếu Đức Giê-su nói, bạn có thể viết: “Chúa Giê-su chỉ dạy các môn đệ của Ngài . . .”. Hay bạn có thể dùng tên của tác giả bản văn, “Gio-an giới thiệu Tin Mừng  . . . “ “Giê-rê-mi-a đã ghi nhận ơn Chúa gọi để trở nên tiên tri.”

Chú ý đến mục đích của tác giả hay giọng của bản văn trong câu công bố. Khi đọc bản văn, bạn có thể phân định mục đích của tác giả trong những lời được phát biểu. Ở các thư tông đồ, mục đích thường là khuyến dạy. Tác giả có chủ đích dạy về thần học. Đôi khi là việc khuyến khích; tác giả thúc dục người nghe trong đức tin hay trong thực hành. Các tác giả sách tiên tri cảnh báo chống lại tội lỗi và ngày phán xét. Tác giả thánh vịnh thường bày tỏ lời ca chúc tụng và kêu gọi những người khác ngợi khen Thiên Chúa. Các tác giả Tin Mừng thường nhắm vào các sự kiện để dẫn giải cho thấy Đức Giê-su là Con Thiên Chúa.

Những nhân vật chính trong bản văn cũng có thể nói lên mục đích trong những lời nói của họ. Trong những đoản văn tường thuật, cuộc đối thoại thường là chìa khóa cho việc giải thích. Bạn có thể nhìn qua văn cảnh để biết điểm chính của cuộc đối thoại là gì. Nhờ đó bạn có thể viết lên câu công bố cho tư tưởng bản văn như: “Đức Giê-su dạy dân chúng . . .” Hoặc “Đức Giê-su sửa dạy các môn đệ . . .” Bạn có thể viết, “Vua David chúc tụng Chúa . . .” Trong mỗi trường hợp, việc bạn xếp đặt vai vế cho giọng văn hay ý văn sẽ bày tỏ bản văn cách đầy đủ hơn.

Hãy nhắc đến các nhân vật phụ thuộc, những người nghe hay người đọc. Ngoài tác giả hay nhân vật chính của bản văn, còn có những độc giả, thính giả, và những nhân vật khác trong kịch bản. Với bài giảng ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, bạn có thể viết, “Phê-rô rao giảng cho nhóm người tụ họp đông đảo.” Sau đó bạn có thể tiếp nối với điểm chính của bản tin, đó là bản tin thần học của bản văn. Bạn có thể viết, “Phao-lô giải thích cho các tín hữu Roma rằng . . .”

Một số nhân vật phụ sẽ là những cá nhân; đôi khi là một nhóm người. Có lúc có tên; thỉnh thoảng lại chỉ được nhận diện cách chung chung. “Đức Giê-su trả lời những câu hỏi của người Pha-ri-siêu . . .” Joshua thách đó dân Do Thái . . .” “Đức Giê-su chỉ cho các môn đệ thấy nhu cầu của dân chúng . . .”

Quan tâm đến trường hợp bản văn được viết, hoàn cảnh và các bối cảnh. Các bối cảnh của bản văn có ảnh hưởng đến bản tin của một bản văn. Khi thánh Phao-lô viết từ trong nhà tù, bản tin của ngài về sự chấp nhận chịu đựng được mang nhiều ý nghĩa hơn. “Phao-lô viết từ trong nhà tù ở Rô-ma để chứng thực tinh thần bằng lòng chấp nhận trong Đức Ki-tô.” Hãy suy nghĩ xem nó bi thảm như thế nào trường hợp bản văn được viết ra với bản tin của các tiên tri trong Cựu Ước: “Khi nghe biết quân Chaldeans xâm chiếm tràn vào, Ha-ba-cuc đã bày tỏ niềm tin tưởng ở sự trung thành của Thiên Chúa.”

Trường hợp hay các bối cảnh có thể là ở phút cuối. “Ở giữa những lầm lẫn về luân lý, Phao-lô chỉ bảo các Kitô hữu Cô-rin-tô  rằng . . .” “Tác giả viết cho các tín hữu Do Thái để thuyết phục họ về Đức Kitô.” Những trường hợp này là một phần kết hiệp bản tin của bản văn gốc.

Bao gồm những yếu tố thích hợp với ý nghĩa của bản văn. Những yếu tố văn chương gồm những chủ đề xuất hiện nhiều lần, văn loại của bản văn, từ ngữ biểu tượng, hay những liên quan đến các biến cố hoặc các câu truyện. “Thánh Phao-lô đã dùng phân tách quân trang để thúc dục độc giả của mình đứng vững chiến đấu với địch thù.” “Tác giả thánh vịnh đã dùng hình ảnh người chăn chiên và đoàn chiên để dẫn giải . . .” “Đức Giê-su đã nhấn mạnh bằng việc nhắc lại nhiều lần những lời về Tình Yêu . . .” “Đức Giê-su đã dùng một chuỗi những tranh luận để nhấn mạnh về tính dại khờ vì lo lắng không tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa Cha.”

