12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 4

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Đặt Tên Cho Tư Tưởng Của Bản Văn

Đặt tên cho các loại là vấn đề tự nhiên. Nếu những gì ở chung quanh chúng ta không có tên gọi, chúng ta gặp khó khăn để nói về chúng. Trong vườn địa đàng, Thiên Chúa đã dựng nên các loài thú vật, chim chóc và để cho A-dong đặt tên cho chúng. Do đó A-dong và dòng dõi của ông từ đó đã tiếp tục đặt tên cho các vật chung quanh họ.

Súc vật và thảo mộc được chúng ta nhận ra do bởi chúng có tên gọi thông dụng, nhưng chúng cũng có những tên gọi theo gốc La-tinh. Hoa hướng dương có gốc là Helianthus. Hoa Hiên, tiếng Anh là Daylilies. Nó được gọi như thế bởi vì nó chỉ nở hoa trong vòng một ngày. Tiếng La-tinh gọi nó là hemerocallis.Hàng trăm loại hoa hồng, mỗi loại đều có tên riêng. Thi sỹ nói là “Bông hồng dù có trăm tên vẫn là hồng.” Tuy thế mỗi loại vẫn phải có một tên riêng để phân biệt.

Con người (homo sapiens) đặt tên cho mọi giống loại – các lục địa, sông ngòi, biển khơi, đá sỏi, các tinh tú, và các rừng núi, các khu nhà, đường xá và mọi con trẻ. Không những chúng ta đặt tên cho mọi hiện tượng thiên nhiên, chúng ta còn đặt tên cho các ý tưởng. Chúng ta đặt tên cho những thái độ như kiêu căng hay cảm thông. Chúng ta cũng đặt tên cho các trạng thái như nghèo túng, hay giầu sang. Chúng ta đặt tên cho những đức tính như, can đảm, hay thật thà. Chúng ta đặt tên cho những lý tưởng như, tự do, hay dân chủ hoà bình. Không có tên gọi chúng ta sẽ không thể nói về những ý tưởng này.

Là những nhà giảng thuyết, chúng ta muốn nói về những tư tưởng thần học. Nhưng những tư tưởng này không có tên. Người giải nghĩa Thánh Kinh không đòi phải sáng tác ra những tên mới cho các ý tưởng họ gặp thấy trong bản văn. Nhưng để nói về những tư tưởng đó, họ phải nhận diện chúng cách chính xác bao nhiêu có thể. Việc họ phải làm là tìm ra từ những lời trong bản văn xem tác giả nói về điều gì và tìm cho nó một từ ngữ hay tên gọi để thông đạt ý tưởng đó tới thính giả của mình.

Ý Nghĩ và Ngôn Ngữ

Người ta thường cho rằng ngôn ngữ có thể mang theo những ý nghĩ trong đầu óc của chúng ta  cách chính xác và rõ ràng tới đầu óc của những người khác. Thực ra chúng ta chỉ thành công một phần nào thôi. Điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ không thể đóng vai trò thông đạt chính xác, nhưng mà là chúng ta dễ dàng dùng những từ ngữ mà không luôn luôn nghĩ tới các thính giả khi chúng ta chọn các từ ngữ. Là những nhà rao giảng, chúng ta phải làm bổn phận của mình cách thận trọng. Chúng ta không thể hài lòng với một lối diễn tả mập mờ thiếu trong sáng về điều chúng ta tin là Thiên Chúa muốn truyền đạt.

Trong lối thông tin truyền khẩu, người thông tin có trách nhiệm nặng hơn để thông đạt tư tưởng tới người nghe. Chúng ta đặt kỳ vọng nơi vị giảng thuyết phải lấp hết khoảng cách để móc nối với người nghe hầu có thể hoàn tất việc truyền đạt. Người nghe thường đóng vai thụ động, và họ đặt kỳ vọng là vị giảng thuyết phải trình bày trong sáng và hứng thú.

Định Nghĩa: Suy Nghĩ Mập Mờ

Sự thất bại trong việc giảng thuyết là suy nghĩ mập mờ thiếu trong sáng. Vị giảng thuyết không hiểu rõ vấn đề và các tư tưởng trình bày vấn đề. Ngôn ngữ dùng không chính xác. Tiến trình suy nghĩ vòng vo quanh quẩn tìm hướng đi. Nguyên do của sự mập mờ không vững vàng truyền đạt trong việc giảng thuyết là không nhận diện ra được tư tưởng chính của tác giả trong bản văn và việc tác giả trình bày tư tưởng đó như thế nào. Nếu vị giảng thuyết không nắm vững được vấn đề, thì những người nghe họ lại càng không biết họ nói cái gì. Chìa khóa cho việc suy nghĩ trong sáng là biết dùng ngôn ngữ cẩn thận và chính xác.

                                                                                                                                                             

Thông thường việc xử dụng từ ngữ và ý tưởng rất gắn liền với nhau đến nỗi khó có thể phân cách ra. Ý tưởng dùng từ ngữ để trình bày, nhưng khi ý tưởng không vững chắc cũng được làm sáng tỏ nhờ biết dùng từ ngữ. Những tư tưởng mập mờ luôn luôn liên can đến ngôn ngữ mập mờ. Các vị giảng thuyết cũng không tránh khỏi vấn đề rối reng này. Yếu điểm lớn nhất của các vị giảng thuyết là suy nghĩ mập mờ không rõ ràng. Ý nghĩ sắc bén và chính xác bị mất đi trong một loạt những lời nói bóng bảy, vô vị và “nói để mà nói” mà những lời đó chỉ mang âm giọng hay hơn là truyền đạt tư tưởng cách trong sáng rõ ràng.

