12 Khiếu Thuật Giúp Giảng Thuyết Hay

DẪN NHẬP

Dr. Wayne McDill – Dịch Giả L. M. Gioan Trần Khả

Kiện Cường Bài Giảng - Chuẩn Bị Các Pháp Thuật

Michael Jordan chơi bóng làm cho chúng ta thấy qúa dễ dàng. Cầu thủ tuyệt vời này đã có thể chạy suốt sân vận động, đập qủa bọng nhịp nhàng trên sàn, trong khi năm bảy người cố gắng chặn cản, thế rồi anh đã nhảy nhún lên cao với những người khác vỗ tay tán thưởng, và trái banh to bằng qủa bí ngô đã bay lọt rổ dễ dàng như đổ muỗm đường vào ly cà-fê. Chúng ta mừng năng khiếu của anh ta bằng cách tán thưởng và qua anh chúng ta cảm thấy như mình cũng thành đạt được điều gì đó. Tôi mong là mình có thể làm được như thế.

Tôi cũng từng là người ngưỡng mộ Itzhak Perlman. Nghe anh biểu diễn chơi cây đàn vĩ cầm tôi thực ngất ngây. Anh nhắm mắt theo điệu bộ của anh, hứng thú trong mỗi nốt nhạc, vẻ mặt sống động giống như anh đang ca hát qua cây vĩ cầm. Tôi đã bị thu hút vào cách trình diễn của anh và thấy mình hòa theo với điệu nhạc. Tôi mong là mình có thể làm như thế. 

Nhưng tôi không thể chơi bóng rổ giỏi như Michael Jordan hay chơi đàn vĩ cầm như Itzhak Perlman. Bạn cũng chẳng chơi giỏi như họ. Họ có cái gì mà tôi không có? Tại sao họ có thể chơi giỏi như thế trong khi tôi chỉ có thể ngồi để ngưỡng mộ? Trước hết là họ có năng khiếu. Một công thức gia truyền được xây dựng trong hai người rất khác này là một kho báu tặng ban cho một số nhỏ.

Một khác biệt nữa giữa hai người này với chúng ta là thời gian và nỗ lực họ dành vào việc phát triển các năng khiếu đó. Trong khi các bạn và tôi xem truyền hình hồi còn nhỏ, thì Michael Jordan cũng lứa tuổi đó đã tập luyện ném bóng rổ. Itzhak Perlman đã tập luyện các cung nhạc vĩ cầm. Họ đã đầu tư thời giở rảnh rỗi vào việc tự kỷ luật để tập luyện các năng khiếu của họ trong khi hầu hết chúng ta lại phung phí thời giờ tự do rảnh rỗi để làm những thứ khác. Cuối cùng họ đã có tự do để có thể trình diễn như là một người đặc biệt trong muôn triệu người, trong khi chúng ta không làm được như vậy.

Dự đoán của tôi là có ai đó, ở nơi nào đó, đã giúp hai ngôi sao sáng này trong việc tập luyện. Bất kể năng khiếu của họ là gì, ai cũng cần có sự giúp đỡ. Họ đã được dạy những pháp thuật căn bản cho việc làm của họ, kỹ thuật cho mọi năng khiếu họ cần. Và họ đã thực tập. Họ đã thực tập nhiều giờ. Họ chăm chỉ học tập. Họ được thúc đẩy thực tập không ngừng trong khi những người trẻ khác lại làm những quyết định dễ dàng khác với thời giờ của họ.

Không phải tôi chỉ không giỏi chơi bóng rổ và chơi vĩ cầm, tôi cũng chẳng khá gì đối với nhiều cái khác. Tại sao thế? Nó không những cần có năng khiếu nhưng cũng cần có thời gian. Tôi nghe một vị giảng thuyết có tiếng phát biểu trong buổi hội nghị dành cho các mục tử, “Tôi quyết tâm ngay từ khi bắt đầu làm mục vụ là tôi không thể chơi bóng lỗ giỏi được. Tôi quyết định sẽ giỏi trong việc giảng thuyết. Các bạn cần biết chọn điều mà các bạn sẽ làm giỏi bởi vì các bạn chỉ có thể giỏi ở một vài thứ.” Bạn đã chọn để giỏi nổi bật ở điều gì? Bất cứ điều gì bạn sẽ làm giỏi đòi phải có năng khiếu cho việc làm đó. Để làm giỏi bạn cần phải phát triển các năng khiếu liên quan đến những khả năng đó.