Đôi khi yếu tố văn chương  sẽ không phải là yếu tố chính của bản văn nhưng nên được đề cập đến. “Đức Giê-su giải thích cho Ni-cô-đê-mô về sự cần thiết phải tái sinh trong nước của Thiên Chúa.” Chủ đề nước Thiên Chúa được nói đến nhiều lần trong bản văn phải được phản ảnh trong câu công bố về tư tưởng của bản văn. “Trong bài ca cứu độ, Mi-ri-am đã ca bài ca chiến thắng của Thiên Chúa đối với dân Ai-cập. “Thánh Phao-lô đã dùng văn bản thánh ca để  thúc dục độc giả của mình học theo tinh thần khiêm tốn của Đức Giêsu.”   

Một Thí Dụ Cho Tư Tưởng Bản Văn

Ở Gio-an 3:1-8 Đức Giê-su đã nói với ông Ni-cô-đê-mô là ông phải được sinh ra một lần nữa. Rõ ràng vấn đề trong đoạn tin mừng này là sự sống mới, có nghĩa là sinh lại. Việc sinh ra một lần nữa ở đây là một diễn tả có nghĩa bóng. Đối với chúng ta nó cũng được hiểu là một diễn tả thần học cho việc sinh ra trong Thánh Thần, hay là việc cải thiện tinh thần. Tốt hơn là đừng dùng những cụm từ có nghĩa bóng cho vấn đề và bổ túc từ, nhưng hãy chuyển dịch nó sang những từ ngữ có nghĩa cụ thể. Ở đây, ý nghĩa thần học chứa đựng trong hình ảnh là điều bạn muốn nói đến trong vấn đề hay bổ túc từ; tuy thế, trong bài giảng, bạn nên định nghĩa rõ ràng từ ngữ có nghĩa bóng đó, và xử dụng từ ngữ bóng đó vì ảnh hưởng của nó.

Trong trường hợp này từ ngữ sự sống mới là vấn đề thần học cho dù nó không mang nặng ý nghĩa diễn tả việc tái sinh. Lúc này, chủ đích của chúng ta là nhận diện ý niệm cách rõ ràng và xác thực bao nhiêu có thể. Hiểu như thế, chúng ta chấp nhận vấn đề ở Gio-an 3:1-8 là sự sống mới. Đó chính là vấn đề Gio-an nói đến trong đoạn văn. Bây giờ chúng ta tìm bổ túc từ để biết xem Gio-an đã giới hạn vấn đề ngài nói đến như thế nào. Hai yếu tố này sẽ hoàn thành một tư tưởng. Nếu bạn đọc kỹ lại bản văn, bạn có thể nhận ra là Đức Giê-su nói cuộc sống mới là một điều cần thiết. Cần thiết chính là bổ túc từ cho vấn đề để hoàn tất tư tưởng.

Đến lúc này bạn hiểu “đời sống mới là điều kiện cần thiết” như là đề tài và là tư tưởng chính của bản văn. Mục tiêu bạn nhắm tới ở đây là cũng dùng tư tưởng này cho tư tưởng của bài giảng. Nó là ý tưởng được bày tỏ trong cuộc đối thoại mà Gio-an đã ghi chép lại. Bất kể những gì tiềm ẩn trong cuộc gặp gỡ ban đêm lịch sử đó, điểm chính về thần học trong câu truyện là sự cần thiết phải có đời sống mới. Thánh Gio-an ghi chép lại câu truyện này cho độc giả của ngài để nói cho họ biết rằng họ cần phải có sự đổi mới trong đời sống tinh thần, một việc tái sinh ban cho từ ơn trên.

Để viết ý tưởng như là một câu công bố, cách đơn giản là nhận diện các nhân vật hay tác giả và công bố điều bạn nhìn thấy như là tư tưởng chính gốc trong đoạn văn. Bởi vì nó là một tường thuật, chúng ta nhận diện các nhân vật trong câu truyện. Đức Giêsu và Ni-cô-đê-mô. Một nét văn được nhắc đi nhắc lại là “Nước Thiên Chúa.” Với tư tưởng chính (vấn đề và bổ túc từ), chúng ta quy hợp cả những yếu tố lịch sử này. Do đó tư tưởng bản văn có thể được viết như sau: “Đức Giê-su giải thích cho Ni-cô-đê-mô điều cần thiết phải có đời sống mới trong Nước Thiên Chúa.