Ngôn ngữ không những chỉ là phương tiện truyền đạt tư tưởng; nó còn là một trợ giúp quan trọng trong tiến trình suy nghĩ. Các tư tưởng suy nghĩ thường chưa rõ ràng và còn bấp bênh cho tới khi chúng được mặc những bộ áo của ngôn ngữ. Nói cách đơn giản, bạn có thể chưa biết chắc điều mình suy nghĩ cho đến khi bạn dùng các từ ngữ để nói lên tư tưởng của mình. Điều tôi nói có thực hay không? Và thính giả có hiểu điều tôi nói không? Trong chương này chúng ta học khám phá ra tư tưởng chính của tác giả trong bản văn và dùng từ ngữ chính xác để đặt tên cho tư tưởng của bản văn.

Tài Khéo của Người Thợ

Verne Girfith of Bearerton, ở Oregan, là thợ tiện gỗ. Ông thích gỗ, ngắm nhìn gỗ, mân mê gỗ, ngửi mùi vị của gỗ. Ông thu góp các miếng gỗ đủ loại và xếp chúng ở các kệ trong kho. Ông có thể lấy một khúc gỗ và khoe với người khác về nó cách ngưỡng mộ: “Đây là khúc gỗ sim. Nó chỉ được tìm thấy ở hai địa điểm là Đất Thánh và nơi miền tây bắc này. Hãy nhìn những vằn gỗ xem nó đẹp biết chừng nào!”

Ông Verne làm khung đồng hồ và tiện các bát gỗ, đĩa gỗ và nhiều loại đồ gỗ khác. Ông biết trước trong trí các thứ này có hình dáng như thế nào trước khi ông khởi sự, nhưng chỉ trong khi làm thì nó mới được thành hình thực. Ông gắn chúng vào với nhau thành những hình thù trông rất lý thú. Rồi ông quay sang việc ghép vào một cái bát hay cái đĩa. Khi làm xong, cái đẹp tự nhiên của gỗ tỏ lộ ra cùng với những hạt tấm nhỏ hoà với màu sắc.

Là những nhà truyền thông chuyên nghiệp, chúng ta được gọi trở nên những thợ ghép từ ngữ. Có những sự khéo léo đòi hỏi nơi mọi loại thợ. Bạn cần phải hiểu những vật dụng bạn dùng, những chức năng và giới hạn của nó. Bạn cần phải khéo léo trong việc xử dụng các dụng cụ cần thiết đối với nghề đó khi bạn sửa soạn và hình thành vật liệu của mình. Bạn cũng muốn biết khéo léo kết hợp các phần trong công nghệ của bạn để hoàn thành sản phẩm vơí những nét bóng bảy, mịn màng, sống động và mầu sắc hấp dẫn.

Bạn có phải là người thợ ghép từ ngữ không? Bạn có yêu thích các từ ngữ không? Bạn có thích nhìn nó, cảm nó, và âm vang của nó không? Bạn có cảm phục cách đan dệt, sắc thái và nét độc đáo của các từ ngữ  không? Bạn có biết khéo léo xử dụng những phương tiện - tự điển, tự điển toàn thư, tự điển những tiếng đồng nghĩa, tự điển Thánh Kinh, điển ngữ thần học, sách dẫn các đề mục- để  giúp bạn xử dụng từ ngữ không? Bạn có thể phân biệt một từ ngữ này với một từ ngữ khác và cho biết mỗi từ ngữ được xử dụng như thế nào không? Bạn có lục lọi để tìm từ ngữ chính xác không? Hay là bạn chỉ nhặt bất cứ từ ngữ cũ nào đó và dùng nó để gây thêm rối loạn cho người nghe?

Xin nhấn mạnh một lần nữa, lầm lỗi lớn nhất của việc giảng thuyết là suy nghĩ  mập mờ. Chúng ta có thể nói những điều tốt. Một số tư tưởng có thể là hữu ích. Chúng ta có thể là dùng bản văn. Nhưng ngay cả với những lợi điểm đó, chúng ta vẫn có thể thấy mình đi lang thang trong miền đất hoang và không biết lối đi về miền đất hứa của sự suy nghĩ trong sáng. Ngay cả nếu cách giảng của chúng ta có hấp dẫn, việc chính vẫn là nội dung. Tôi có gì đáng để nói không? Và các thính giả có nắm bắt được điều tôi nói không?

Để trở nên người thợ từ ngữ đòi phải có khả năng suy nghĩ sắc bén. Suy nghĩ sắc bén có nghĩa là phân tích các ý nghĩ, xếp loại các tư tưởng, phân biệt một ý niệm này với ý niệm khác, phẩm định các tranh luận, và biết phán quyết tìm cách hay nhất để trình bày tư tưởng. Nó đòi hỏi  có những trình độ chính xác và tài dùng từ ngữ không có trong cách suy nghĩ bình thường. Bạn muốn tìm những từ ngữ diễn tả chính xác tư tưởng. Bạn muốn phân biệt nó với những tư tưởng tương tự nhưng không thực sự giống nhau, như một vài chữ cho việc rao giảng: Công bố, tuyên bố, tuyên dương, tuyên nhận. Đây là loại suy nghỉ cần thiết cho các vị giảng thuyết ngày nay.

Thực sự là không luôn luôn dễ dàng để giữ khách quan, nhưng chúng ta cần cố gắng. Chúng ta cần phải tránh việc đưa tư tưởng riêng của mình vào bản văn. Mục đích của chúng ta là để cho bản văn nói với chúng ta. Khi chúng ta nghe điều bản văn nói, chúng ta nhận định tư tưởng của bản văn. Chủ đề đó sẽ trở nên tư tưởng cho bài giảng. Điều này sẽ đưa đến việc thử tài dùng từ ngữ của bạn.