Chú Trọng của Việc Học Hỏi Này

Giảng thuyết không phải là một việc dễ dàng. Ở thời nào cũng có người nói rằng giảng thuyết như chúng ta từng biết đó là việc làm của qúa khứ. Những cách khác đã được đề nghị có thể hữu hiệu hơn – tư vấn, kịch diễn, phương tiện truyền thông bằng hình ảnh, thuyết trình với powerpoint.

Những lời của sách Giảng Viên cổ xưa vẫn còn đúng với ngày nay đối với vị giảng thuyết trung tín: “Hơn thế nữa, vì người rao giảng khôn ngoan, họ vẫn dạy kiến thức; đúng, họ suy tư. tìm tòi và sắp xếp nhiều phương ngôn. Người rao giảng tìm kiếm những lời hay; và điều chính trực, ghi chép những lời của sự thật” (Eccl 12:9-10).

Nhiều nhà văn viết về những sách của khoa giảng thuyết ủng hộ việc giảng giải. Họ cho rằng việc rao giảng trung thực nhất là giảng Kinh Thánh và giảng Kinh Thánh đúng nhất phải là việc khai sáng ý nghĩa của bản văn Thánh Kinh. Những vị giảng thuyết khác cho rằng bài giảng phải được tự do thoát khỏi sự ràng buộc của Thánh Kinh.

Trong tập sách học hỏi này tôi ủng hộ việc giảng giải với một phương pháp đặt nền tảng ở bốn điểm được trình bày ở đây.

Thứ nhất, cách làm việc của chúng tôi với bản văn sẽ gồm việc học hỏi Thánh Kinh theo tiến trình đi từ chi tiết đến tổng quát. Phương pháp này nhằm khảo sát cẩn thận và phân tích bản văn từ tất cả chi tiết của nó để khám phá ra điều mà tác giả có ý nói. Cho dù tôi khuyến khích bạn dùng những nguồn gốc của thánh kinh theo như bạn có thể, chúng tôi sẽ làm việc từ bản văn tiếng Anh trong những thực tập này.

Thứ hai, phương pháp của chúng tôi để đi từ bản văn đến bài giảng là một phương pháp truyền thống được gọi là phương pháp chữ chính. Phương pháp này giúp vị giảng thuyết đi theo lề lối để cho bản văn nói qua bài giảng trong nội dung và mục đích. Nó là một phương pháp truyền thống đối với khoa giảng giải.

Thứ ba, Việc lựa chọn và sắp xếp cho tài liệu giảng dùng những yếu tố thuyết pháp thông dụng để thuyết phục. Với lối làm việc này chúng tôi nhìn nhận rằng tài liệu cho bài giảng được thực hiện trong bốn cách: Diễn giải, dẫn chứng, biện luận, và áp dụng. Mỗi yếu tố này đóng góp cho sự cân bằng thu hút đối với người nghe trong việc truyền đạt những chân lý của Thánh Kinh và thuyết phục thính giả đón nhận nó. 

Thứ tư, Phương pháp trình bày ở đây đối với việc chuẩn bị trình bày bài giảng chú trọng đến việc thiết kế lời nói hầu mong đạt được sự thu hút nhất đối với thính giả. Cách chú trọng đến thính giả cho việc trình bày bài giảng là nhằm thông đạt những tư tưởng Thánh Kinh cách hữu hiệu nhất. Bài giảng bởi định nghĩa là một cách trình bày bằng lời nói và phải được chuẩn bị để đến được tai của người nghe giảng.

Bốn điểm nhấn mạnh này là nền căn bản cho bốn phần trong cuốn sách.

Tôi cũng xin nói thêm rằng việc học hỏi này sẽ có giới hạn trong một số cách thức rõ ràng. Thứ nhất, đây không phải là cuốn sách về giảng thuyết nhưng là một việc học hỏi cách dọn bài giảng. Nhiều đề tài thường được đề cập đến trong các sách về khoa giảng thuyết sẽ không được nói đến: như lịch sử giảng thuyết, đời sống của vị giảng thuyết, những phương pháp khác nhau để dọn bài giảng, cách giảng, cùng những vấn đề khác.

Những thập niên vừa qua thường thấy có sự nhấn mạnh đến việc giảng thuyết kể truyện hay giảng thuyết từ chi tiết đến tổng hợp. Những nhấn mạnh này đã nói đến những quan tâm quan trọng về cách các bài giảng có thể tôn trọng những hình thức của bản văn và kích thích hứng thú nơi thính giả. Dù chúng tôi có xác nhận những quan tâm này, việc học hỏi nơi đây sẽ không về cách thực hành việc giảng kể truyện hay giảng chi tiết đến tổng hợp.

