12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

THUẬT 2

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Ghi Chú Chi Tiết Bản Văn Bài Đọc

Ngay trước lễ Giáng Sinh năm 1988, chuyến bay 103 của hãng hàng không Pan Am đã nổ tung trên bầu trời của thành phố Lockerbie, Scottland. Tất cả 259 hành khách và phi hành đoàn đều bị từ vong cùng với 11 người trên đất. Câu hỏi đặt ra là: Ai đặt chất nổ trên máy bay? Bước đầu tiên là tái thiết lại chiếc phi cơ và tất cả các bộ phận từ hàng trăm ngàn mảnh vụn bay rải tung khắp 845 dặm vuông trong vùng đồng quê của nuớc Scottland.

Sự thành công trong cuộc điều tra tùy thuộc ở các chi tiết. Các điều tra viên tìm bới không mỏi mệt tất cả mọi mảnh vỡ của phi cơ không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào. Cái mà những người bình thường coi là vô nghĩa thì các điều tra viên lại để ý phân tích ở mọi khía cạnh có thể. Họ làm việc điều tra theo những gì đã học được từ những tai nạn đã xảy ra trước giống như thế. Không những họ đã chỉ tái thiết lại chiếc phi cơ, mà còn thiết lập tiến trình dẫn đến tai nạn. Tìm dấu vết của tai nạn cũng quan trọng như việc giải thích lý do dẫn đến tai nạn.

Cuối năm 1989 một điều tra viên tìm xét một túi quần áo bị cháy và đã tìm thấy một miếng nhựa xanh nhỏ bằng miếng móng tay dính vào mảnh của một chiếc áo. Miếng nhựa nhỏ đó đã dẫn tới nguồn gốc chiếc đồng hồ điều chỉnh chất nổ, và nguồn gốc của chiếc áo từ một tiệm nhỏ ở Malta. Từ những chi tiết coi như không đáng kể này đã dẫn đến việc tìm ra thủ phạm để bắt giữ.

Sức Mạnh của Quan Sát

Sự khác biệt của các vấn đề quan trọng thường là ở chi tiết nhỏ. Cảnh sát, công an điều tra tìm và nhận diện một mảnh thảm nhỏ. Người kiểm tra ngân sách nhận thấy một ghi nhận nhỏ bất bình thường. Một người khảo cứu không gian nhận ra một ngôi sao lạ xuất hiện nơi đáng lễ ra không có sao. Một chuyên viên di truyền học tìm thấy cấu trúc của tế bào di truyền mà ông không hề nghĩ là sẽ nhận ra. Những chuyên viên này có tài gì khiến họ có thể khám phá ra những điều mới? Chúng ta gọi tài của họ là tài quan sát. Nó được gọi cách giản dị là việc biết để ý đến các chi tiết mà họ đã được huấn luyện để nhìn xem và thực sự trông thấy được.

Chúng ta có thể cho rằng một là người ta có tài quan sát hai là không. Rất có thể nó là một cái tài thiên phú; nhưng quan sát cũng là một nghệ thuật có được do tập luyện. Điều này đã được chứng minh trong việc huấn luyện các nhân viên tình báo FBI và Sở Tài Chánh. Dù rằng một người có thể không để ý đến chi tiết mà các công việc này đòi buộc, họ vẫn có thể học tập để ý đến chi tiết. Hầu hết ai cũng có khuynh hướng để ý quan sát đến những lãnh vực họ thích và không để ý đến những lãnh vực khác.

Định Nghĩa: Quan Sát

Quan sát có nghĩa là hành động hoặc thực tập nhìn thấy và ghi lại các sự thật và các biến cố, như là việc khảo cứu khoa học. Tài nghệ quan sát có thể được phát triển do tập luyện. Quan sát hiệu nghiệm đòi phải có sự thích thú, có nhãn quan chi tiết, khả năng kiềm chế xét đoán vội vàng, có tính tò mò của người muốn học hỏi, và có kiến thức về hiện tượng của cái được khảo sát.

Vấn đề quan sát học hỏi Thánh Kinh có nghĩa là nhận ra những chi tiết quan trọng bằng việc khảo sát cẩn thận những điểm đặc thù của đoạn Thánh Kinh. Chủ đích ghi lại những điểm này là để hiểu được ý của người viết.

Thí dụ một người nhận xét, “Tôi có thể không để ý đến bà xã tôi mặc áo gì lúc bước vào xe khi chúng tôi đi ăn tối. Nhưng mắt của tôi lại nhìn ngay thấy cái vết bị gạch ở cửa xe. Sự để ý của tôi là do cái nhìn chọn lọc. Sharon, bà vợ của tôi thì ngược lại, có thể nói cho tôi biết là tóc của người bạn cũ mà chúng tôi tình cờ gặp ở nhà hàng là tóc nhuộm; nhưng ngược lại, bà ấy lại không thể nhớ đường đến nhà hàng và không thể tự mình đến đó được lần sau. Chúng ta quan sát những gì chúng ta thích quan sát.”

Không những chúng ta thường kém trong khả năng quan sát tự nhiên, nhưng Thánh Kinh cũng dạy rằng chúng ta bị mù tinh thần. Trong Thánh Kinh mù loà được dùng để ám chỉ những quan niệm của chúng ta đối với những điều thuộc về Thiên Chủa. Khi giao ước được tái lập với dân Do Thái sau thời gian lưu lạc nơi hoang địa, Mai-sen đã nói với dân chúng, “Cho đến ngày này Thiên Chúa vẫn chưa cho các ngươi qủa tim để nhận biết, con mắt để nhìn thấy, và lỗ tai để nghe” (Nhị Luật 29:4).