Một Khái Niệm Cần Phải Có Tên

Một khi tư tưởng của bản văn bắt đầu xuất hiện từ việc học hiểu theo lối đi vào từ chi tiết của bản văn, bạn đối diện với thách đố tiếp theo là đặt tên cho tư tưởng bản văn. Điều này nghe hơi lạ. Tại sao chúng ta lại phải đặt tên cho tư tưởng bản văn? Tại sao không gọi chính nó như ta thấy? Có phải chúng ta muốn tạo một tên để làm ra vẻ ta đây? Chả nhẽ tư tưởng không rõ ràng hay sao mà còn cần phải đặt tên cho nó?

Tôi thích ngắm nhìn chim trời và muốn học biết thêm về các loài chim trong vùng tôi sống. Khi vợ tôi hỏi tôi đã ngắm nhìn cái gì sáng nay khi ngồi uống ca-fê ngoài hiên, tôi không nói là tôi nhìn “súc vật.” Nói như thế thật không rõ ràng. Tôi cũng không muốn nói là tôi nhìn “chim bay.” Nói như thế cũng vẫn không rõ. Tôi cũng không nói là tôi nhìn “các con chim nó bay.” Nói như thế cũng vẫn mập mờ. Những con chim đó có tên để gọi. Do đó tôi dùng chính tên của chúng. Tôi có thể trả lời, “một con chim sáo” hay “một con chim chào mào.”

Đặt tên cho tư tưởng bản văn, có nghĩa là bạn phải xác định một danh gọi cho nó. Bạn phải chọn từ ngữ để diễn tả tóm lược chính xác tư tưởng trong bản văn bằng từ ngữ. Những từ ngữ dùng để đặt tên cho tư tưởng không phải là tư tưởng. Những từ ngữ đó chỉ là những nhãn hiệu hay những dấu chỉ hay tên gọi chúng ta đặt cho tư tưởng để phân biệt nó cách rõ ràng và riêng biệt. Ý tưởng về lòng Chúa thương xót và những từ ngữ chúng ta dùng để nói về lòng Chúa thương xót, cả hai đều không phải là thực tế về tính thương xót của Chúa. Tình Chúa thương xót là một thực tế cho dù chúng ta có nghĩ đến hay không nghĩ đến.

Tìm đúng từ ngữ để đặt tên cho tư tưởng của bản văn là một việc làm khó khăn, nhưng có những lý do quan trọng cần phải có nó cho việc dọn bài giảng.

Lý do thứ nhất phải đặt tên gọi chính xác cho tư tưởng của bản văn là để bảo đảm rằng nó phản ảnh điều tác giả Thánh Kinh nói. Bạn muốn biết xem điều bạn hiểu cũng là vấn đề tác giả thực sự bàn luận đến. Chúng ta biết chắc là có ý tưởng nằm trong bản văn khi tác giả viết nó. Chúng ta có dùng những từ ngữ xứng hợp hay không để đặt tên cho tư tưởng của bản văn, điều đó không có ảnh hưởng gì đến tư tưởng của bản văn. Tư tưởng đó nằm trong trí óc của tác giả và nó được viết ra ở những từ ngữ trong bản văn. Nhưng bạn sẽ không bao giờ biết chắc là mình đã nắm bắt được nó cho đến khi bàn đặt tên gọi cho tư tưởng đó.  

Lý do thứ hai bạn cần cẩn thận đặt tên cho tư tưởng của bản văn để định nghĩa nó cách chính xác trong đầu óc của bạn. Trừ khi nó được định nghĩa chính xác bởi việc cẩn thận chọn lựa các từ ngữ, ý tưởng sẽ tiếp tục mập mờ không rõ ràng trong suy nghĩ của bạn và có thể bị lẫn lộn với những ý niệm tương tự. Bạn có thể biết ý tưởng có đó. Bạn “biết” nó trong trí não. Nhưng bạn không thấy nó rõ ràng cho tới khi bạn đặt tên cho nó. Bạn tiếp tục làm việc cho tới khi tìm được những từ ngữ chính xác để đặt tên cho tư tưởng  và lúc đó bạn nói, “đúng rồi!” Nó cũng giống như nhìn vào một đống hình ảnh cho đến lúc bạn nhìn thấy hình một người mà bạn biết và bạn nói, “Ô! tôi biết người này!”

Lý do thứ ba bạn cần đặt cho tư tưởng bản văn một tên gọi chính xác là để bạn có thể dùng cùng những từ ngữ đó trong tư tưởng của bài giảng. Mục tiêu chúng ta nhắm tới là có thể dùng tư tưởng của bản văn cho tư tưởng của bài giảng. Sau đó thì tư tưởng cho bài giảng sẽ là ý tưởng hướng dẫn viết ra những câu trong các phần của bài giảng. Chúng ta muốn có một luồng tư tưởng đi thẳng từ bản văn đến bài giảng. Làm thế nào chúng ta có thể giảng được tư tưởng của bản văn, trừ khi chúng ta tìm được những từ ngữ chính xác để nhận định ra tư tưởng của bản văn?

Viết Tư Tưởng Bản Văn

Một tư tưởng có thể được viết ra bằng việc chia ra những phần phụ của tư tưởng. Điều này giúp bạn nhận định ra tư tưởng chính của bản văn. Tư tưởng chính này sẽ trở thành tư tưởng của bài giảng. Cho dù điều tốt nhất là viết tư tưởng của bản văn và tư tưởng của bài giảng bằng trọn hai câu văn, ý tưởng chính của những câu văn đó có thể diễn tả bằng hai từ ngữ. Đề tài của một bài giảng được viết bằng một từ ngữ thì qúa là tổng quát. Một vấn đề chung chung có thể được  nhắm vào một tư tưởng chính bằng việc dùng một một từ phụ diễn để giới hạn phạm vi của nó. Do đó, việc viết ra tư tưởng của bản văn gồm có một vấn đề và một phụ diễn đề.