Một Kế Hoạch Phát Triển Năng Khiếu

Tiền đề cho cuốn sách này thật đơn giản: Các vị giảng thuyết có thể làm khá việc giảng giải của họ cách rõ ràng bằng việc củng cố mười hai khiếu thuật đặc biệt này được dùng trong việc soạn những bài giảng Thánh Kinh. Nơi đây chúng ta chú trọng vào mười hai việc cần thiết để soạn bài giảng cách hữu hiệu nhất.

Phát triển năng khiếu nghĩa là gì? Năng khiếu có nghĩa là có đủ tài để làm một công việc, đạt được do việc được huấn luyện và qua kinh nghiệm. Các năng khiếu được phát triển qua từng giai đoạn của chương trình huấn luyện với thực tập xứng hợp để làm một công việc. Việc phát triển năng khiếu đặt chú trọng đến thực hành đối với kiến thức có được về một lãnh vực nào đó. Đây là sáu yếu tố của một chương trình phát triển các năng khiếu như chúng ta áp dụng đối với việc chuẩn bị bài giảng.

Điều quan trọng là hiểu những ý niệm quan trọng ở phía sau các năng khiếu mà bạn đang học hỏi. Nếu bạn hiểu tại sao cái đó được làm như thế, thì bạn dễ nhớ cách nó được thực hiện. Các năng khiếu cần cho việc giảng giải được đặt nền trên những nguyên tắc giải nghĩa Thánh kinh, thiết kế bài giảng và phát triển, cách dùng chữ, và việc truyền đạt. Khi chúng ta hiểu những nguyên tắc đó, những năng khiếu đặc biệt chúng ta cần sẽ dễ nhận ra và chúng ta có thể hiểu hơn về tầm quan trọng của các năng khiếu đó trong việc dọn bài giảng.

Việc huấn luyện phát triển năng khiếu đòi hỏi phải trực tiếp cảm nghiệm bằng cách làm việc với các vật dụng của một công việc. Bạn sẽ không bao giờ phát triển các năng khiếu cho một công việc chỉ bằng cách nghe nói về công việc đó. Bạn phải là người trực tiếp bắt tay vào việc chứ không phải chỉ là người nghe nói về nó mà thôi. Điều này gồm sự hiểu biết về tất cả các tài liệu và vật dụng mà bạn xử dụng. Nếu là việc chơi bóng rổ, bạn cần phải đụng chạm đến qủa bóng và cảm nhận được rổ ném bóng. Trong trường hợp dọn bài giảng, những tài liệu sống như các ý tưởng và ngôn ngữ, cách riêng là những lời của bản văn và của bài giảng. Bạn là người ghép chữ trong việc dùng các lời của Thánh kinh và những lời của bài giảng bạn soạn thảo. Do đó bạn càn phải  cảm nhận được những lời đó để chọn lựa chúng và nối kết chúng lại hầu đạt kết qủa tốt nhất.

Các năng khiếu được học biết tốt nhất khi chúng được giải thích từng bước một.

Các năng khiếu cho việc trình diễn nào cũng bao gồm những việc thực hành phải được làm theo một thứ tự. Điều này đòi hỏi những hướng dẫn cụ thể và rõ ràng. Học để làm bất cứ điều gì sẽ dễ dàng hơn nếu công việc được chia ra để có thể thực hiện được từng bước một. Cách thức hướng dẫn làm phải được viết ra rõ ràng để tham khảo và hỗ trợ khi bạn tiếp tục thực hiện.

Việc phát triển năng khiếu phải nhìn nhận rằng những người khác nhau đến để thực hiện công việc với kinh nghiệm và chuyên nghiệp khác biệt trong mỗi năng khiếu. Phát triển năng khiếu trong khoa giảng thuyết cũng giống như thế. Bạn thực hiện khá nhất theo như khả năng và trình độ của bạn. Nếu bạn đã là người có năng khiếu về một việc nào đó, bạn sẽ muốn tiến sang những năng khiếu khác mà bạn cần củng cố. Các vị giảng thuyết có những năng khiếu và trình độ khác nhau trong tính sáng tạo và khả năng. Tốt nhất là làm việc từ căn bản trong khi cho phép có nhiều tự do đối với tính sáng tạo.

Phát triển các năng khiếu đòi biết học làm theo những công việc riêng biệt nhờ đó học viên có thể thấy cách một người đầy kinh nghiệm thực hiện như thế nào. Cho dù các hướng dẫn có rõ ràng đến mấy, những thí dụ cụ thể vẫn là điều cần thiết. Tốt nhất là có huấn luyện viên hiện diện để dẫn giải cách làm một công việc mà bạn đang học hỏi. Khi bạn làm việc củng cố khả năng dọn bài giảng, bạn sẽ cần không những là các lời chỉ dẫn nhưng còn cần các thí dụ dẫn giải cho thấy nó như thế nào trên trang giấy.