Chúa Giêsu, ngược lại, hứa rằng, “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại” (Gioan 16:13-14). Thánh Phao-lô nhận ra sự cần thiết của ơn Chúa trong việc tiếp nhận chân lý. Ngài đã cầu cho dân Ephê-sô, “ Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kiô, Chúa chúng ta ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được nhờ ơn Người kêu gọi” (Eph 1:17-18). Đây chính là sức mạnh của quan sát trong cái nhìn của Thánh Kinh, đó là ơn của Thiên Chúa ban cho.

Các vị giảng thuyết không khác với những người khác trong nhu cầu cần có ơn nghe và nhận biết Lời của Thiên Chúa. Không những chúng ta cần ơn siêu nhiên để nhìn ra lãnh vực thiêng liêng, nhưng mà chúng ta cũng cần đào luyện tính cảnh giác tự nhiên đối với bản văn Kinh Thánh. Ơn cảm hứng  thiêng liêng giúp tăng phần nhận thức của trí não. Ngay cả đối với những người giầu kinh nghiệm, luôn luôn vẫn còn có lãnh vực để thăng  tiến cho những cái nhìn mới đối với bản văn Thánh Kinh.

Trong chương này chúng ta giới thiệu việc thực tập gọi là Sự quan sát trực thị. Thuật quan sát chúng ta hy vọng tiến đạt trong việc thực tập này là nhận ra và ghi lại những chi tiết bằng chính những từ ngữ trong đoản văn Thánh Kinh và những ý nghĩa trong đó. Chúng ta đã nhận diện sự liên hệ của những tư tưởng khác nhau trong bản văn và vẽ biểu đồ dàn lược của bản văn bài đọc. Bây giờ, với biểu đồ trước mặt, chúng ta sẽ ghi nhận những chi tiết chúng ta thấy trong bản văn.

Phát Triển Khả Năng Quan Sát

Bản văn Thánh Kinh luôn cố định không thay đồi. Mỗi lần bạn đọc bản văn bài đọc Thánh Kinh các chữ vẫn vậy. Nó không thay đồi bản tin từ người đọc này tới người đọc khác. Thế thì tại sao một người đọc cùng đoạn văn đó lại có thể có những cái nhìn hiểu mới mà người khác không có? Đoạn văn Thánh Kinh vẫn thế. Sự khác biệt là ở điều họ nhìn thấy. Một người nhìn mà không thấy. Người khác nhìn và thấy. Họ thấy cái mà chỉ ai có con mắt tỉnh giác và chú ý. 

Khả năng quan sát đòi hỏi phải có những điều kiện gì? Một đàng đương nhiên là nó sẽ đòi hỏi khả năng và sự thông minh căn bản. Tuy thế, chúng ta tin rằng bất cứ ai được Thiên Chúa kêu mời vào chức vị rao giảng đều sẽ có những ơn cần thiết  để chuẩn bị bài giảng và biết giảng. Nhưng ơn rao giảng thì không giống như là tài khiếu giảng. Tiền đề của cuốn sách này là tăng cường tài khiếu và thăng tiến việc rao giảng.

Việc thực tập quan sát trực thị được thiết kế để giúp tăng triển khả năng ghi nhận và quan sát những chi tiết của bản văn. Khi bạn thực tập xong từ bản văn bài đọc này tới bản văn bài đọc khác, bạn sẽ tiến tới trình độ có con mắt nhìn chi tiết mà bạn không hề có trước đây.

Sau đây là sáu khía cạnh bao gồm trong việc củng cố khả năng quan sát.

1. Khiếu quan sát tùy thuộc rất nhiều ở sự thúc bách.

Đa số nhiều người không là những nhà quan sát bởi vì họ không phải quan sát. Họ có thể sống an phận mà không cần phải để ý phiền hà đến những gì đang xẩy ra chung quanh. Một số nghề nghiệp đòi phải biết quan sát: thí dụ như người kiểm tra sổ sách tài chính của các công ty, nhân viên an ninh chìm phải đề cao cảnh giác canh chừng khi vị tổng thống diễn thuyết, người kiểm tra trong xưởng chế tạo xe hơi phải kiểm soát chiếc xe mới trước khi cho ra thị trường. Tất cả đều có lý do thúc dục họ bởi vì đó là bổn phận của họ. Nếu bạn thâm tín rằng bạn được kêu gọi để tìm sự thật mà giáo dân hay thính gỉa của bạn cần được nghe, thì bạn sẽ được thúc bách để đi tìm hiểu học hỏi. Không gì có thể thay thế cho lòng muốn. 

2. Khiếu quan sát đòi phải có con mắt nhìn chi tiết.

Suy nghĩ theo lối đi vào từ chi tiết bắt đầu với những chi tiết cá biệt. Mục đích là để đưa đến kết luận dựa trên những chi tiết cá biệt này. Sự chú ý không được nhắm đặt nơi mục đích nhưng phải được đặt ở những chi tiết. Một cách nào đó, người có tài quan sát học suy nghĩ chi tiết tỉ mỉ.  Biết để ý tới những điều nhỏ thường là bí quyết đưa đến thành công trong trong các ngành. Giảng thuyết cũng như vậy, nhất là trong việc học hiểu bản văn Thánh Kinh.

3. Khiếu quan sát đòi người học quan sát có óc tìm tòi.

Sự ham thích tìm tòi tốt là lòng khao khát kiến thức.  Chính lòng ham thích này thúc bách chúng ta phát triển khả năng quan sát. Tính thích tìm bằng cớ và điều tra kích thích chúng ta chú ý tới chi tiết. Chúng ta tiếp tục đặt vấn đề: Bao nhiêu? Loại nào? Mầu gì? Lối nào? Tại sao? Ai? Trong thứ tự nào? Tính thích tìm tòi sẽ làm cho bạn tìm kiếm ở mọi ngóc ngách và giữa những hàng chữ trong bản văn.