Một tư tưởng chưa hẳn là tư tưởng trừ khi nó được viết ra thành một vấn đề với một phụ diễn đề. Vấn đề nói lên chủ ý chính. Phụ diễn đề xác định phạm vi của vấn đề. Khi nói đến vấn đề của của bản văn, chúng ta có ý nói về chủ đề của nó bằng một từ ngữ để có thể trả lời cho câu hỏi, “Tác giả nói về vấn đề gì?” Vấn đề có thể là “tình yêu,” nhưng vấn để tình yêu qúa bao quát. Nó muốn bao gồm rộng lớn hơn là bản văn trình bày. Do đó chúng ta phải giới hạn và định nghĩa vấn đề “tình yêu” theo như giới hạn trong bản văn.

Yếu tố giới hạn trong việc hình thành tư tưởng đó gọi là phụ diễn đề. Phụ diễn đề gỉải thích giới hạn của vấn đề bằng việc trả lời câu hỏi, “Tác giả giới hạn phạm vi vấn đề được nói đến như thế nào?” Bởi vì tác giả không có ý nói tất cả những gì có thể nói về vấn đề đó, như vậy tác giả giới hạn vấn đề ở điểm gì?

Trong thí dụ ở thư thứ nhất gởi Cô-rin-tô chương 13, chúng ta thấy vấn đề chủ yếu là tình yêu. Đó là vấn đề tác giả nói đến. Bây giờ chúng ta phải đặt câu hỏi xem tác giả giới hạn việc nói về tình yêu như thế nào. Việc học hiểu bản văn theo lối đi vào từ chi tiết khiến chúng ta để ý đến đoạn mở đề của Phao-lô với những lời như sau: “Đây tôi chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (1Cor. 12:31). Từ lời tuyên bố đó và giọng điệu của bản văn, chúng ta có thể kết luận rằng tác giả có ý giới hạn ở “trổi vượt.”

Nếu chúng ta cho rằng vấn đề chính là tình yêu và phạm vi giới hạn trong việc bàn luận về tình yêu là sự trổi vượt, chúng ta đã có một vấn đề và một phụ diễn đề. Chúng ta có viết ngắn gọn là vấn đề/phụ diễn đề”, trong trường hợp này là “tình yêu/trổi vượt.” Do đó tư tưởng bản văn của chúng ta ở đây là “Sự trổi vượt của tình yêu.” Chúng ta lấy tư tưởng này ở đâu ra? Dĩ nhiên là từ những lời của tác giả. Nó không phải chỉ là tình yêu nhưng mà là trổi vượt của tình yêu. Tình yêu luôn luôn là một chủ đề phong phú, nhưng thêm chữ trổi vượt vào làm cho nó có nghĩa riêng để diễn tả một tư tưởng thực thú vị.

Định Nghĩa: Tư Tưởng Bản Văn

Tư tưởng bản văn là một ý niệm rút ra từ những lời của tác giả bản văn Thánh Kinh. Vị giảng thuyết coi đó là bản tin tác giả có ý nói với đọc giả của mình. Tư tưởng bản văn được chỉ định do hai chữ được chọn cẩn thận là “vấn đề” và “phụ diễn đề”.

Tìm một chữ cho “vấn đề” chính là trả lời câu hỏi: “Tác giả nói về điều gì?” Nó là đề tài nổi bật nhất trong bản văn. Một chữ phụ diễn đề là từ phụ. Từ phụ xác định vấn đề chính. Nó trả lời câu hỏi, “Tác gỉa giới hạn phạm vi vấn đề được nói đến như thế nào?”

Hai vấn đề chính và phụ này đối với vị giảng thuyết là nhận định chính xác bao nhiêu có thể về tư tưởng được trình bày trong bản văn. Lời công bố về tư tưởng của bản văn phải được viết thành một câu trọn nghĩa ở thời qúa khứ. Câu này bao gồm một vấn đề và một phụ diễn đề với bối cảnh lịch sử từ bản văn. Vấn đề và phụ diễn đề của tư tưởng bản văn trở nên vấn đề và phụ diễn đề cho tư tưởng bài giảng khi bản văn hình thành bài giảng. 

Đây là một cách rất hay giúp để hiểu sự khác biệt giữa một vấn đề và một tư tưởng. Việc thực tập này muốn bạn tìm chọn một vấn đề để trả lời câu hỏi, “Tác giả nói điều gì?” Khi bạn thấy hài lòng là đã nắm bắt được điều tác giả có ý nói, lúc đó bạn thêm lời phụ diễn để giới hạn phạm vi của vấn đề, và hoàn tất tư tưởng.

Tra Tìm Tư Tưởng Bản Văn

Cộng việc bạn đã làm ở phần phân tích ý nghĩa bản văn bây giờ sẽ là nguồn tài liệu giúp bạn đặt tên cho bản văn. Bạn sẽ nhìn lại biểu đồ dàn lược bản văn, những quan sát trực thị, những câu hỏi tra khảo để được hướng dẫn trong việc chọn lựa từ ngữ chính xác nhất nói lên ý tưởng chính của tác giả. Những việc bạn đã làm ở các phần thực tập trước có thể làm cho ý tưởng hiển hiện rõ ràng. Đây là sáu hướng dẫn để đi đến việc viết ra ý tưởng chính.