Tập sách này thiết bị để cung cấp cho bạn những hướng dẫn và thí dụ cần thiết cho việc giảng giải.

Trong việc phát triển các năng khiếu giảng thuyết thì không cái gì có thể thay thế việc thực tập. Chỉ vì bạn nghĩ là bạn hiểu điều gì đó thì không có nghĩa là bạn có thể làm nó được. Thực hành là cách duy nhất để làm chủ được một năng khiếu, ngay cả việc dọn bài giảng. Điều này có nghĩa là việc biên soạn, biên soạn và biên soạn hơn nữa. Hoàn tất công việc một lần không có nghĩa là thực hành. Thoạt đầu công việc có thể bị coi là nhỏ nhoi không quan trọng, và bạn không tin chắc lắm. Nhưng khi bạn tiếp tục làm việc với các bản văn, bạn sẽ thấy mình quen thuộc hơn với công việc này. Đừng làm một việc soạn thảo qúa ba hay bốn giờ đồng hồ một lúc. Làm như thế bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi tâm trí và bực bội với công việc. Thường xuyên và trung thành thực hành trong tuần thì tốt hơn là làm luôn một lúc.

Ơn Ban Tặng và Năng Khiếu

Là những nhà giảng thuyết chúng ta đến trong nhiều cách khác nhau. Một số người có cá tính sống động hoạt bát trong khi một số khác không có. Một số người theo tự nhiên có cảm xúc mạnh mẽ, tỏ ra quan tâm hơn, và nóng bỏng hơn. Một số người có khả năng nhận xét rõ ràng trong sáng trong khi nhiều người khác dường như lúng túng và ăn nói vấp váp. Một số tự nhiên có tài ăn nói diễn giải lưu loát và hướng ngoại, thêu dệt bóng bảy và làm chủ tình hình, trong khi những người khác run rảy, hồi hộp lo sợ đứng trước công chúng. Nhưng tất cả chúng ta đều được ban tặng những năng khiếu và có thể phát triển cách xứng hợp đối với các năng khiếu đó.

Ơn gọi giảng thuyết đến với những năng khiếu cần thiết cho ơn gọi đó. Cho dù những năng khiếu đó chưa hoàn toàn phát triển, bạn có năng khiếu cần thiết cho những điều kiện này nếu bạn được kêu gọi. John Broadus viết năm 1870 rằng vị giảng thuyết cần “khả năng suy nghĩ trong sáng, với những cảm xúc mạnh, và óc tưởng tượng sống động; và khả năng diễn tả và uy lực phát biểu mạnh mẽ.” Nhiều thế hệ đã qua đi từ khi những lời này được viết ra, nhưng các năng khiếu cần thiết cho khoa giảng thuyết vẫn còn giống như thế.

Chúng ta dùng từ ngữ ơn ban tặng có nghĩa là một phẩm tính tự nhiên hay một ơn huệ được Chúa ban, những ơn huệ thiêng liêng hay những khả năng tự nhiên. Tân ước bàn đến những ơn thiêng liêng như ơn giảng thuyết được Thiên Chúa ban bởi Chúa Thánh Thần (1 Cor. 12:10, 28-29). Khả năng có nghĩa là món qùa đuợc ủy thác cho một người để dùng và thăng tiến. Đây là từ ngữ được dùng trong dụ ngôn người được ban cho các khả năng. Do đó khả năng có nghĩa là bất cứ khả năng, khả thể hay sức tự nhiên nào của chúng ta.

Ý tưởng về các tài năng hay năng khiếu khác với những ơn huệ hay khả năng. Một người có tài năng hay là có năng khiếu là người đã đạt được năng khiếu đó qua kinh nghiệm hay qua chương trình huấn luyện học tập. Chúng ta không thể thay đổi ơn huệ hay khả năng, nhưng chúng ta có thể tập tành năng khiếu để diễn tả chúng. Chúng ta có thể phát triển những tài năng và ơn huệ thiêng liêng giống như qua việc huấn luyện và qua kinh nghiệm.

Chúng ta thừa hưởng những ơn huệ tự nhiên này từ người đi trước qua những hình thức di truyền cá biệt. Tôi đã rất ngạc nhiên nhận ra tôi rất giống cha tôi ở nhiều nét. Tôi có những cử chỉ, cách đứng  hay cách cười, và cảm thấy có sự hiện diện của cha tôi nơi những cử chỉ ấy. Đó là điều phải như thế. Đó là gói thừa hưởng mà tôi phải cùng cộng tác và cố gắng trở nên người giảng thuyết theo khả năng của tôi.