 4. Khiếu quan sát đòi hỏi phải biết kiềm chế việc luận đoán.

Đa số chúng ta có khuynh hướng kết luận vội vàng. Mới chỉ có một chứng cớ là chúng ta có thể đã ngay tức khắc đoán chừng là mình biết nó sẽ đi tới đâu. Người quan sát từng trải sẽ cố ý chờ đợi không xét đoán cho dù ngay cả lúc họ bắt đầu nhìn thấy chiều hướng của vấn đề. Nếu không đợi cho đến lúc có đủ rõ ràng các chứng cớ cá biệt, họ có thể tự vội vàng kết luận và bỏ qua những chi tiết cá biệt khác mà những chi tiết đó không hỗ trợ cho kết luận của họ. Kiềm chế xét đoán là tâm điểm của việc học hiểu Thánh Kinh theo lối đi vào từ chi tiết. Chúng ta ghi nhận tất cả những gì mình quan sát thấy trước khi đưa ra kết luận về ý nghĩa của chúng.

5. Khiếu quan sát đòi buộc một chủ trương thực tế không nhân nhượng về sự thật.

Sự thật là một biến cố đã thực sự xẩy ra hay một hoàn cảnh có thật. Có một sự khác biệt thật rõ ràng giữa một sự thật và một giả thiết, giữa một điều thật và một dự tính. Chúng ta bị lôi cuốn muốn sự thật đồng thuận với cái nhìn của chúng ta và muốn nhìn sự thật theo quan điểm của mình. Chúng ta cũng có khuynh hướng chọn lọc sự thật nào để ghi nhận và sự thật nào để làm ngơ. Nhưng người quan sát tài sẽ biết nghiêm chỉnh làm việc với những sự thật cách trung thực.

6. Khiếu quan sát đòi hỏi phải biết điều mình tìm kiếm.

Điều này có nghĩa là người có đầu óc quan sát phải có chút hiểu biết về lãnh vực họ tìm tòi. Nhà thiên văn học có thể tìm kiếm trên bầu trời do tài nghệ của mình bởi vì ông biết mình tìm cái gì ở đó. Người thợ máy xe thường có thể nói cho bạn biết xe của bạn mắc chứng bệnh gì nguyên bởi việc lắng nghe tiếng máy, bởi vì ông ta quen thuộc với tiếng nổ của máy xe. Bác sỹ có thể biết tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân do việc khám bệnh và hỏi han bởi vì bác sỹ biết phải hỏi gì. Cũng giống như thế đối với các nhà giảng thuyết trong việc học hiểu Thánh Kinh theo lối đi vào: càng học biết điều mình tìm tòi, chúng ta càng trở nên thông thạo trong việc tra khảo bản văn.

Những Hướng Dẫn Về Quan Sát Trực Thị

Việc thực tập này được xây trên thực tập trước. Quan sát trực thị bắt đầu với biểu đồ dàn lược. Thực vậy, nếu không có biểu đồ dàn lược bản văn, rất nhiều chi tiết chúng ta cần trông thấy sẽ không tỏ lộ ra cho chúng ta thấy. Bạn có thể nhìn lại bản văn theo hình thức đoạn và câu văn trong sách Thánh Kinh. Nhưng bạn sẽ quan sát thấy nhiều điều nhất nhờ ở việc tạo biểu đồ dàn lược.

Đây là những hướng dẫn để ghi nhận những quan sát của bạn về bản văn Kinh Thánh.

Đừng bỏ hoặc cho là tầm thường việc viết xuống những điều quan sát thấy khi bạn tìm hiểu học hỏi bản văn. Không gì có thể thay thế việc dùng bút giấy. Bạn không thể chỉ làm việc thực tập này trong đầu. Sau khi đã có nhiều kinh nghiệm thực hành, bạn sẽ không cần việc viết xuống giấy nhiều lắm, nhưng bạn vẫn thấy nó hữu dụng.

Đây không phải là lúc khảo cứu. Bạn ghi chú những gì bạn nhận xét thấy mà không có sự giúp đỡ của tự điển, chú giải hay bất cứ tài liệu nào khác. Sự nhấn mạnh về quan sát này là một gía trị lớn lao cho việc học hiểu theo lối đi vào từ chi tiết. Vị giảng thuyết làm việc trực tiếp với bản văn, trong tiến trình mỗi ngày một trở nên người học trò chăm chú về Thánh Kinh. Khảo cứu là điều quan trọng trong việc học hiểu bản văn Thánh Kinh, nhưng nó sẽ đến ở bước kế tiếp sau khi bạn hoàn tất việc quan sát chi tiết của bản văn.    

Coi việc quan sát trực thị giống như lấy ý kiến theo suy nghĩ bộc phát. Cho dù bạn làm việc riêng một mình, hãy thực hành theo cách thức chúng ta làm khi một nhóm tụ họp để lấy ý kiến bộc phát cho một vấn đề. Hãy viết xuống tất cả các ý kiến đề ra. Nếu bạn bắt đầu hoài nghi chính mình và cố gắng thẩm định những quan sát của mình, bạn sẽ làm ngăn cản sự chú ý của bạn vào chi tiết. Việc thẩm định các tư tưởng của bạn sẽ được làm sau.

