Mẹ Cứu Giúp

ĐẤNG GIẢI THOÁT TINH THẦN NÔ LỆ

Thế giới ngày nay được gọi là văn minh vì sự tiến bộ của nhân loại về nhiều phương diện, trong đó, giá trị con người được đề cao, mọi người được bình đẳng bất kể mầu da, sắc tộc hay thành phần xã hội, vì thế, ngày nay không còn nạn buôn bán nô lệ như ngày xưa. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nô lệ dưới hình thức bóc lột sức lao động như ở các nước Á Châu – nhân công phải làm nhiều giờ mà không được nghỉ, không được trả lương xứng đáng – hoặc tệ hơn nữa là nạn “human trafficking” đang diễn ra trên thế giới, các tay ma-cô đưa người lén lút vào các quốc gia giầu mạnh để bị cưỡng bức lao động hay bị cưỡng ép mãi dâm.

Để bảo vệ các nạn nhân, chính phủ các quốc gia đưa ra những luật lệ nghiêm khắc trừng phạt các tội phạm. Nhưng thực tế cho thấy ngoài sự nô lệ về thề xác còn có sự nô lệ về tinh thần mà các chính phủ không làm gì được. Đây là lý do người ta phải tìm về tôn giáo như chúng ta thấy trong bài đọc một hôm nay.

Lúc bấy giờ dân Do Thái, sau thời gian lưu đầy ở xứ Babylon, được trở về Giêrusalem sống trong tự do. Tâm trạng chung của con người sau khi thoát khỏi cảnh nô lệ là muốn sống tự do theo ý mình. Họ không muốn tuân theo bất cứ mệnh lệnh nào ở trên, dù là lề luật của Thiên Chúa. Nhưng thay vì được hạnh phúc, họ lại bị đau khổ vì nhiều tội ác xảy ra trong một xã hội vô trật tự – nào là cướp bóc, trộm cắp, gian dâm, ngoại tình, bất công và đủ loại xáo trộn.

Để cứu dân Do Thái, Thiên Chúa đã gửi đến ông Nêhêmia và Étda để cảnh tỉnh dân này. Như chúng ta nghe trong bài đọc một hôm nay, hai ông đã đọc lại các lề luật của Thiên Chúa và giải thích cho dân chúng nghe. Họ đã ăn năn, khóc lóc thảm thiết khi nhìn thấy tội của mình. Họ nằm phủ phục úp mặt xuống đất vì xấu hổ. Ông Nêhêmia đã an ủi họ với một câu thật ý nghĩa, “Hôm nay anh chị em đừng buồn sầu, vì sự hân hoan trong Chúa phải là sức mạnh của anh chị em!” (Do not be saddened this day, for rejoicing in the LORD must be your strength!” – NABRE). Ông nhìn thấy rằng vâng phục lề luật của Thiên Chúa là một sức mạnh, vì để giải thoát con người khỏi sự ràng buộc của tội lỗi, đó là sự khó khăn cần phải có sức mạnh tinh thần mới vượt qua được.

Hoàn cảnh dân Do Thái thời bấy giờ có lẽ cũng tương tự như hoàn cảnh của người Việt chúng ta ngày nay, khi từ một quốc gia nghèo nàn, thiếu tự do, thiếu nhân phẩm, chúng ta đến sống trong một quốc gia đứng đầu thế giới về văn minh tiến bộ, giầu mạnh kỹ thuật, chúng ta được sung sướng đủ mọi mặt và được hưởng mọi thứ tự do. Có thể nói các quyền căn bản của người dân ở Hoa Kỳ được tôn trọng triệt để, chính trong bầu khí tự do đó, nhiều khi, chúng ta cũng không muốn tuân theo các lề luật của Thiên Chúa và của Giáo Hội.

Khi xã hội chủ trương tự do luyến ái, nhiều người Công Giáo cũng tự do sống chung với nhau hay lấy nhau mà không đến nhà thờ, không muốn theo các thủ tục chuẩn bị hôn nhân của Giáo Hội. Khi ly dị cũng thế, họ cũng không muốn đến gặp một linh mục hay phó tế để được khuyên bảo hay ít nhất một lời cầu nguyện cho tình trạng hôn nhân của mình mà họ đi tìm luật sư để bảo đảm “phần thắng về mình” trong án ly dị!

Trong những hoàn cảnh như thế, lề luật của Thiên Chúa và của Giáo Hội được coi như cản trở sự tự do, hoặc tệ hơn nữa, bị coi là gánh nặng cho đời sống. Sự thực có phải như thế không?

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, sự tự do đem lại hạnh phúc đích thực cho con người thì phải giải thoát con người khỏi mọi nô lệ, ngay cả nô lệ chính bản thân. Nói cách khác, có lợi ích gì cho chúng ta khi được tự do sống thỏa thích theo ý riêng của mình mà chúng ta lại lệ thuộc vào sức quyến rũ của xác thịt, của vật chất, của danh vọng, hay thế lực? Nguy hiểm hơn nữa khi lối sống ấy sai lạc với đường lối của Thiên Chúa rồi chẳng may một tai nạn tử thương xảy đến cho chúng ta thì sao? Một người khôn ngoan thì phải nghĩ đến tương lai xa hơn là những gì có thể thấy trước mắt. Có lẽ đây là một trong những lý do Giáo Hội đưa đoạn phúc âm chúng ta vừa nghe vào các bài đọc hôm nay để giới thiệu cho chúng ta biết về Đức Giêsu qua lời tiên báo của ngôn sứ Isaia về Đấng Cứu Thế.