Mai-sen phàn nàn một trong những lời thoái thác của ông là, “Lạy Chúa, con chưa hề bao giờ có tài ăn nói . . . Con ăn nói vụng về” (Xuất Hành 4:10). Nhưng Thiên Chúa trả lời thẳng, “Ai đã làm nên môi miệng con người? . . . Do đó, bây giờ hãy lên đường và Ta sẽ ở với người và dạy người nói điều phải nói” (Xuất Hành 4:11). Mai-sen không phải là người bẩm sinh đả có tài rao giảng, nhưng Thiên Chúa đã có kế hoạch dùng ông.

Chúa Giêsu, trong dụ ngôn những nén bạc, nhìn nhận rằng chúng ta không được ban cho đồng đều các khả năng (Mtt 25:14-30). Thiên Chúa, trong quyền năng của ngài, đã ban theo như ngài muốn ban cho mỗi người chúng ta. Điểm chính của dụ ngôn không phải là mỗi người nhận lãnh bao nhiêu nén nhưng là họ đã làm gì với những khả năng họ được lãnh nhận. Bất kể cấp bậc của ân huệ, mỗi người phải trả lẽ đối với Thiên Chúa về cách xử dụng những cái họ lãnh nhận. Đó chính là điều mà chúng ta, những người làm việc giảng thuyết phải đối diện ngày nay. Thiên Chúa đã đầu tư nơi chúng ta tất cả những gì chúng ta cần để làm theo ơn Ngài kêu gọi. Bây giờ chúng ta là những quản gia trung tín đối với các ơn huệ của Ngài.

Các Năng Khiếu Soạn Thảo

Việc soạn bài giảng bao gồm một chuỗi những việc mà vị giảng thuyết phải lần lượt hoàn tất. Hầu hết các vị giảng thuyết có hệ thống làm việc riêng của họ cho việc soạn bài giảng qua những thử nghiệm và sai lầm. Họ chỉ rơi vào vài thói quen học hỏi. Có những người có tổ chức biết hoạch định công việc của họ chi tiết hơn. Những người khác chỉ làm cách lộn xộn rối reng. Hầu hết các vị giảng thuyết rơi vào lối soạn bài giảng dựa trên những thói quen không tốt thay vì thói quen tốt thuộc khoa giảng thuyết.

Điều tôi trình bày chi tiết ở đây là một chuỗi những thực tập bạn có thể dùng để giúp làm khá hơn các khiếu thuật soạn thảo bài giảng theo thời giờ của bạn cho phép. Mỗi việc làm có thể trở nên một phần cho hệ thống soạn bài giảng của bạn. Mỗi việc làm thực tập đề cập đến một yếu tố riêng cho việc soạn bài giảng cách tốt đẹp. Mỗi khiếu thuật được đặt căn bản trên những nguyên tắc hay trong việc diễn giải hay truyền đạt và đem lại kết qủa lợi ích cho sản phẩm cuối cùng là bài giảng. Bạn có thể đọc qua cuốn sách theo thứ tự các chương để có thể cảm nhận được ý nghĩa của mỗi thực tập. Sau đó chú tâm vào khiếu thuật mà bạn cảm thấy mình yếu kém nhất. Sau khi đã làm chủ được khiếu thuật đó, bạn tiếp tục tiến thêm đến khiếu thuật cần thiết khác.

Việc học hỏi này được thiết kế chung quanh mười hai khiếu thuật cần thiết cho việc giải giải. Các khiếu thuật này được chia thành bốn phần trong cuốn sách và được chú tâm đến những giai đoạn của tiến trình soạn thảo bài giảng. Thứ nhất là phân tích bản văn. Sau đó là diễn giải ý nghĩa thần học của bản văn. Thứ ba là thâu góp những tài liệu phụ giúp cần có để trình bày các ý tưởng cách thuyết phục. Sau cùng là đề cập đến việc thiết kế bài giảng để truyền đạt tới thính gỉa hiện thời.

Giảng Giải là Gì?

Một trong những chú tâm riêng của chương trình học hỏi này là việc nhấn mạnh đến sự trình bày. Trong những giáo phái Tin Lành, từ ngữ “giảng giải” đã trở nên tiêu biểu cho việc giảng Tin Mừng. Tuy nhiên điều gì thực sự làm nên việc giảng giải thì lại khác biệt đối với mỗi tác giả và mỗi vị giảng thuyết.