  1. Cẩn thận cân nhắc tất cả các chủ đề thần học trong bản văn để hiểu biết ý tưởng chính. Công việc nhận diện một vấn đề và một phụ diễn đề để đặt tên cho ý tưởng của bản văn thì  phức tạp vì những chủ đề thần học trong bản văn. Chủ đề thần học nói ở đây là những vấn đề thần học chung bạn thấy trong các bản văn Thánh Kinh. Khi bạn nhìn vào bản văn trước mặt, bạn có thể thấy những chủ đề như: Đức Tin, Vâng Lời, Ơn Thánh, Tội, Tình Thương v.v.. Với nhiều chủ đề như thế, bạn phải chọn xem chủ đề nào trổi vượt, và những chủ để khác phụ vào như thế nào? Hãy để ý cách riêng đến các chủ đề được nhắc đến nhiều lần. Ở phần thực tập biểu đồ dàn lược, chúng ta đã tô mầu làm nổi bật những từ ngữ có nghĩa đặc biệt trong bản văn. Những từ ngữ này làm nổi ý nghĩa của bản văn. Chú ý nhìn ở biểu đồ những tư tưởng mà tác giả để ý ủng hộ nhiều. Thí dụ từ thư thứ nhất của thánh Phê-rô ở chương 3 rõ ràng nói đến cả một loạt vấn đề tác giả muốn nhấn mạnh đến. Những ý tưởng được sự để ý ủng hộ nhiều nhất là những ý tưởng quan trọng trong bản văn. Ngoài ra, ở phần thực tập quan sát nhận định, chúng ta đã viết ra những câu trọn nghĩa cho mỗi tư tưởng thần học như nó được bày tỏ trong bản văn. Những câu này được tạo ra để mang vào những từ ngữ chính xác cho các ý tưởng trong bản văn và cho thấy chúng liên hệ với nhau như thế nào. Nhìn lại những câu đó, bạn sẽ thấy rằng chúng ta đã dọn nền cho việc đặt tên cho tư tưởng bản văn.
  2. Tra xét bối cảnh của đoạn văn sẽ giúp nhận ra tư tưởng chính của tác gỉa. Từ ngữ bối cảnh dùng ở đây có nghĩa là cách hành văn, vị trí của bản văn trong một chương, cuốn sách, những tác phẩm của tác giả và cả toàn bộ Thánh Kinh. Chúng ta đã nhận ra những từ ngữ nổi bật trong bản văn có mang ý nghĩa thần học. Nhưng mỗi từ ngữ của Thánh Kinh mang nhiều ý nghĩa. Khi chúng ta nhìn vào một từ ngữ đứng riêng một mình nó, chúng ta không biết chắc được ý nghĩa của nó. Điều mà tác giả có ý áp dụng cho từ ngữ đó chỉ có nghĩa rõ ràng trong câu văn, trong đoạn văn, trong một phần hay trong toàn cuốn sách. Chúng ta cần phải dùng cả nhóm từ ngữ để hiểu rõ điều tác giả có ý nói gì về mỗi từ ngữ đó.
    Ngoài việc định nghĩa những chữ nổi bật, bối cảnh là cần thiết để phân nhận ra tư tưởng chính của tác giả. Gia-cô-bê 1:2-4 có nhiều chủ đề hay trong đó như: niềm vui, thử thách, đức tin, trưởng thành, kiên nhẫn, hoàn hảo. Điều nào trong những điều này có thể là chủ đề chính? Hãy nhìn vào bối cảnh. Câu trước đó là lời chào của Gia-cô-bê gởi tới các chi tộc sống tản mác khắp nơi. Chú ng ta hỏi, “Tại sao họ lại tản mác?”  Họ tản mác vì bị bắt bớ.
    Phần tiếp theo bắt đầu bằng, “Nếu ai trong anh em thiếu khôn ngoan . . .” Sự thiếu khôn ngoan liên hệ như thế nào với các câu 2-4? Có phải thời gian thử thách khó khăn kêu gọi họ nhìn các vấn đề từ quan điểm của Thiên Chúa? Có lẽ bối cảnh ở đây cho là các thử thách là chủ đề chính. Phụ diễn đề là việc ứng xử. Do đó bạn có thử thách/việc ứng xử. Hay ứng xử trong các thử thách là tư tưởng của bản văn.
  3. Nhìn cẩn thận vào bất cứ điều gì tác giả có ý nói để hiểu được ý chính của tác giả. Chúng ta đã đề cập đến ý của tác giả trong bản văn là chìa khóa giúp giải thích Thánh Kinh cách trung thực. Bất cứ khi nào chúng ta có ý gán ghép ý  nghĩa vào bản văn thay vì để cho bản văn nói lên ý nghĩa của nó, là lúc đó chúng ta cản trở tiến trình giải thích.
    Mục đích của tác giả có thể được thấy ở chủ đề của cuốn sách. Bạn sẽ tra xét những điểm riêng biệt của cuốn sách để khám phá ra mục đích đó. Tiếp theo là bạn dùng mục đích đó như là một tham khảo cho việc giải thích mỗi phần của bản văn. Ý của tác giả nơi mỗi đoạn văn phải được hiểu theo chủ ý của tác giả cho toàn thể cuốn sách. Bạn phân định chủ đề chung từ những nét riêng biệt của cuốn sách và rồi áp dụng chủ đề đó vào việc giải thích mỗi phần để đặt nó vào một bối cảnh rộng hơn.
    Bởi vậy, chúng ta đặt câu hỏi, “Tại sao bản văn này lại ở chỗ này?” “Chủ ý nó muốn nói cái gì?” Trong Lu-ca 18:1 tác giả đã làm nổi bật chủ ý của mình và của Đức Giê-su: “Đức Giê-su kể cho họ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản lòng.” Đây là một lời tuyên bố chủ ý rõ ràng của tác giả. Điều mà Đức Giêsu và Lu-ca có ý nói về dụ ngôn thì rõ ràng; do đó nhận diện vấn đề ở đây không khó khăn. Vấn đề ở đây là việc cầu nguyện.