Dẫu bạn có thể viết nó trong những cách diễn tả khác, bạn có thể nhận thấy chính bản văn xác định câu văn công bố như thế nào. Đây chính là điều mà bản văn nói đến; do đó nó cũng chính là điều tôi muốn bài giảng của tôi nói ra. Có câu văn công bố này được cẩn thận viết ra rồi, bây giờ chúng ta chuyển sang nhịp cầu nối tới tư tưởng của bài giảng.

Câu 2: Công Công Bố Tư Tưởng Bài Giảng

Người viết bài thuyết trình hay các bài giảng luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng có một tư tưởng như là chủ để cho bài thuyết giảng. Người thuyết giảng được khuyến khích cẩn thận viết ra một câu để nói lên tư tưởng chính. Có những từ ngữ khác nhau dùng để chỉ câu văn này. Có người nói nó là “đề tài” có người khác nói nó là “chủ đề” hoặc “luận đề.”

Khám phá và viết ra tư tưởng của bản văn là việc khó khăn. Nhưng khi bạn đã cẩn thận học hiểu bản văn theo lối đi vào từ chi tiết, nó không còn là việc khó khăn nữa. Bây giờ bạn muốn nói lên câu tư tưởng của bài giảng. Đây là câu chuyển dịch từ câu tư tưởng của bản văn. Chúng ta viết câu công bố tư tưởng bài giảng cho đoạn văn Gio-an 3:1-8 như sau: Đời sống mới là điều cần thiết trong nước của Thiên Chúa. Lời công bố đơn giản và thẳng thắn này là chân lý căn bản của bản văn, và do đó là chân lý căn bản cho bài giảng. Chìa khóa để bảo toàn chân lý này qua suốt đoạn đường giải thích là dùng chính những lời của Vấn Đề và Bổ Túc Từ cho tư tưởng của bản văn và tư tưởng của bài giảng.

Tư tưởng của bài giảng là một nguyên tắc phổ quát áp dụng được cho mọi người nghe, thay vì chỉ là một bản tin riêng cho những người nghe tác giả của bản văn mà thôi. Nó là một chân lý có gía trị vượt thời gian và có thể công bố cách vững vàng ở mọi thời đại thay vì chỉ là một lời công bố lịch sử ở thế giới của Thánh Kinh mà thôi. Do đó nó phải được công bố trong ngôn ngữ ở thì hiện tại như là một nguyên tắc phổ quát của thần học. Bạn phải có thể lấy tư tưởng bài giảng ra khỏi bài giảng và công bố nó như là một tư tưởng độc lập của chân lý thần học. Nó có thể tự đứng độc lập, đúng và rõ ràng, mà không cần có bài giảng và những gì xây dựng chung quanh bài giảng.

Khi đã được công bố rõ ràng, tư tưởng bài giảng hướng dẫn việc dọn bài giảng. Nên biết là tư tưởng chính của bản văn, đời sống mới/cần thiết, là tư tưởng chính cho toàn bài giảng. Nó có thể như là việc không cần thiết để viết tư tưởng của bài giảng cách cẩn thận như thế. Nhưng nó có thể là việc làm quan trọng nhất của việc dọn bài giảng. Cho tới khi câu văn công bố này được hoàn thành cách rõ ràng, bạn không biết bài giảng nói gì và sẽ đi tới đâu.

Trong Sáng Thế Ký 3:1-7 tường thuật về cuộc gặp gở giữa bà E-và và Con Rắn khi bà E-và và A-dong bị lừa để ăn qủa trái cấm. Mặc dù từ ngữ ‘cám dỗ’ không có ở trong bản văn, nó là chữ hay để đặt tên cho vấn đề. Với ‘bổ túc từ’ chúng ta tìm sự giới hạn mà tác giả có ý nói về vấn đề như câu truyện được kể lại. Vì bản văn này được Gia-cô-bê giải thích rất rõ trong Gia-cô-bê 1:14 (Nhưng mỗi người có bị cám dỗ, là do dục vọng của mình lôi cuốn), có thể chúng ta dùng từ ngữ ‘lôi cuốn’ làm bổ túc từ. Như thế chúng ta có Cám Dỗ/Lôi Cuốn làm Vấn Đề và Bổ Túc Từ. Đề tài để làm việc là “Sự lôi cuốn của cám dỗ.”

Tư Tưởng Qúa Khứ và Bây Giờ
Tư Tưởng Bản Văn
Điều tác giả nói
Đặt nền ở Vấn Đề/Bổ Túc Từ
Được viết thành câu văn
Một lời công bố thuộc lịch sử
Thuộc một trường hợp riêng
Một quan niệm thần học
Tư Tưởng Bài Giảng