Tôi đã nói chuyện với nhiều vị giảng thuyết và họ diễn tả họ là những người trình bày, và tôi tin là như thế cho đến khi tôi nghe họ giảng. Đối với nhiều người, giảng giải dường như có nghĩa là lấy một đoạn kinh thánh và giảng về vấn đề mà đoạn kinh thánh đó có ý đề cập đến. Đối với một số khác khác thì giảng giải có nghĩa là định nghĩa một số từ ngữ trong bản văn. Với những người khác thì giảng giải dường như có nghĩa là nói về lịch sử của bản băn với hầu hết các động từ ở thì qúa khứ.

Từ ngữ giảng theo La-tinh là expositio có nghĩa là trình bày, kể ra, hay phô bày ra. Khi dùng cho giảng thuyết, từ ngữ đó trở nên có nghĩa là “lôi ra” hay “diễn nghĩa cho bản tin” của bản văn Kinh Thánh. Trong việc giảng giải thì bài giảng được thiết kế để truyền đạt điều mà bản văn muốn nói, bao gồm cả ý nghĩa cho những người hiện đại lắng nghe.

Đây là bảy phẩm chất của việc giảng giải có uy tín dựa trên những định nghĩa của một số tác giả của nhiều thế hệ.

Trong việc giảng giải thì chủ đích trước tiên của vị giảng thuyết là khám phá ý nghĩa thần học theo ý của tác giả viết trong bản văn đó. Chúng ta những nhà giảng thuyết có khuynh hướng tìm bài giảng trong sách Thánh Kinh. Chúng ta mong có điều gì đó nẩy ra để chúng ta giảng. Nhưng một chương trình của việc giảng giải kêu gọi vị giảng thuyết nhắm vào việc hiểu rõ ý nghĩa của tác giả về bản văn. Chỉ như thế thì bản tin thần học mới có thể được giảng giải thích hợp như một bài giảng.

Giảng giải là việc mà vị giảng thuyết tìm để cho bản văn nói với họ một lần nữa qua bài giảng với cùng bản tin thần học. Thiên Chúa có ý để bản tin nguyên thủy được công bố; và bây giờ Ngài muốn nó được giảng giải lần nữa. Tính chất phổ quát và vượt thời gian của bản tin được mặc trong tấm áo lịch sử của bản gốc là bản tin mà vị giảng thuyết công bố cho những người thời nay. Vị giảng thuyết giải thích cùng một chân lý từ bản văn cho thính giả của mình.

Vị giảng thuyết về các bài giảng khám phá ra ý nghĩa của bản văn qua việc phân tích giải mã kỹ lưỡng bản văn trong tất cả các chi tiết. Vị giảng thuyết đến với bản văn giống như một thám tử điều tra một hiện trường phạm pháp. Họ tra xét mọi dấu vết có ý nghĩa. Các dấu vết trong bản văn là những từ ngữ của tác giả bản văn. Chúng ta biết điều tác giả có ý nói qua điều tác giả viết, nhưng các chi tiết có thể dễ dàng bị bỏ qua đối với những người không tỉ mỉ. Người giảng giải sẽ tra xét cẩn thận mọi chi tiết có liên hệ đến bản tin của tác giả.

Giảng giải đòi sự cân nhắc cẩn thận về bối cảnh nguyên thủy khi bản văn được viết ra. Giải thích bản văn  đòi hỏi một cái nhìn cẩn thận vào nội dung văn thể, các chương và các câu trước và sau bản văn, cũng như bản viết khác của tác giả và của toàn bộ thánh kinh. Thêm vào đó là bối cảnh lịch sử của bản viết nguyên thủy, bao gồm văn hóa địa phương, chính trị, kinh tế, hoàn cảnh và những yếu tố khác. Bối cảnh nguyên thủy của bản văn không những hình thành bản tin nhưng còn tham gia vào bản tin nữa.

Bài giảng được tổ chức sắp xếp và được để ý đến cách kiến trúc và văn thể của bản tin được chọn lọc. Căn bản là cách tác giả của  bản văn trình bày vấn đề sẽ hướng dẫn thể thức kiến trúc bài giảng của vị giảng thuyết. Loại văn thể của bản văn sẽ ảnh hưởng đến việc thiết kế bài giảng của vị giảng thuyết. Chúng ta luôn luôn nên kể truyện khi giảng một bản văn thuộc loại văn kể truyện, dù chúng ta còn làm nhiều hơn thế. Chủ đích của các bản văn thuộc loại kêu gọi và dạy bảo phải nên được phản ảnh trong mục đích của bài giảng.

Vị giảng thuyết trong giảng giải sẽ tìm gây ảnh hưởng đối với thính giả qua việc dùng những yếu tố biện luận thông dụng để thuyết phục. Theo định nghĩa một bài giảng là một bài thuyết phục. Mục đích của vị giảng thuyết là thuyết phục thính giả với sự thật của bản tin và điều họ nên làm. Chúng ta thường hay thuyết phục bằng cách giải thích, dẫn chứng, tranh luận, và áp dụng. Những yếu tố này cung cấp sự quân bình đối với những tài liệu hỗ trợ cho các ý tưởng của bài giảng và cho phép vị giảng thuyết trình bày ý nghĩa của bản văn cho người thời nay.

Giảng giải nhắm đến việc đáp theo đức tin và tuân theo chân lý của Thánh Kinh nơi người nghe. Trong chương trình học hỏi này chúng ta sẽ đồng ý rằng mục đích tổng quát của giảng thuyết là mời gọi người nghe đáp theo đức tin. Các tác giả bản văn tin điều họ viết và truyền đạt điều đó để những người khác có thể tin và tuân hành. Vị giảng thuyết nhớ giữ chủ đích tin theo này ngay từ klúc bắt đầu đọc bản văn cho tới khi thiết kế bài giảng. Bài giảng phải đặt trọng tâm ở Thiên Chúa để chỉ cho người nghe hướng đến đối tượng của lòng tin chân thật.

Đề Nghị cho Việc Học Hỏi Này

Để kết thúc chương giới thiệu này, tôi muốn ôn lại một vài xác tín căn bản mà tôi đã học được về cách giảng. Hầu hết những ý tưởng này là điều quen thuộc với bạn. Thực vậy, tôi tin là bạn cùng có những giả định này về điều cần học để giảng hay nhất theo khả năng của bạn. Đây là những xác tín của tôi về ciệc củng cố khiếu thuật giảng thuyết.

Soạn thảo bài giảng là một việc làm siêu nhiên. Tôi rất ngạc nhiên là Thiên Chúa đã chọn để tỏ lộ chính Ngài qua việc giảng thuyết. Nếu bạn là Thiên Chúa, bạn có tin đặt Nước Trời vào tay của những vị giảng thuyết mà bạn quen biết? Thánh Phao-lô đặt vấn đề rất đúng, “Ai có thể xứng đáng cho những việc này? (2 Cor 2:16). Mọi yếu tố trong việc rao giảng đòi hỏi phải tha thiết cầu nguyện. Chúng ta rao giảng bằng đức tin. Chính Thiên Chúa làm việc cho các mục đích của Ngài.

Giảng hay không phải là một biệt tài nhiệm mầu dành cho một số người đặc biệt. Với hàng mấy trăm sinh viên trong các lớp học của tôi qua nhiều năm, chỉ có một số ít  người có “10 nén tài” và vài người có “5 nén tài” và vài người có “1 nén tài.” Tôi không đồng ý với ý nghĩ cho rằng chỉ có một số vị giảng thuyết có thể có ảnh hưởng. Giống như tất cả các lãnh vực khác, chìa khóa để thăng tiến là lòng muốn, vững bền và chăm chỉ. Huấn luyện giảng thuyết cần được thiết kế để giúp người có một nén cùng học với người có nhiều nén hơn.  

Ai cũng có thể học những phương pháp được dùng để soạn các bài giảng. Bất cứ ai có trí thông minh bình thường đều có thể học phân định các chân lý trong Thánh Kinh và công bố giúp lợi ích cho người nghe. Tuy chúng ta nghĩ đến những nhà giảng thuyết lừng danh thời trước và các ngôi sao sáng giảng thuyết  ngày nay như là mô phạp cho khoa giảng thuyết, đa số các Kitô hữu thường được nghe giảng từ các vị mục tử khiêm tốn và ít văn hoa từ tuần này qua tuần khác nơi các nhà thờ nhỏ khắp nơi. Trong khi chúng ta tạ ơn Chúa cho những vị giảng thuyết có hàng ngàn vạn người nghe, chúng ta cũng tạ ơn Chúa là những người giảng cho chỉ vài chục người và cũng có ảnh hưởng trên người nghe như thế.

Giảng thuyết là một khoa học trước khi là một nghệ thuật, đòi phải đi vào kỷ cương trước khi có tự do. Đôi khi những phương pháp này dường như máy móc và cứng ngắc. Soạn thảo bài giảng  dường như là việc “điền vào chỗ trống.” Những thực tập này đại diện cho nỗ lực có ý chia cắt ra thành những bước ngắn đơn giản cho tiến trình dọn các bài giảng cho có hiệu lực. Vì chúng ta làm việc với Thánh Kinh, chúng ta cần phải là những học sinh cẩn trọng trước khi có thể là những nhà xây dựng đức tin có ảnh hưởng. Nó đòi phải làm việc nhiều trước khi có tự do.

