Mẹ Cứu Giúp

NGƯỜI SAMARITANÔ THỜI ĐẠI

Trong tuần qua, xã hội Hoa Kỳ xôn xao vì các vụ bắn giết xảy ra ở Dallas, Baton Rouge và Minnesota (July 3-10/2016). Chuyện bắn giết vì cướp của, vì hận thù, v.v, có thể nói xảy ra hàng ngày trong xã hội Hoa Kỳ, nhưng các vụ bắn giết tuần qua gây xôn xao vì có liên can đến cảnh sát và người da đen. Dư luận có nhiều phản ứng khác nhau. Nói chung, người ta thấy vẫn còn sự phân biệt mầu da, sắc tộc trong một quốc gia đứng đầu về dân chủ và luật pháp được coi là cao hơn tất cả. Qua sự kiện này và nhiều xáo trộn khác hiện nay trong xã hội Hoa Kỳ, chúng ta thấy để có an vui, hạnh phúc, ngoài luật pháp người ta còn cần có niềm tin vào Thiên Chúa hay Thượng Đế. Khi xã hội tìm cách loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi các sinh hoạt chung, con người thay vì được tự do, họ lại nô lệ cho nhiều hình thức chủ nghĩa khác mà trong đó nguy hại nhất là cá nhân chủ nghĩa. Nói cách khác, nếu ngay cả Thiên Chúa mà người ta còn không kính sợ thì có điều gì mà họ không dám làm! Điển hình là nhà cầm quyền cộng sản vô thần Việt Nam ngang nhiên chiếm hữu đất đai của các cơ sở tôn giáo bất kể sự công bằng và quyền lợi của người dân. 

Khi con người tìm cách loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống, họ đã đi ngược với bản chất của mình mà Thiên Chúa đã hoạch định khi dựng nên con người. Đây là điều được thấy trong bài đọc một hôm nay khi ông Môsê khuyên dân chúng, “hãy tuân giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ của Đức Chúa” bởi vì mệnh lệnh này “rất gần với anh em, nó đã ở ngay trong miệng, trong lòng của anh em; anh em chỉ cần đem ra thực hành.” Những mệnh lệnh đó là gì? Là các lề luật của Môsê và đã được Đức Giêsu giản lược thành hai điều: “mến Chúa và yêu người.”

Luật “mến Chúa yêu người”, có thể nói, là luật tự nhiên của loài người, bởi vì, thực tế cho thấy, ngay cả những người không được biết đến Thiên Chúa trong Kinh Thánh, họ vẫn cảm được sự hiện diện của Ông Trời, hay Thượng Đế, qua các biến cố lạ lùng trong thiên nhiên, hay qua những phép lạ mà họ đã được Thiên Chúa ban cho. Và khi đứng trước sự đau khổ, sự bất hạnh của người khác, họ cũng động lòng thương. Như thế, Thiên Chúa đã gieo vào lòng con người một cảm nhận về Đấng Tạo Hóa và tình đồng loại. Nếu mọi người đều nhận biết như thế, và đem ra thực hành luật “mến Chúa yêu người”, chắc chắn loài người chúng ta sẽ có bình an và hạnh phúc.

Tuy nhiên, vì hậu quả của tội nguyên tổ, loài người trở nên ích kỷ, họ muốn đóng khung Tạo Hóa theo quan điểm riêng của mình, họ yêu người cùng dòng giống, cùng mầu da, cùng tôn giáo thì dễ hơn yêu người xa lạ. Đối với Thiên Chúa, nhân loại chỉ có một dù bất cứ mầu da nào, sắc tộc nào hay tôn giáo nào. Đây là điều được Đức Giêsu minh họa rất tài tình trong câu chuyện “Người Samaritanô tốt lành.”

Câu chuyện mở đầu với một người bị cướp mà không rõ người này thuộc sắc dân nào. Ông bị bọn cướp đánh đập gần chết, nằm trên đường và không có ai cứu giúp, kể cả một thầy tư tế và một thầy lêvi của Do Thái Giáo đi ngang qua đó – những người này được coi là đạo đức. Sau cùng, một người Samaritanô cũng đi ngang qua đó, thấy cảnh tượng đáng thương ấy, thay vì ghê tởm bỏ đi, ông đã dừng chân, giúp đỡ nạn nhân. Điểm cần lưu ý ở đây là người Samaritanô bị người Do Thái coi là dân vô đạo.

Các thầy tư tế và lêvi không dừng chân giúp đỡ nạn nhân có thể vì hai lý do: hoặc nạn nhân không phải là người Do Thái, hoặc các thầy Do Thái tuân thủ lề luật là không được đụng chạm đến máu để khỏi bị nhiễm uế. Ngược lại, hành động giúp đỡ của người Samaritanô đã được Đức Giêsu diễn tả với những chi tiết khiến chúng ta phải suy nghĩ.

Trước hết, người Samaritanô, “đến gần [nạn nhân], lấy dầu và rượu đổ lên vết thương của người ấy và băng bó lại. Sau đó, ông bế người ấy đặt trên lưng con” lừa hay con ngựa, và ông phải đi bộ dắt theo con vật chở nạn nhân trên một quãng đường khá xa để “đưa về quán trọ, và săn sóc người ấy” (c. 35).

