THAY ĐỔI MỘT ẤN TƯỢNG

Pt Giuse Trần Văn Nhật

Sống ở trên đời này, dù muốn hay không, bất cứ ai cũng để lại một ấn tượng nơi người khác. Ấn tượng đó tốt hay xấu thì tùy theo cái nhìn chủ quan của người khác. Nếu họ có cảm tình với mình, họ sẽ có ấn tượng tốt, và ngược lại.

Alfred Nobel là một kỹ sư và nổi tiếng về chế biến hóa học. Ông có 355 bằng sáng chế khác nhau nhưng nổi tiếng nhất là sáng chế ra thuốc nổ, và ông còn là chủ nhân hãng sắt thép để chế tạo súng đại bác và các vũ khí khác vào đầu thế kỷ 19. Ông là một người giầu nổi tiếng của nước Thụy Điển.

Vào năm 1888, em của ông từ trần nhưng một tờ báo ở Pháp lại lầm tưởng chính ông và họ đăng một bản cáo phó với tựa đề như sau: “Tay buôn bán tử thần đã chết rồi!”, trong đó họ viết: Nobel “trở nên giầu có vì tìm được những cách để giết người nhanh hơn bao giờ hết.” Ông Nobel vô cùng bàng hoàng khi đọc bản cáo phó đó. Ông thấy người đời có một ấn tượng thật xấu về ông, và ông quyết định thay đổi cái nhìn đó bằng cách dùng hầu hết tài sản của mình để làm phần thưởng cho những ai hoạt động cho hòa bình thế giới, nhờ đó ngày nay, hàng năm, chúng ta có giải Nobel Hòa Bình, trị giá khoảng 1.1 triệu đôla.

Ông Nobel đã đổi ấn tượng từ xấu sang tốt bằng khối tài sản kếch xù của ông, nhưng so với điều mà Đức Giêsu đã đổi từ xấu sang tốt mà chúng ta đang vui mừng hôm nay thì khối tài sản đó không thể nào mua được. Đó là, thay vì thân xác bị hư nát bởi sự chết, loài người sẽ sống lại trong một thân xác mới giống như thân xác phục sinh của Chúa Giêsu.

Sự phục sinh thân xác là điều không ai mường tượng được, vì thế nhiều người không tin, cho rằng đây là sự bịa đặt của những người theo Chúa Kitô. Người thời nay nghi ngờ thì cũng không khác gì người thời xưa. Họ cũng cho rằng các môn đệ của Chúa đã lấy xác của Người rồi phao tin là Chúa của mình đã sống lại. Qua đoạn phúc âm ngắn ngủi hôm nay, chúng ta thử suy nghĩ về một vài điểm để thấy rằng sự phục sinh là điều có thật.

Người ta có thể tin vào một sự kiện bởi chứng tích còn sót lại hay bởi các nhân chứng. Chứng tích đầu tiên cho sự phục sinh của Chúa Giêsu là ngôi mộ trống và các khăn liệm còn để lại. Ngôi mộ không có xác thì có thể bởi ai đó đã đem xác đi nơi khác. Nhưng tại sao lấy xác thì chúng ta không có câu trả lời thỏa đáng. Bởi vì người Do Thái thì sợ bị ô uế khi đụng đến tử thi. Còn người La Mã thường hỏa thiêu xác chết vì họ không tin vào sự sống lại của con người. Và ngay cả các môn đệ môn đệ của Chúa cũng không mường tượng được sự phục sinh thân xác như thế nào, bởi thế, khi đi ra thăm mộ và thấy ngôi mộ trống các bà đã chạy về báo cho các tông đồ biết là đã có ai lấy xác của Thầy Giêsu!

Bước sang phần nhân chứng phục sinh, bà Maria Mácđala là nhân chứng đầu tiên. Ngày xưa, người phụ nữ không có giá trị trong xã hội như thời bây giờ. Có thể nói, phụ nữ là công dân hạng hai trong xã hội thời đó. Bởi vậy, nếu có đưa ra nhân chứng thì không ai lại đưa ra người phụ nữ, bởi vì lời chứng của họ không có giá trị bằng đàn ông. Thế nhưng trong bài phúc âm hôm nay, người đầu tiên được thấy ngôi mộ trống lại là một phụ nữ, bà Maria Mácđala!