Chúng ta hãy nghe lại lời Đức Giêsu đọc trong hội đường ở Nagiarét: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.” Sau đó Người tuyên bố, “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Đức Giêsu gián tiếp cho dân chúng thời bấy giờ, cũng như chúng ta, biết rằng Người là Đấng Cứu Thế.

Đoạn phúc âm này, thoạt nghe qua, chúng ta có cảm tưởng sứ vụ của Đức Giêsu không dính dáng gì đến chúng ta, những người có thể nói là giầu sang hơn hàng triệu người nghèo khổ trên thế giới.

Chúng ta không nghèo về vật chất, của cải, nhưng rất có thể chúng ta nghèo tình thương, nghèo sự công bằng, nghèo lòng bác ái. Nếu chúng ta không cảm thấy hạnh phúc trong một đời sống dư thừa vật chất, có lẽ chúng ta là những người nghèo về tinh thần. Nếu chúng ta sống trong một gia đình sung túc nhưng không có hạnh phúc, có lẽ chúng ta nghèo tình thương đối với nhau. Nếu gia đình chúng ta đã có đầy đủ tất cả nhưng đời sống vẫn chưa có ý nghĩa, có lẽ chúng ta nghèo lòng bác ái đối với những người kém may mắn hơn chúng ta.

Chúng ta được tự do, không bị cầm tù theo nghĩa đen, nhưng rất có thể chúng ta đang bị giam hãm trong những đam mê bất chính, những dục vọng thấp hèn mà không thể nào thoát ra khỏi, đây là lúc chúng ta cần tìm đến Đức Giêsu để được giải thoát.

Chúng ta không mù lòa theo nghĩa thông thường, nhưng rất có thể chúng ta sống trong tăm tối vì theo đuổi những lầm lạc, những danh vọng, những giá trị tạm bợ của thế gian mà không nhận ra các chân lý của đời sống, đây là lúc chúng ta hãy suy nghĩ lại để tìm về các phúc âm để được khai sáng bằng lời Chúa.

Thánh Vịnh Đáp Ca hôm nay nói với chúng ta rằng, “Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống” (Your words, Lord, are Spirit and life – NABRE). Thật vậy, khi ông Nêhêmia và Étda đọc sách thánh và giải thích lề luật của Thiên Chúa cho dân nghe, Thần Khí của Thiên Chúa đã đánh động tâm hồn những kẻ tội lỗi để thấy được những sai trái của mình, và thúc giục họ ăn năn hối lỗi để được sống.

Trong Giáo Hội Công Giáo, ngoài bảy bí tích còn có những á bí tích, là ảnh tượng, nến, dầu, chuỗi tràng hạt, nước phép, v.v. để giúp giáo dân có thêm vũ khí trong cuộc chiến đấu với ma quỷ. Sức mạnh của các á bí tích ấy từ đâu mà có? Xin thưa từ lời Chúa được đọc lên trong những công thức của Giáo Hội, tỉ như công thức làm phép nước trong đêm Phục Sinh. Những gì được viết trong sách thánh, trong phúc âm chỉ là chữ viết, nhưng khi được công bố trong một nghi thức với một đức tin, các chữ ấy trở thành lời Chúa, có sức mạnh biến đổi tâm hồn, biến đổi những vật dụng tầm thường trở nên vũ khí có sức mạnh mà ma quỷ phải sợ hãi, bởi vì “Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống.” Đây là lý do Giáo Hội muốn chúng ta tham dự các Thánh Lễ để được nghe các bài đọc, bài giảng, để được Thần Khí Thiên Chúa chạm đến tâm hồn chúng ta và giúp đời sống chúng ta trở nên chính trực.

Tự do là bản chất tự nhiên của con người vì nó được xuất phát từ Thiên Chúa và chúng ta được thừa hưởng vì loài người được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa. Thiên Chúa có tự do hành động hay không hành động – không ai có thể ép buộc được Thiên Chúa. Cũng vậy, chúng ta cũng muốn được tự do trong mọi hành động để chứng tỏ giá trị của một con người, nhưng vì bản chất yếu đuối của loài người, thay vì hành động hướng đến Thiên Chúa chúng ta lại hướng về chính mình, thay vì nâng cao phẩm giá con người, có khi chúng ta lại hạ thấp phẩm giá ấy bằng những hành vi xấu xa, vì thế, thay vì được tự do chúng ta lại nô lệ cho chính mình.

Thiên Chúa muốn giải thoát chúng ta khỏi mọi ràng buộc, kể cả chính bản thân. Đức Giêsu dậy chúng ta kinh Lậy Cha để hàng ngày chúng ta xin vâng theo thánh ý của Thiên Chúa hơn là ý riêng của mình. Khi tự ý vâng theo một thẩm quyền trên chúng ta với mục đích giải thoát chúng ta khỏi sự ràng buộc của tội lỗi và của chính bản thân, đó không phải là sự yếu hèn, nhưng đó là một sức mạnh. Cũng như dân Do Thái xưa đã được Thần Khí soi sáng để nhận biết giá trị của lề luật Chúa, chúng ta cũng phải hân hoan sống theo lề luật của Thiên Chúa vì “Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống” cho chúng ta.

Pt Giuse Trần Văn Nhật