Đừng đặt mục đích của bạn là đi tìm kiếm bài giảng trong bản văn. Mục đích học hỏi của bạn ở giai đoạn quan sát là cẩn thận nhận định chính bản văn. Bạn đặt câu hỏi: “Tôi nhìn thấy gì trong bản văn bài đọc?” và “Tác giả nói gì trong đó?” Khi đã hoàn tất việc tìm hiểu chi tiết bản văn cách thấu đáo, bạn sẽ có thể công bố những tư tưởng thần học của bản văn. Những tư tưởng này sẽ trở nên những tư tưởng cho bài giảng. Vì vậy bạn không nên nhẩy để tiến ngay tới bài giảng trước khi bạn để cho bản văn bài đọc tự nói lên trong văn ăm của nó.

Hy vọng tiến triển trong khả năng nhận biết những chủ đề  và những sắc thái thông dụng  của Thánh Kinh.
Việc nhận biết này sẽ trở nên một yếu tố quan trọng  quí gía khi bạn học hỏi Thánh Kinh trong mục vụ gỉảng thuyết. Bạn sẽ thấy Thánh Kinh luôn luôn trung thực. Những chủ đề chính sẽ tiếp tục tái xuất hiện trong cả Cựu Ước và Tân Ước. Một số những cách nói theo ngôn ngữ hình bóng sẽ trở nên có ý nghĩa dễ hiểu. Giống như những bông hoa dại trổ bông đây đó ngoài đồng, những chủ đề thần học của Thánh Kinh sẽ tiếp tục tỏ hiện, và bạn sẽ nhận ra chúng trong mỗi văn cảnh của nó.

Tự kỷ luật mình trong lối học đi vào từ chi tiết và trì hoãn việc đưa ra các kết luận cho tới khi bạn hoàn tất công việc quan sát nhận định.  
Những vị giảng thuyết giầu kinh nghiệm thường dễ bị cám dỗ khi họ khởi sự việc quan sát nhận định trực thị. Những người đã ở trong “nghiệp” giảng thuyết một thời gian và khá quen thuộc với Thánh Kinh, dễ bị cám dỗ tra khảo bản văn theo văn cảm của kinh nghiệm bản thân hơn là theo văn cảm và ý của tác giả. Nhìn thấy một điểm quen thuộc, chúng ta vội kết luận cho rằng mình đã hiểu bản văn mà không cần phải đào bới thêm.

Bức Tranh Lớn Hơn

Cho dù công việc bạn làm biểu đồ dàn lược bản văn bài đọc đã hoàn tất và là nền tảng cho những quan sát nhận định, bạn cũng cần nhìn xa ra ngoài biểu đồ của dàn lược bản văn. Bức tranh họa lớn hơn là đặt bản văn ở vài văn cảnh khác nhau.

Một cách khác để nghĩ về những quan sát nhận định của bạn là  chính tính chất văn cảm của Thánh Kinh. Những nhà giải thích Thánh Kinh nhìn Thánh Kinh theo văn học, do đó họ tra khảo những sắc thái văn chương của Thánh Kinh theo cái nhìn văn học. Họ cũng nhìn Thánh Kinh như là lịch sử thánh, do đó họ học hỏi Thánh Kinh như là tài liệu lịch sử với những sắc thái phù hợp với lối văn chương sử lược. Họ cũng học hỏi Thánh Kinh như là văn chương thần học với những yếu tố chung của thần học.

Để làm những quan sát nhận định  về những vấn đề rộng hơn như thế, bạn sẽ làm điều bạn có thể làm là nhìn vào chính vị trí của bản văn bài đọc trong Thánh Kinh, mà không đi tìm trợ giúp ở những nguồn khác. Chúng ta sẽ đặt những câu hỏi trong phần thực hành kế tiếp, những câu hỏi được đề ra hầu giúp dẫn chúng ta đến việc khảo cứu tốt nhất để hiểu bản văn. Trong lúc này, chúng ta chỉ giới hạn ở việc quan sát nhận định đối với chính Thánh Kinh mà thôi.

Thứ nhất là việc để ý xem ai là tác giả viết bản văn đó và ai là đối tượng nguyên thủy mà tác giả muốn nói với. Văn cảnh của đoạn văn đó có nói gì cho bạn biết họ không? Thí dụ, bạn có thể thấy ở những phần mở đầu trong các thư Tân Ước tác giả đã tự giới thiệu thế nào về mình. Trong Công Vụ Tông Đồ cũng giống như thế. Trong phần thực tập kế tiếp bạn sẽ thấy rõ hơn khi đặt những câu hỏi tra khảo.

Thứ hai là để ý nhận định về văn thể của bản văn bạn đọc. Hãy giữ nó trong sự đơn giản. Những chuyên gia Thánh Kinh  nhận diện những hình thức văn chương và những hình thức phụ thuộc ở nhiều cấp loại phức tạp. Ở giai đoạn này bạn chỉ cần nhận biết xem bản văn thuộc loại lịch sử truyện, thơ văn, tiên tri, chứng tích Phúc âm, dụ ngôn hay thư tông đồ.

Tiếp đến là nhìn thẳng vào bản văn bài đọc. Tác giả viết gì ở những chương trước đó và sau đó? Chủ để chính của những chương này là gì? Bản văn bạn đọc ứng hợp thế nào với tiến trình mở rộng hay tư tưởng của toàn cuốn sách? Bạn có thấy những tư tưởng chung quanh các chương lân cận gợi sáng cho ý nghĩa của bản văn bài đọc không?

Một quan sát khác nữa về bản văn bài đọc là để ý đến văn giọng ở phần đó. Bạn nhận định thế nào về cảm khí của của tác giả? Tác giả vui hay buồn? Tác giả để ý đến nội dung hay là gần gũi và thân tình với độc giả? Mục đích gì tác giả muốn nói đến trong phần này, dưới ánh sáng của văn cảnh bản văn?