Đoạn phúc âm này khiến những ai không tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu phải đặt câu hỏi: Nếu giả như câu chuyện phục sinh là sự bịa đặt của các môn đệ thì chẳng lẽ các ông lại dại dột đến độ dùng các bà làm người chứng đầu tiên, vì như vậy, có ai tin vào sự phục sinh? Thế nhưng, không những phúc âm của Gioan mà cả ba cuốn phúc âm khác cũng đều viết, các bà là những người đầu tiên làm chứng cho sự phục sinh của Chúa Giêsu. Đứng trước sự kiện này người ta phải tin rằng đây là một sự thật được ghi nhận lại chứ không phải sự bịa đặt. Chính các bà, chứ không phải các ông tông đồ, là những người đầu tiên ra thăm mộ từ sáng sớm, và các bà đã thấy ngôi mộ từng chôn xác của thầy mình thì bây giờ chỉ là ngôi mộ trống!

Giáo Hội Công Giáo dành bảy tuần lễ để cho chúng ta nghe những đoạn phúc âm có liên quan đến hoạt động của Chúa Giêsu sau khi sống lại và nhờ đó chúng ta tin thật rằng Chúa Giêsu đã sống lại.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu đã được các ngôn sứ tiên báo trong Cựu Ước mà thánh sử Gioan có tóm lược qua câu kết thúc bài phúc âm hôm nay, “theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải sống lại từ cõi chết.”

Sự phục sinh là một biến cố độc nhất và vô cùng quan trọng trong lịch sử nhân loại, bởi vì nhờ sự phục sinh mà sự chết không còn là một chấm dứt bi thương của loài người. Có thể nói mồ mả chứa xác chết và khăn tang tượng trưng cho sự thất bại của loài người khi chiến đấu với thần chết. Dù khoa học có tiến bộ đến đâu thì thời gian vẫn trôi qua, người ta vẫn già đi, yếu dần rồi bệnh hoạn và cái chết vẫn là một ám ảnh không cùng cho loài người.

Những người bi quan, không tin vào sự sống lại, họ cho rằng khi sinh ra là khi con người chập chững bước dần đến nấm mộ. Đối với họ, chết là hết. Thật bi thảm, thật bất hạnh cho loài người chúng ta! Nhưng biến cố Phục Sinh của Đức Giêsu đã thay đổi hướng đi của nhân loại. Chết không phải là hết. Nó chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp của sự sống—từ hữu hình sang vô hình— sau khi chết, chúng ta sống với linh hồn vô hình ở thế giới bên kia để chờ ngày sau cùng của vũ trụ, ngày tận thế, chúng ta lại được chuyển đổi từ tình trạng vô hình sang hữu hình, nhưng với một thân xác lạ lùng giống như thân xác của Chúa Kitô. Đây là điều chúng ta tuyên xưng đức tin trong kinh Tin Kính được đọc trong các Thánh Lễ Chúa Nhật.

Qua sự phục sinh, Chúa Kitô đã thay đổi ấn tượng từ xấu sang tốt. Vào ngày thứ Sáu trước đó, người ta thất vọng khi thấy một Giêsu từng làm nhiều phép lạ, kể cả cho người chết sống lại, nhưng giờ đây đã khuất phục trước sự dữ của loài người. Hình ảnh Đức Giêsu đau khổ, chịu treo trên thập giá thật ghê sợ và xấu xa. Không ai còn muốn theo Đức Giêsu bởi vì không ai muốn đau khổ. Tại sao Đức Giêsu không tránh đau khổ? Tại sao Người có thể dùng quyền năng Thiên Chúa để tránh đau khổ, nhưng lại không làm?

Tránh đau khổ là điều dễ dàng đối với Chúa Giêsu, nhưng điều đó chỉ thỏa mãn ý riêng của mình và trái với bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu. Nói đến tình yêu là nói đến sự hy sinh cho người khác. Sự hy sinh có giá trị thì phải có sự thiệt hại. Đức Giêsu đã hy sinh tính mạng để đổi đau khổ thành niềm vui, đổi sự chết thành sự sống cho cả nhân loại. Ông Nobel đã phải hy sinh cả một gia tài to lớn để đổi một ấn tượng xấu thành tốt. Tương tự như thế, chúng ta cũng phải hy sinh khi muốn trở nên tốt lành trong cái nhìn của người khác, và nhất là trở nên tốt lành trong sự nhận biết của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã biến sự đau khổ thành một giá trị cứu độ, và nhất là giúp chúng ta không còn sợ đau khổ. Trong viễn ảnh phục sinh, sự đau khổ là cơ hội để luyện tập con người – không còn than trách, không còn căm thù, không còn tư lợi, không còn ý riêng của mình – nhưng cố gắng chu toàn bổn phận để chương trình của Thiên Chúa có thể được hoàn tất qua sự hy sinh của chúng ta. Có như thế, sự phục sinh của Chúa Giêsu mới đem lại lợi ích cho chúng ta ngay tự bây giờ.