Hành động của ông thật nhân bản, có sự tiếp xúc, có sự đụng chạm giữa con người với con người và vượt trên mọi cấm đoán của tôn giáo và xã hội. Ông không ngại bị ô uế khi đụng chạm đến máu như người Do Thái. Ông cũng không màng đến địa vị của ông – có lẽ là một người giầu có – để tận tay giúp đỡ nạn nhân. Không những thế, từ chỗ xảy ra tai nạn đến quán trọ có lẽ khá xa nên khi đến nơi trời đã tối, ông phải thay đổi chương trình và ở lại quán trọ đêm hôm đó, và sáng hôm sau, ông “lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và dặn dò, ‘Hãy săn sóc người này. Nếu ông có phải tốn kém thêm bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại cho ông.’" (c. 36).

Khi Đức Giêsu diễn tả chi tiết về sự giúp đỡ này, có lẽ Người muốn nói với chúng ta hai điều: thứ nhất, sự giao tiếp giữa con người với con người thì quan trọng – nếu chúng ta không có của cải vật chất để giúp đỡ người khác, chúng ta có thể giúp đỡ bằng sự hiện diện đầy thông cảm và an ủi. Thứ hai, một sự giúp đỡ có giá trị sẽ gây ra thiệt hại cho chính người giúp đỡ về thời giờ, sức lực, và tiền bạc. Nhiều khi chúng ta giúp đỡ người khác theo sự thuận tiện của mình: nếu có thời giờ rảnh rỗi, nếu có dư tiền của; hoặc chúng ta đưa ra điều kiện: nếu họ là người Công Giáo, nếu họ là người Việt Nam, v.v. Chúng ta đưa ra các lý do để bào chữa cho sự từ chối giúp đỡ, có lẽ chúng ta cũng không khác với người thông luật khi hỏi Đức Giêsu, “Ai là người lân cận của tôi?”

Khi chỉ nghĩ đến “cái tôi” của mình thì chúng ta không thể là người lân cận của bất cứ ai! Đức Giêsu nhìn thấy vấn đề nên sau khi kể câu chuyện này, Người hỏi luật sĩ Do Thái, “Theo ý kiến của ông, trong ba người này [thầy tư tế, thầy lêvi, người Samaritanô] ai là người lân cận với nạn nhân bị cướp?

Khi đặt câu hỏi “Ai là người lân cận với nạn nhân bị cướp?”, Đức Giêsu đã giúp người thông luật, cũng như chúng ta, tách ra khỏi “cái tôi” của mình để đặt vào hoàn cảnh của nạn nhân và nhận ra được “người lân cận” là ai.

Khi đặt mình vào hoàn cảnh của nạn nhân bị cướp, “người lân cận” trở nên bất cứ ai có lòng nhân từ, dù người đó có phải là bà con, có cùng dòng giống, hoặc cùng tôn giáo với chúng ta hay không. Trong ý nghĩa này, giới răn “yêu người” của Đức Giêsu không còn bị giới hạn vào dòng giống, mầu da, tôn giáo; không còn tiêu cực, thụ động chờ người ta đến năn nỉ xin giúp đỡ, nhưng, giống như người Samaritanô, chúng ta phải tích cực để ý đến nhu cầu của người khác và tự nguyện hy sinh giúp đỡ họ.

Giới răn “yêu người” là một lý tưởng cho đời sống chúng ta, và qua cuộc đời của Đức Giêsu có thể nói Chúa Giêsu là “Người Samaritanô Tốt Lành”. Khi thấy loài người bị thương tích vì tội lỗi, bị bỏ rơi một cách đau khổ không ai cứu vớt, Chúa Giêsu – thay vì vẫn duy trì địa vị cao cả của một Thượng Đế – đã xuống trần để đụng chạm đến thân thể nhơ nhớp của chúng ta, và ẵm bế chúng ta lên, đưa chúng ta vào một Giáo Hội để chăm sóc chúng ta với dầu ân sủng của các bí tích – Chúa Giêsu đã phục hồi phẩm giá của loài người chúng ta.

Lời nói của Chúa Giêsu với người thông luật, “Hãy ra đi và làm như vậy”, cũng là lời nói với chúng ta trong thế giới ngày nay. Khi chúng ta trở nên “người Samaritanô” cho bất cứ ai có nhu cầu, chúng ta đang trở nên giống Chúa Kitô để tiếp tay đem lại sự sống cho thế gian. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ bị thiệt hại về đủ mọi mặt, nhưng đổi lại chúng ta sẽ có một niềm vui kỳ lạ mà tiền bạc, danh vọng, quyền lực không thể đem lại được. Niềm vui ấy được Thiên Chúa ban cho bất cứ ai có lòng thương người, vì “Thiên Chúa là tình yêu, và bất cứ ai sống trong tình yêu, người ấy sống trong Thiên Chúa.” (1 Ga 4:16).

Quảng đại và hy sinh là hai thuộc tính của Thiên Chúa, Người cũng là Nguồn hạnh phúc bất diệt. Khi trở nên “người Samaritanô” cho bất cứ ai có nhu cầu, chúng ta đang tập hy sinh và quảng đại, chúng ta luyện tập để trở nên giống Chúa Kitô, chúng ta đang cố gắng khôi phục lại phẩm giá đích thật của mình. Tuy gian khổ nhưng có niềm vui. Niềm vui đó không ai lấy đi được vì nó tùy thuộc vào sự tự do của chúng ta. Niềm vui đó là trở nên “người Samaritanô” của thời đại cho bất cứ ai có nhu cầu.

Pt Giuse Trần Văn Nhật