    Khó khăn ở đây là tìm phụ diễn đề. Nhưng hãy nhìn vào chủ ý của tác giả thêm lần nữa. Tác giả đã nói là phải cầu nguyện luôn và không được nản lòng. Có phải nó đề nghị phụ diễn đề là bền lòng bền chí? Nếu như vậy thì vấn đề cầu nguyên, và phụ diễn đề là bền lòng bền chí.
  4. Chuyển dịch ngôn ngữ tượng hình trong bản văn để hiểu vấn đề thần học theo ý của tác giả. Ngôn ngữ tượng hình giống như thổ ngữ riêng của nó. Trong ngôn ngữ tượng hình các tư tưởng của tác giả được truyền đạt cách hình dung. Nhiều hình ảnh được dùng đến trong Thánh Kinh. Những hình ảnh thông dụng nhất là phép ẩn dụ (metaphor) và so sánh ( similes). Chúa Giê-su dùng lối nói ẩn dụ khi Ngài nói, “Thầy là cây nho và anh em là ngành nho” (Gio 15:5). Lối so sánh dùng từ ngữ giống như hoạc như là để hoàn thành cùng mục đích: “Nước trời giống như kho tàng giấu trong cánh đồng” (Mat. 13:44). Trừ khi bạn giải thích ý nghĩa của các từ ngữ tượng hình, bằng không bạn sẽ không hiểu được nghĩa thần học của bản văn.
    Trong Mat-thêu 5:13-16 Đức Giê-su nói các môn đệ là “muối đất” và là “ánh sáng thế gian.” Không giống như những hình ảnh khác, ở đây Ngài không giải thích ngài có ý gì khi nói đến ‘muối’ và ‘ánh sáng.’ Chúng ta hiểu ngậm là mọi người đều biết nghĩa của nó rồi. Nhưng tốt hơn là chuyển dịch những hình ảnh ẩn dụ này thành ra những lời thuộc ý niệm. Làm như thế bạn sẽ có vấn đề cho tư tưởng của bản văn.
    Ở đây là Đức Giê-su nói về ảnh hưởng của các môn đệ đối với thế gian. Những từ ngữ hình bóng nổi bật trong đoạn này chứa đựng tư tưởng của bản văn. Nhưng đừng dùng những từ ngữ hình bóng cho ‘vấn đề’ hay “phụ diễn đề,’ bởi vì chúng không phải là những ý niệm thần học phổ quát. Chúng chỉ là những dẫn giải cần phải được giải thích vào thần học.
  5. Tìm ý nghĩa đơn thật rõ ràng của bản văn như chìa khóa mở tư tưởng của bản văn. Trong toàn bộ Thánh Kinh, rất ít bản văn được viết ra với ý bị dấu ẩn. Thánh Kinh được viết ra là để tỏ bày bản tin Thiên Chúa muốn truyền đạt cho chúng ta, chứ không phải là để dấu nó đi. Hãy tưởng tượng là chúng ta nói với một đứa trẻ và cho nó biết điều bản văn muốn nói. Tuy bạn không muốn coi thường người nghe, điều quan trọng nhất để truyền đạt có hiệu lực là trong sáng. Trừ khi tư tưởng của bản văn được trình bày rõ ràng để cho đứa trẻ có thể nắm bắt được, bằng khôngngười lớn cũng không hiểu được.
    Mat-thêu 7:7-12, là đoạn văn được biết đến nhiều về việc xin, tìm, và gõ. Nếu bạn nhìn vào ý nghĩa đơn thật và rõ ràng bạn sẽ nghĩ ngay đến việc cầu nguyện. Tuy từ ngữ cầu nguyện không có ở trong bản văn, chủ đề vẫn rõ ở đó. Nó có lý để chúng ta nhìn nhận ‘cầu nguyện’ là vấn đề được đề cập đến ở đây. Khi nhìn xa thêm để tìm ‘phụ diễn đề,’ bạn có thể để ý đến điều hứa hẹn được lặp đi lặp lại. Bạn có thể chọn từ ngữ “bảo đảm” để làm phụ diễn từ. Như vậy là chúng ta có “vấn đề” là ‘cầu nguyện’ và ‘phụ diễn đề’ là ‘bảo đảm.’
  6. Nhìn vào những công dụng của pháp ngữ biện và văn phạm của các cụm từ trong bản văn để tìm những chủ đề nổi bật. Với biểu đồ dàn lược, bạn có thể nhìn ra công dụng của pháp ngữ biện nơi mỗi cụm từ trong bản văn. Bạn cũng thấy những câu văn (chủ từ và động từ) với động từ được gạch dưới. Trong những cách các từ ngữ và cụm từ này được dùng, có thứ tự ý nghĩa của chúng để giúp đưa bạn đến tư tưởng chính của tác giả. Chúng ta cũng đã được nhắc phải để ý đến những từ ngữ thần học được tô  mầu rõ lên. Bây giờ hãy nhìn vào những từ đặc điểm của văn phạm và pháp ngữ biện.
    Xác quyết mang nặng ý nghĩa hơn là những cái phụ thuộc. Những xác quyết là các lời công bố chân lý. Chúng nói lên điều tác giả cho là đúng. Biểu đồ dàn lược của bạn có thể cho thấy vài ba cụm từ phụ diễn cho các lời xác quyết, nhưng chúng không thể mang trọn lượng ý của chính lời xác quyết.
    Các lệnh truyền và các lời khuyên cũng nên được để ý đặc biệt. Đó là gốc rễ của những thâm tín về thần học của tác giả. Dù những điều đó là những áp dụng thực tế, nhưng chúng đến từ những điều coi là thuộc thần học. Hãy đặt câu hỏi cho mọi lệnh truyền và lời khuyên, “Chân lý căn bản nào dẫn đến đòi hỏi này?”
    Ở những đoạn văn kể truyện hãy nhìn kỹ vào cuộc đối thoại để tìm những dấu chỉ cho chân lý thần học của bản văn. Điều được nói thuờng thì quan trọng hơn là những miêu tả hay các hành động. Nhưng phần còn lại của câu truyện sẽ hỗ trợ cho các chủ đề được bày tỏ từ cuộc đối thoại.    