Văn cảnh của bản văn có thể cũng cho thấy một số điều về bối cảnh lịch sử mà bạn muốn chú ý đến. Chúng ta sẽ làm việc tra cứu sau này, bây giờ bạn có thể thấy chút ít về bối cảnh lịch sử, nhất là các truyện sử hay là những chứng cớ Tin Mừng.

Làm Việc Từ Biểu Đồ Dàn Lược

Bạn sẽ thấy biểu đồ dàn lược khai mở cấu trúc của bản văn bài đọc hơn mọi cái khác. Những chữ được tô nổi lên, những động từ được gạch dưới, những nối từ được để riêng ra, những chữ ứng dụng thuật pháp ngữ biện được liệt kê, và các nhóm bổ túc từ, tất cả sẽ dẫn bạn đến việc quan sát nhận định mà nếu không bạn sẽ không nhận ra. Với biểu đồ dàn lược trước mặt và sách Thánh Kinh mở ngay chỗ bản văn bạn học hỏi, bạn đang sẵn sàng để viết xuống tất cả các quan sát, nhận định dựa theo biểu đồ và lối phân tích thuật pháp ngữ biện.

Quan sát nhận định theo hai khía cạnh: (1) Quan sát tổng lược, có nghĩa là nhìn tổng quát toàn bộ. Điều này bao gồm việc nhìn đến toàn diện bản tin của tác giả trong văn cảnh của bản văn và để ý đến sự liên hệ của các tư tưởng trong bản văn. (2) Quan sát tiểu tiết, có nghĩa là nhìn đến các phần. Điều này bao gồm việc cẩn thận tra xét bản tin của tác giả từ những chi tiết rất nhỏ liên quan đến mọi điểm mà tác giả đề cập tới.

Không những bạn chỉ cẩn thận tìm những điểm riêng của bản văn, nhưng bạn cũng muốn cố gắng xác quyết ý nghĩa của điều bạn nhìn thấy. Mục đích nhắm tới là để bạn hiểu rõ hơn bản tin mà tác giả muốn thông đạt. Không phải bạn chỉ muốn thu thập thêm dữ kiện về bản văn. Mục đích của bạn là giải thích bản văn cách trung thực.

Quan sát tổng lược giống như là đứng trên ngọn đồi nhìn xuống nông trại của một thôn làng dưới chân đồi. Bạn có thể một lúc nhìn thấy toàn thể nông trại. Bạn có thể nhìn thấy vị trí  xếp đặt của nông trại, các ngôi nhà, các cánh đồng, và những nông cụ, tất cả đều liên hệ trong vị trí của chúng. Bạn có thể nhìn thấy những cảnh vật trong vùng lân cận, địa hình, những nông trại lân cận, cây cối và hồ nước. Một vài điều bạn cần biết cho cái nhìn tổng lược này đòi hỏi bạn phải tra khảo.

Quan sát nhận định thứ hai là quan sát nhận định các tiểu tiết. Việc tra xét này là nhìn đến tất cả các chi tiết nhỏ trong bản văn. Bạn sẽ tra khảo mọi chứng tích có thể trong các từ ngữ cũng như nhóm từ của bản văn để phân định tư ý của tác giả. Trong chương này đề nghị bạn phương cách giúp bạn nhìn vào bản văn ở mọi khía cạnh cá biệt. Chúng ta sẽ áp dụng cách nhìn tiểu tiết.       

Biểu đồ dàn lược sẽ giúp bạn ở cả hai phương diện, nhìn tổng lược và nhìn tiểu tiết vào bản văn. Nó sẽ cho bạn thấy sự liên hệ của các tư tưởng và tác giả dàn xếp tư tưởng như thế nào. Nhưng biểu đồ dàn lược cũng khai mở cách tra xét những điểm riêng của bản văn. Những chi tiết nhỏ nhất có thể được thấy rõ hơn khi mà biểu đồ được hoàn tất.

Đây là một số những nhận định sẽ trở nên sáng tỏ khi bạn tra khảo biểu đồ của bạn.

  • Sự liên hệ của các tư tưởng trong bản văn.
  • Những chữ có nghĩa đặc biệt bạn tô nổi lên.
  • Những ứng dụng thuật ngữ biện của một số nhóm từ.

      Bây giờ chúng ta nhìn vào từng điểm của những nhận định này để xem bạn có thể quan sát thấy điều gì và bạn có thể viết xuống những nhận định của bạn như thế nào.

Liên Hệ Những Tư Tưởng Của Bản Văn

Điểm đầu tiên cho việc quan sát trực thị là để phân tích những liên hệ giữa các tư tưởng trong bản văn. Biểu đồ dàn lược được thiết lập để vạch vẽ ra những liên hệ này.  Bây giờ bạn nhìn vào biểu đồ và giải thích điều nó vẽ vạch ra xem các tư tưởng đó có liên hệ như thế nào.

Chìa khóa để nhận ra xem các tư tưởng có liên hệ với nhau như thế nào là dùng những liên nối từ. Bạn có thể nhớ lại rằng những liên nối từ thường là những chữ đơn sơ nhỏ bé nhưng quan trọng để nối kết một nhóm từ ngữ này với nhóm từ ngữ kia trong những cách riêng. Chúng ta đã nhận ra những liên nối từ này. (1) So sánh, (2) đối nghịch, (3) điều kiện, (4) liên đới, (5) lập luận, (6) chủ đích, và  (7) kết quả.

Một số những liên từ nối thí dụ như: giống như là, giống thế, cũng như, cũng vậy, chỉ cho thấy hai tư tưởng được so sánh. Đôi khi một liên từ nối sẽ giới thiệu một so sánh tương tự hay một điểm tương đồng. Một thí dụ trong Thánh Vịnh 1:3, “Người ấy giống như cây trồng bên dòng nước.” Rõ ràng là tác giả Thánh Vịnh ví người kính sợ Thiên Chúa giống như là cây tốt. Hãy viết cách đơn giản theo như những điều bạn quan sát thấy. Người kính sợ Thiên Chúa thì giống như một cây tốt. 

Một số liên từ bày tỏ sự tương phản. Nó được báo hiệu bởi những chữ: nhưng, tuy thế, cho dù, hơn thế, tuy nhiên, mặc dù, dù vậy. Trong Mat-thêw 5:13 Chúa Giê-su nói, “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng nếu mà muối nhạt đi, thì lấy gì muối cho nó mặn lại?”  Lời tuyên bố được tiếp tục bởi điểm xoay chiều trong câu, “Nhưng muối mà nhạt đi.” Nơi đây, liên từ “nhưng” chỉ cho bạn biết sự tương phản. Do đó bạn có thể quan sát nhận định việc muối có thể nhạt đi. Đây là tư tưởng quan trọng để chú tâm đến trong phần phân tích bản văn.

Trong cùng câu Mat-thêu 5:13 cũng có một liên từ nối khác là liên từ chỉ điều kiện. Đó là chữ “Nếu.” Nó được gọi là chỉ điều kiện bởi vì một điều kiện được đề ra để chí cho thấy một hậu qủa tiếp theo sau. Bạn có thể viết, “Nếu muối mà hết mặn thì ra vô dụng.” Điều kiện dẫn tới việc tiên đoán được kết qủa.

Những liên từ nối khác đóng vai quan trọng tương tự trong việc xác định sự liên hệ của các tư tưởng trong bản văn bài đọc. Hãy xem lại toàn biểu đồ của bản văn và sẽ thấy rằng hầu như  mọi liên từ đều giúp cho bạn trong việc quan sát nhận định sự liên hệ nào đó giữa các tư tưởng trong bản văn.

Bạn cần phải biết phân biệt giữa những tư tưởng chính và những tư tưởng phụ trong bản văn. Điều này sẽ giúp bạn nhận ra những tư tưởng mà tác giả cho là quan trọng nhất. Nó cũng giúp bạn nhận thấy một, hai hay vài điều có thể được nói về tư tưởng chính.

Trong thư thứ nhất của Thánh Phê-rô, 1:4 chúng ta nhận thấy rằng “gia tài” đến từ việc tái sinh được trợ giúp bởi vài tư tưởng phụ: “Để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em.” Đây chính là sự quan sát nhận định mà bạn có thể làm.

Đàng khác, hai tư tưởng miêu tả được tìm thấy trong sách Sáng Thế Ký 1:2. Đất vào lúc được tạo thành được tả là “còn trống rỗng” và “chưa có hình dạng.” Bạn có thể viết theo sự quan sát nhận định của mình là trái đất được miêu tả trong hai chất tính. Nhưng bạn cũng nhận thấy ở câu tiếp theo, “và bóng tối bao trùm vực thẳm.” Cho dù câu này được viết như một lời công bố riêng, tư tưởng này thêm chất tính thứ ba của đất vào lúc sáng tạo. Điều này quan trọng bởi vì mỗi chất tính là một phụ giúp khi câu truyện sáng tạo được mở ra.        

Những Chữ Quan Trọng

Một lãnh vực quan trọng của quan sát là nhận diện những chữ quan trọng bạn thấy trong đoạn văn. Quan trọng ở đây có nghĩa là những chữ mang nặng ý nghĩa trong đoạn văn. Chúng có thể là những danh từ, động từ hay ngay cả những bổ túc từ. Chúng có thể cưu mang những chủ đề thần học mà từ đó bạn sẽ chọn ra một chủ đề nổi bật bạn tin đó là chủ ý của tác giả.

Những chủ đề bạn thấy trong bản văn thường là những chủ đề thông dụng trong Thánh Kinh. Chúng xuất hiện liên hợp trong nhiều bản văn. Bạn có thể thấy Ơn Thánh, Đức Tin, Ơn Cứu Độ trong cùng một bản văn trong đó Đức Tin được nổi bật và hai đề kia đóng vai bổ túc. Trong bản văn khác, Ơn Thánh có thể là vai chính, và Đức Tin và Ơn Cứu Độ đóng vai phụ. Trong những bản văn thuật truyện, các chủ đề không được chỉ dạy cách minh nhiên nhưng thường là được dẫn giải hay bàn giải ra trong bản văn. Nhưng những tư tưởng chính bạn nghĩ là bạn thấy ở đó thì cũng đã được chỉ dạy ở những bản văn khác.

Chú ý tới công dụng của những động từ bạn thấy trong bản văn. Để ý xem những động từ đó theo thì hiện tại, tương lai, hay qúa khứ. Thì của động từ có thể là điều quan trọng để bạn nhận định những biến cố đã xẩy ra, mới xẩy ra, đang xẩy ra, hay sẽ xẩy ra. Sau này khi bạn tra khảo ngôn ngữ nguyên thủy của bản văn, bạn có thể sẽ thấy thêm những khác biệt hàm chứa nơi các thì mà ngôn ngữ bản xứ không có.

Nhận thấy ở Mac-cô 11:24 có những thì động từ gây sự chú ý cho chúng ta. “Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý.” Trong trường hợp này, thì của động từ có ảnh hưởng rất nhiều cho việc giảng nghĩa. Do đó bạn có thể viết quan sát nhận định của bạn về các thì của động từ được dùng đến.

Hãy nhận diện các cách nói nghĩa bóng. Có một số khá nhiều lối nói bóng bạn muốn nhận diện, dù rằng một số cách không thông dụng lắm. Bạn có thể nhận diện ngôn ngữ bóng hình mà không cần phải dùng đến những chữ chuyên môn. Bạn muốn biết ngôn ngữ bóng gợi ý cho chủ đề và khai mở giúp hiểu ý của tác giả như thế nào.