Những thói quen cũ thường chống bác lại những phương pháp mới và đòi phải có khách quan và kỷ cương. Nếu bạn đã đọc đến đây, rất có thể bạn đã là nhà giảng thuyết, hoặc đang dự tính trở thành nhà giảng thuyết. Có thể bạn đã giảng được vài năm. Nếu như thế thì bạn đã có những phương pháp dọn bài và giảng giải thích hợp cho bạn. Nó là điều khó để có thể bỏ các phương pháp đó qua một bên để khách quan tìm hiểu phương cách mới, nhưng sự khách quan đó là điều cần thiết nếu việc học hỏi này có thể giúp ích. Bạn không học hỏi được nhiều nếu bạn bắt đầu bảo vệ và bênh vực cho những phương cách của riêng mình và chống bác những phương pháp được trình bày ở đây. Xin hãy tạm ngừng xét đoán để lợi dụng xem có thể học hỏi được thêm điều gì để bạn có thể áp dụng.

Yếu điểm lớn nhất trong giảng thuyết là sự lờ mờ tăm tối, ý tưởng không rõ ràng. Trong tất cả các yếu điểm có thể được nói đến, tôi tin yếu điểm lớn nhất trong giảng thuyết là tư tưởng không trong sáng rõ ràng. Nhưng chúng ta có thể nhận ra khuyết điểm này và sửa lại. Trừ khi vị giảng thuyết suy nghĩ với tư tưởng trong sáng rõ ràng, những người nghe chắc chắn sẽ không hiểu rõ.

Vị giảng thuyết là người ghép chữ cẩn thận làm sáng tỏ tư tưởng suy nghĩ của họ và dùng chính xác các từ ngữ. Nó là điều rất khó để bạn có thể biết nói điều bạn muốn nói cho đến khi bạn xếp đặt thành lời.  Lời nói hình thành tư tưởng và phân biệt tư tưởng này với những ý tưởng khác. Xếp thành lời là một khoa học và là một nghệ thuật giống như các việc khác. Và đây là công việc của vị giảng thuyết.

Giảng thuyết cho phép bản văn hình thành bài giảng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về việc giảng Tin Mừng. Có lễ cách đơn giản nhất tôi có thể diễn tả là một bài giảng Tin Mừng là bài giảng trong đó bản văn tin mừng hình thành bài giảng. Mục đích, chủ đề, thiết kế và phát triển bài giảng phản ảnh bản văn. Đó chính là ý nghĩa của việc giảng giải.

Thánh Kinh là một nguồn phong phú và không giới hạn, mới mẻ và vượt thời gian cho việc giảng thuyết. Tôi không thông minh đủ để nghĩ ra điều gì đó thuộc thần học và hữu dụng để nói chừng nửa giờ đồng hồ ba lần mỗi tuần từ năm này qua năm khác. Bạn cũng chẳng làm được điều đó. Chúng ta không được theo thói giảng giải mà trong bài giảng lại có tới 90% tư tưởng của vị giảng thuyết và chỉ có chừng 10% giảng về Thánh Kinh. Thánh Kinh là cuốn sách được ghi lại mạc khải của Thiên Chúa. Đó là nguồn hay nhất, mới mẻ nhất và ý nghĩa nhất cho việc giảng giải.

Với những giả định và chủ đích phát triển khiếu thuật này, chúng ta sẽ làm việc với mười hai khiếu thuật cho việc soạn thảo bài giảng. Tập sách này được chia thành bốn phần: Phân tích bản văn, Giải thích thần học, Phát triển bài giảng, và Thiết kế bài giảng. Chúng ta bắt đầu với việc cẩn thận phân tích từ chi tiết của bản văn Thánh Kinh.

Câu hỏi

  1. Phát triển các khiếu thuật để giúp thăng tiếng trong giảng thuyết nghĩa là gì?
  2. Một số nét đặc trưng của chương trình phát triển khiếu thuật là gì?
  3. Tài năng, ơn huệ và năng khiếu khác nhau thế nào?
  4. Theo tác giả, yếu điểm lớn nhất trong giảng thuyết là gì?
  5. Những dấu của việc giảng giải là gì?
  6. Tác giả quan niệm cho rằng khả năng giảng thuyết của bạn như thế nào?