Chọn Đúng Từ Ngữ

Thách đố thực tế là đặt tên cho tư tưởng của bản văn bằng việc chọn những từ ngữ hay nhất cho ‘vấn đề’ và cho ‘phụ diễn đề.’ Có sự khác biệt giữa đúng từ ngữ và gần đúng từ ngữ. Những từ ngữ bạn dùng không những phải phản ảnh tư tưởng của tác giả mà còn phải phục vụ hữu hiệu cho vấn đề truyền đạt tư tưởng đó đến với những người nghe. Dù bạn quyết tâm trung thành với chủ ý của tác giả bản văn, bạn không thể tránh khỏi trách nhiệm công bố chính tư tưởng ấy tới người nghe bạn nói. Sau đây là bốn đề nghị trong việc chọn lựa giữa những từ ngữ tương tự ý nghĩa.

  1. Chọn từ ngữ có gốc thần học trong Thánh Kinh. Hãy nhớ rằng từ ngữ dùng phải thuộc về thần học. Bạn phải tìm những từ ngữ rõ ràng thuộc thần học. Nói thế không có nghĩa là những từ ngữ đó không được dùng ở trường hợp chung khác. Nhưng việc bạn dùng để giải thích bản văn, chúng thuộc về thần học. Những từ ngữ bạn dùng sẽ phải giúp nhớ lại những ý tưởng tương tự xuất hiện nơi những bản văn khác.
  2. Chọn từ ngữ có thể truyền đạt tư tưởng cách tốt nhất bằng ngữ vựng xứng hợp với người nghe. Những từ ngữ thuộc khoa thần học có thể là chính xác nhất, nhưng chúng cũng có thể không phải là sáng sủa nhất đối với người nghe. Hãy nhớ là bạn sẽ giải thích những tư tưởng của bản văn cho người ngày nay và trong ngữ vựng của ngày nay. Điều này không có nghĩa là bạn loại bỏ từ ngữ chuyên môn ra ngoài. Nhưng nó đúng có nghĩa bạn muốn biết chắc là việc giải thích của bạn có thể hiểu được.
  3. Chọn từ ngữ không qúa bao quát và cũng không qúa hạn hẹp trong ý nghĩa. Hãy tránh dùng những từ ngữ qúa bao quát như: vâng lời, cứu độ, tinh thần tông đồ, hay dấn thân khi bản văn chỉ nói về vấn đề nhỏ hẹp hơn. Đừng dùng những từ ngữ có nghĩa hạn hẹp để áp dụng cho chỉ có một phần của bản văn. Tìm sự quân bình giữa hai thái cực của ý nghĩa bao quát hay hạn hẹp này là một thách đố đối với chúng ta.
  4. Chọn từ ngữ áp dụng gần gũi nhất với cảm nghiệm của người nghe. Khi có thể đặt tên cho một tư tưởng bằng một từ ngữ xa lạ hay một từ ngữ quen thuộc với người nghe, thì bạn hãy chọn từ ngữ quen thuộc. Điều này không đòi bạn phải dung hòa ý tưởng nhưng chỉ là để giải thích ý tưởng bằng ngôn từ ngày nay.

Những Từ Ngữ Không Dùng

Có một số từ ngữ không xử dụng để nói cho “vấn đề” và cho “phụ diễn đề của tư tưởng bản văn.

- Đừng dùng “những hướng dẫn” hay “những mệnh lệnh” bởi vì những từ ngữ này nhận diện điều được viết ra hay là điều nói đến và chúng nói rất ít về nội dung.

- Đừng dùng “Thiên Chúa” như là vấn đề hay phụ diễn đề; tất cả các vấn đề thuộc về thần học, nhưng dùng danh từ “Thiên Chúa” chỉ “vấn đề” tự nó nói lên điều hiển nhiên, và như thế ý tưởng không năng động.

- Tránh không dùng những từ ngữ như: xứng hợp, đúng, xác thực, thật, thành thật hoặc những chữ tương tự vào vai trò “phụ diễn từ.” Những từ ngữ này không thực sự giới hạn và miêu tả vấn đề; chúng chỉ nói cho biết là bạn tán đồng về vấn đề.

- Đừng dùng nơi chốn, nhân vật hay các vật dụng như một vấn đề hay phụ diễn đề. Chúng không thể là những tư tưởng thuộc thần học.

- Tránh dùng những từ ngữ tượng hình nơi bản văn cho từ ngữ nói về ‘vấn đề.’ Bạn sẽ không có đúng vấn đề nếu bạn cố ép xếp tư tưởng trong ngôn ngữ tượng hình của bản văn.