Hãy nhìn vào ngôn ngữ bóng gợi hình ở trong Thánh Vịnh 1:1. “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng.” Dù rằng thoạt đầu bạn không nhìn ra những diễn từ này có nghĩa bóng, nhìn kỹ hơn bạn sẽ thấy chúng không phải là những chữ có nghĩa đen: bước, đường, nhập bọn, nghe theo. Ý nghĩa của những hình bóng này sẽ là điều quan trọng cho việc giải thích bản văn.

Ghi nhận tất cả những từ  ngữ, nhóm từ hay tư tưởng được lặp đi lặp lại. Điều này thường ám chỉ là chủ để được nằm trong đoạn văn đó. Hãy coi xem tư tưởng được lặp đi lặp lại đó có cho những nghĩa nào thêm hay vẫn duy trì một nghĩa được nhắc lại. Trong trường hợp Chúa Giê-su gặp gỡ Ni-cô-đê-mô ở Phúc Âm Gioan 3:1-8, chữ “sinh ra” xuất hiện 8 lần trong số sáu câu. Chắc chắn điều này ám chỉ điều gì đó về chủ đề của đoạn văn.

Những chữ quan trọng nổi bật bạn thấy trong bản văn sẽ cung cấp một nối kết liên hệ với những đoạn khác cùng nói về những chủ đề giống nhau. Những so sánh đối chiếu này có thể là quan trọng để giải thích và biện luận những tư tưởng trong bài giảng của bạn. Chúng cũng cung cấp một đối chiếu tham khảo từ những chỗ khác trong Thánh Kinh để giúp bạn biết rằng cách giải thích của bạn là hợp nghĩa lý.

Công Dụng Pháp Ngữ Biện

Trong mẫu biểu đồ dàn lược bạn đã nhận ra cách mỗi nhóm từ công dụng thế nào trong bản tin của tác gỉa. Những công dụng pháp nguữ biện này cũng giúp tạo ra cho ta một lãnh vực quan trọng trong việc quan sát nhận định, đó là nó khai mở ý nghĩa của bản văn. Hãy xem lại những công dụng pháp ngữ biện và ghi nhận điều bạn nhìn thấy.

Hãy ghi nhận những quả quyết của tác gỉa. Qủa quyết là một lời tuyên bố được xác định cách tích cực và được công bố với sự bảo đảm. Quả quyết đứng nổi bật ra giữa những lời nhận định phụ thuộc giúp phong phú hóa lời quả quyết đó. Những lời qủa quyết thường mang ý nghĩa rõ ràng bởi vì chúng chứa đựng những yếu tố quan trọng trong suy nghĩ của tác giả. Trong Gio-an 14:6 Chúa Giê-su qủa quyết, “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.” Lời qủa quyết này nói lên sự xác quyết rõ ràng về thâm tín của Chúa Giêsu.

Bạn cũng phải nhận ra những mệnh lệnh hay là những lời khiển trách cho độc gỉa. Đây là những lời quan trọng bởi vì thường là chúng mang theo sự ứng dụng của các tư tưởng thần học mà tác giả bàn tới. Để làm sáng tỏ điều này, bạn cần lần trở về giáo huấn căn bản là lý do kêu gọi cho hành động đó. Khi bạn làm việc tìm nối kết này, bạn sẽ thấy việc làm này phản ảnh sự thâm tín ở đàng sau. Thánh Phao-lô viết trong thư gởi giáo đoàn Ê-phê-sô  4:1, “Tôi . . . khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em.” Hầu hết trong phần còn lại trong thư đó nói ra những chi tiết phải làm thế nào.

Hãy để ý đến những lời hứa được nêu lên trong đoạn văn, rõ ràng hay ám chỉ. Thánh Kinh hàm chứa hàng ngàn những lời hứa đối với các tín hữu. Sự học hỏi về những lời hứa trong Thánh Kinh tỏ cho thấy rất nhiều về Thiên Chúa, về đặc tính, ý muốn và ý định của Ngài đối với con người. Rất nhiều những lời hứa đó áp dụng phổ quát chung cho con người; do đó những lời hứa đó chắc chắn là nói với chúng ta cũng như nói với những người trong bản văn.

Mai-sen trao lời hứa của Thiên Chúa đến với dân Do Thái, “Ngài sẽ không để mặc và sẽ không bỏ rơi anh em” (Dnl 31:6). Điều này cũng được nhắc lại trong thư gởi Do Thái 13:5 như là một lời hứa trực tiếp từ Thiên Chúa được áp dụng cách chung, rõ ràng nói lên ý định của Thiên Chúa.

Những công dụng pháp ngữ biện cũng giúp chỉ cho thấy sự khác biệt giữa hiệu đề như nguyên nhân, phương tiện và môi giới. Một lãnh vực khác đôi khi cũng khó phân biệt đó là kết qủa và chủ đích.

Viết Những Câu Tóm Lược

Một  cách để phân loại sự liên hệ của các chủ đề trong bản văn là viết một câu ngắn gọn dùng những nhóm từ thần học của bản văn. Đây là một việc thực tập rất hữu ích để tóm kết việc quan sát nhận định. Nó giúp bạn bạn xếp đặt thành câu về những điều bạn đã quan sát nhận định thấy trong bản văn theo như là ý của tác giả.

Trong vài trường hợp bạn có thể dùng những công dụng pháp ngữ biện để viết lên câu tổng kết. Làm như thế, không những bạn tỏ cho thấy hai tư tưởng có liên hệ với nhau nhưng còn cho thấy chúng liên hệ như thế nào.

Hãy giữ cho những câu tóm lược đó đơn giản và thẳng vấn đề bao nhiêu có thể. Hãy viết vài câu về một chủ đề nếu bản văn cho thấy nó liên can đến vài chủ đề khác. Hãy để cho những câu của bạn viết diễn tả mọi liên hệ của các chủ đề trong bản văn như là bản văn trình bày. Sau đây là vài thí dụ từ trong thư thứ 1 của thánh Phê-rô 1:3-5:

  • Chúa cho chúng ta được tái sinh
  • Chúa cho chúng ta sinh lại vì tình thương của Ngài
  • Tình thương của Chúa thì vô bờ
  • Tái sinh đưa đến hy vọng hằng sống
  • Phương tiện tái sinh là sự sống lại của Chúa Giêsu
  • Tái sinh cho chúng ta hưởng gia tài thiêng liêng
  • Gia tài thiêng liêng của những người tin thì không bị phá hủy
  • Gia tài thiêng liêng của những người tin thì không vẩn đục
  • Gia tài thiêng liêng của những người tin thì không tàn phai.
  • Gia tài thiêng liêng của những người tin được bảo toàn trên trời.
  • Những người tin được bảo toàn bởi quyền năng của Thiên Chúa.
  • Những người tin được bảo toàn bởi đức tin.
  • Ơn cứu độ của chúng ta được tỏ hiện trong ngày sau hết.

Bạn có thể nhận thấy rằng những lời tóm tắt này thực đã có giá trị trong việc tóm tắt rõ ràng những vấn đề mà bản văn nói đến. Những câu tóm tắt này sẽ giúp cho việc dọn bài giảng của bạn khi bạn bắt đầu thiết kế sắp xếp bài giảng.

Hoàn Tất Thực Tập

Việc thực tập này không phức tạp nhưng sẽ rất gía trị cho bạn hiểu bản văn. Nó là trọng tâm của lối đi vào từ chi tiết để phân tích bản văn. Nếu chúng ta phải đi từng bước thì đây là thứ tự phải theo.

Bước 1. Bắt đầu việc học hỏi biểu đồ dàn lược của bạn để quan sát nhận định, bạn có thể tìm kiếm liên hệ của các lời công bố hay tư tưởng trong bản văn. Các liên từ sẽ giúp nhận ra những liên hệ này.

Bước 2. Hãy nhìn vào các từ ngữ có ý nghĩa nổi bật trong biểu đồ dàn lược đã được tô sáng lên. Nhận định những chủ đề thần học chúng ám chỉ. Hãy tìm kiếm những từ ngữ và những tư tưởng được lặp đi lặp lại. Ghi chú các nhận định mà bạn đối chiếu thấy chúng nói về những chủ đề giống nhau.

Bước 3. Kiểm xét hàng cột công dụng pháp ngữ biện trong biểu đồ dàn lược. Để ý đến những xác quyết, mệnh lệnh, lời răn dạy và những lời tuyên bố khác được tác giả dùng trong bản văn. Chúng nói gì cho bạn về chủ đích của tác giả trong bản tin và đóng vai trò gì trong từng phần của mỗi lời tuyên bố đó.

Bước 4. Hãy viết những câu tóm tắt được chọn lọc ra từ bản văn để diễn tả sự thật cá biệt trong đó. Đôi khi những tư tưởng này thật rõ ràng; đôi lúc nó chỉ được ám chí tới. Trong những lời đơn sơ, hãy viết ra chủ đích thần học liên hệ trong bản văn.

Bước 5. Hãy ghi xuống những điểm thêm vào trong trang Nhìn Nhanh khi có thể ở giai đoạn này.

Câu Hỏi Để Học

  1. Sức mạnh của việc quan sát là gì?
  2. Việc thực tập quan sát nhằm tăng cường khả năng gì?
  3. Nhận diện những điều bao gồm trong việc giúp tăng triển khả năng quan sát.
  4. Khía cạnh nhận ra có nghĩa là gì?
  5. Ba loại quan sát bạn ghi nhận trong biểu đồ dàn lược  là gì?
  6. Khi làm việc quan sát trực thị, tại sao việc kiềm chế xét đoán lại là điều quan trọng?
  7. Mục đích viết những câu tóm tắt để làm gì?

Quan Sát Trực Thị: Mục đích thực tập này là để nhận ra và ghi chép những chi tiết bằng những từ ngữ của chính bản văn và ý nghĩa đặc biệt của nó.

  • Làm việc từ biểu đồ dàn lược.
  • Để ý quan sát từng câu một.
  • Chú trọng đến những gì bạn thấy trong các chữ của bản văn
  • Không đặt câu hỏi tham khảo trong lúc này.
  • Làm thực tập này như giai đoạn thâu lượm tư tưởng bộc phát.
  • Làm nổi bật những quan sát có thể dùng được.

Liên Hệ của Các Tư Tưởng trong Bản Văn
Đi Tìm những:

  • So sánh                                               
  • Đối nghịch
  • Tuyên bố điều kiện
  • Cấu trúc tương quan
  • Lập luận
  • Mục đích
  • Kết qủa

Những chữ đặc biệt

  • Có chủ đề thần học
  • Có nghĩa bóng, tượng hình.
  • Được Lặp đi lặp lại.
  • Có quan hệ tham khảo.

Pháp Ngữ Biện

  • Xác quyết
  • Mệnh lệnh
  • Khyên răn
  • Lời hứa
  • Nguyên nhân
  • Phương tiện
  • Môi giới

Viết Lời Tóm Tắt

  • Dùng từng chủ đề thần học
  • Viết đơn giản và trực thẳng vấn đề
  • Nói ra liên hệ giữa các tư tưởng