- Đừng dùng những từ ngữ: không, không bao giờ, không thể, hay bất cứ từ ngữ ở thể từ chối vào vai trò “phụ diễn đề.” Các từ ngữ bạn dùng cho ‘vấn đề’ và ‘phụ diễn đề’ đều được hiểu như thêm hay bớt về gía trị. Cho dù nó được bàn luận cách tích cực hay tiêu cực nó  vẫn không thay đổi bản chất của chính ý tưởng.

Hoàn Tất Việc Thực Tập

Dùng tờ thực tập ở cuối chương, làm theo ba bước để hoàn tất việc thực tập, đặt tên cho tư tưởng của bản văn. Chọn những từ ngữ dựa theo bản văn. Đừng phỏng đoán.

Bước 1. Hãy viết bằng một từ ngữ lập thành danh sách tất cả những gì mà bản văn có thể cho là vấn đề hay phụ diễn đề. Đây là những từ ngữ trong bản văn và những từ ngữ khác chỉ về ý tưởng trong bản văn. Không có sự khác biệt chủ yếu trong các từ ngữ bạn dùng để chỉ vấn đề hay phụ diễn đề. Khi viết xuống tất cả các từ ngữ khả thể này, hãy nhớ là bạn có thể dùng một trong những từ ngữ đó để nói lên ‘vấn đề’ và một từ ngữ khác làm ‘phụ diễn đề.” Tính năng động của ý tưởng đến từ sự hợp tác của hai từ ngữ này.

Bước 2.  Lấy một từ ngữ khả thể nhất từ danh sách bạn đã tạo lập và hỏi toàn bản văn từng câu một, “Từ ngữ này có nhận diện điều tác giả nói đến không?” Nếu từ ngữ bạn dùng chỉ xứng hợp cho một phần của bản văn, hãy chọn từ ngữ khác và coi xem nó có bao gồm toàn bản văn hay không. Một vài ý tưởng trong bản văn chỉ là những khía cạnh của vấn đề chung và có thể dùng để lập câu văn gới thiệu vào các phân bộ. Điều quan trọng là nhìn xem những ý tưởng trong bản văn có liên hệ thế nào và những từ ngữ nào trong danh sách có thể dùng để chỉ vấn đề chính, và những từ ngữ nào có thể dùng đề làm phụ diễn đề, và từ ngữ nào dùng để lập câu văn giới thiệu cho các phân bộ. 

Bước 3. Khi đã có từ ngữ cho ‘vấn đề’ rồi, bạn hãy chọn một từ ngữ khác cho ‘phụ diễn đề.’ Từ ngữ này nhận định giới hạn của vấn đề được tác giả đề cập đến. Sự đóng góp của phụ diễn đề làm nên sự phối hợp của hai chủ đề, và như thế nó hoàn tất một tư tưởng. Từ ngữ dùng cho phụ diễn đề có thể không ở trong bản văn, nhưng có thể được đề nghị từ tình cảnh được miêu tả, tiến trình của tư tưởng, hay là bản tin của bản văn.

Bước 4. Đưa ‘vấn đề/phụ diễn đề’ vào làm tiêu đề cho việc dọn bài giảng. Nó có thể trở nên tiêu đề bạn muốn dùng. Tiêu đề này, từ vấn đề và phụ diễn đề của bản văn sẽ giữ bạn đi theo đúng với đường rày của bản văn.

Câu Hỏi Học Tập

  1. Cái gì là điểm yếu nhất của việc rao giảng?
  2. Mục tiêu của thuật thực tập trong chương này là gì?
  3. Thuật xếp đặt từ ngữ là gì?
  4. Ba lý do quan trọng phải đặt tên cho tư tưởng của bản văn trong việc dọn bài giảng là những lý do gì?
  5. Định nghĩa tư tưởng bản văn.
  6. Hai yếu tố căn bản làm nên tư tưởng là gì?
  7. Hai khác biệt giữa ‘vấn đề’ và ‘phụ diễn đề’ của tư tưởng bản văn là gì?
  8. Những hướng dẫn bạn có thể làm theo trong việc sắp xếp từ ngữ cho tư tưởng của bản văn là gì?
  9. Cụm từ nghệ thuật xếp đặt từ ngữ áp dụng thế nào trong mục vụ giảng thuyết?

Đặt Tên Tư Tưởng Bản Văn: Mục đích của thực tập này là khá phá ra tư tưởng chính của tác giả trong bản văn và cho nó diễn từ chính xác.

Bản Văn:

Làm việc từ dàn lược các quan sát.

  • Định nghĩa chính xác tư tưởng trong ý nghĩ của bạn.
  • Nắm chắc là tư tưởng đó phản ảnh điều tác giả nói.
  • Dùng từ ngữ cho tư tưởng bản văn và tư tưởng bài giảng.
  • Chọn từ cho tư tưởng bản văn theo vấn đề với phụ diễn đề.
  • Tránh từ ngữ không có tính thần học.

Liệt kê những chủ đề thần học từ bản văn:

Kiểm duyệt bối cảnh và tiến trình tư tưởng của tác giả và liệt kê các chủ đích có thể thấy:

 

Phân tích các diễn tả về chủ ý của tác giả và liệt kê chúng ra:

 

Liệt kê những chủ đích có thể được ám chỉ bởi ngôn ngữ tượng hình trong bản văn:

Tìm những ý nghĩa hiển nhiên và liệt kê những chủ đích của nó:

Tìm những công dụng của pháp ngữ biện và văn phạm của những cụm từ trong bản văn có những chủ đích rõ.

Từ những điều thấy ở trên, chọn vấn đề và phụ diễn đề cho tư tưởng của bản văn.
Vấn đề:                                Phụ diễn đề:                                      Đề tài: