CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

Chủ đề: Bài giáo lý II về cuộc sống kitô hữu: nhận biết Ðức Giêsu

I. Dẫn vào Thánh lễ

Trên cuộc lữ hành dương thế, chúng ta không phải là người độc hành cô đơn phải tự mình giải quyết mọi vấn đề. Nhưng có Chúa cùng đi với chúng ta. Tuy vô hình nhưng Người luôn hiện diện bên cạnh chúng ta. Lời Người soi sáng tâm trí và sưởi ấm cõi lòng chúng ta. Chúng ta hãy lắng nghe câu nói mà phụng vụ thường nhắc đi nhắc lại: "Chúa ở cùng anh chị em".

II. Gợi ý sám hối

  • Ðức Giêsu đã nói "Bình an cho chúng con". Nhưng bình an có đang thực sự ngự trị trong tâm hồn chúng ta và trong môi trường chúng ta sống không?
  • Ðức Giêsu đã nói "Hãy ở trong Thầy". Nhưng chúng ta có thực sự ở trong Chúa khi cầu nguyện, khi lãnh nhận các bí tích và khi sống trong cộng đoàn Giáo Hội không?
  • Ðức Giêsu đã nói "Chúng con là nhân chứng của Thầy". Nhưng chúng ta có thực sự làm chứng cho Chúa qua lời nói, việc làm và cách sống không?

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I: Cv 3, 13-15. 17-19

Sau khi Phêrô chữa lành một người què tại cửa Ðền thờ, nhiều người ngạc nhiên và bàn tán. Nhân cơ hội này, Phêrô giảng một bài:

  • Trong phần đầu bài giảng, Phêrô xác nhận người què này được chữa lành không phải nhờ quyền năng hay đạo đức riêng của ông, mà chính là nhờ Danh Giêsu.
  • Qua phần hai, Phêrô nhắc lại vụ án Ðức Giêsu. Ông nói người Do Thái đã giết Ðức Giêsu vì họ không "biết". Nay Thiên Chúa đã cho Người sống lại. Việc này chứng tỏ Ðức Giêsu chính là Ðấng Messia. Vậy họ hãy sám hối và tin vào Người để được ơn cứu độ.

2. Ðáp ca: Tv 4

Ðây là lời cầu nguyện bày tỏ lòng trông cậy phó thác: mặc dù đang ở trong cơn khốn khó, tín hữu vẫn tin rằng Thiên Chúa sẽ giải thoát mình cho nên người tín hữu cảm thấy "thư thái bình an, vừa nằm tôi đã ngủ".

Ðức Giêsu chính là người sống tâm tình này tuyệt hảo nhất: Người đã "nằm ngủ" bình an trong tay Thiên Chúa rồi được Thiên Chúa cho "thức dậy" qua cuộc phục sinh.

3. Tin Mừng: Lc 24, 35-38

Hai môn đệ Emmau đã theo Ðức Giêsu bấy lâu nay, họ nghĩ rằng họ "biết" Người. Theo cái "biết" ấy thì Người chỉ là "một tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ" và họ "hy vọng Người sẽ cứu Israel".

Nhưng khi Ðức Giêsu bị giết, họ mới ý thức rằng cái "biết" đó chỉ là cái họ "tưởng" chứ không phải là "biết" thật.

Ðức Giêsu giúp họ "biết" thực sự, nhờ việc Người giảng giải Lời Sách Thánh và nhờ việc Bẻ bánh.

Khi đã "biết" Ðức Giêsu, hai ông vội vã trở lại Giêrusalem để loan báo cho các môn đệ khác "biết" nữa.

4. Bài đọc II: 1 Ga 2, 1-6a

Chịu ảnh hưởng của thuyết Ngộ đạo, các tín hữu cũng coi trọng sự "biết" và họ tự hào rằng mình đã biết Ðức Giêsu.

Thánh Gioan tông đồ giải thích thế nào là "biết" thật: "Chính nơi điều này mà chúng ta biết rằng mình "biết" Ðức Giêsu, đó là chúng ta giữ các giới răn của Người. Ai nói rằng mình "biết" Người mà không giữ giới răn Người thì ấy là kẻ nói dối".

IV. Gợi ý giảng

* 1. "Biết" và được cứu độ

Vào khoảng cuối thế kỷ I, có một lạc thuyết nổi lên trong Giáo Hội, đó là thuyết Ngộ đạo. Thuyết này đề cao sự hiểu biết ("ngộ"): ai đã đạt đến trình độ hiểu biết cao sâu về Chúa thì sẽ bảo đảm được cứu độ. Ngày nay, có nhiều người cũng lầm tưởng rằng nếu "biết" giáo lý, "biết" lề luật, "biết" Thánh Kinh thì cũng bảo đảm được phần rỗi.

Bài Tin Mừng hôm nay xóa tan ngộ nhận ấy, cái "biết" có thể mang đến ơn cứu độ là cái "biết" do suy gẫm sách Thánh và kết hợp với Ðức Giêsu Thánh thể. Bài trích thư thứ nhất Thánh Gioan cho thấy thêm một điều kiện nữa: không chỉ biết Chúa mà còn phải tuân giữ các giới răn của Người nữa thì mới được cứu độ.

* 2. Những cảm nghiệm Emmau

Vào chính ngày Ðức Giêsu sống lại, có hai môn đệ chán nản rời Giêrusalem để về làng Emmau. Thánh Luca cho biết tên một người, đó là Clêôpát. Còn người kia thì Luca không nói tên. Chắc chắn không phải vì ông không biết, nhưng có lẽ vì người thứ hai ấy chính là Luca, hoặc cũng có thể vì một lý do gì khác. Ch. Perrot đã đoán lý do khác ấy là: "Người bạn của Clêôpát không được nêu rõ tên nhưng lại mang tên của mọi tín hữu". Nghĩa là, theo suy đoán của Ch. Perrot, Thánh Luca cố ý không nêu tên người môn đệ kia vì muốn coi người ấy là đại biểu của mọi tín hữu. Nói cách khác, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể trải qua những cảm nghiệm của người môn đệ ấy.

Vậy chúng ta hãy đi vào tâm trạng của người môn đệ ấy, và chia xẻ những cảm nghiệm của ông.

1. "Ðang lúc họ trò chuyện và bàn tán thì chính Ðức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản nên không nhận ra Người": Ðây là cảm nghiệm thứ nhất, cảm nghiệm về tình trạng của Ðức Giêsu phục sinh. Người luôn hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi với chúng ta. Chỉ có điều là cặp mắt xác thịt của chúng ta không thấy được Người, giống như có một bức màn ngăn cách giữa chúng ta với Người. Ðến một lúc nào đó, nếu Người muốn, thì Người bỏ bức màn ấy xuống, khi đó không còn gì ngăn cản nữa thì chúng ta sẽ thấy được Người. Ðối với hai môn đệ Emmau, đó là lúc ở trong lữ quán, "mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người".

2. Vậy nhờ cái gì mà tấm màn ngăn cách chúng ta với Ðức Giêsu phục sinh được cất đi để chúng ta nhận ra Người? Cảm nghiệm của hai môn đệ Emmau cho thấy nhờ hai điều:

  • a/ Ðiều thứ nhất là nhờ suy gẫm Sách Thánh: "Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh". Sau này hai ông nhớ lại cảm giác lúc đó: "Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Sách Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên đó sao?".
  • b/ Ðiều thứ hai là Bí tích Thánh Thể: "Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người".

Sách Thánh đã làm cho những cõi lòng lạnh giá chán chường bừng cháy lên, Bí tích Thánh Thể khiến cho bức màn ngăn cản cặp mắt xác thịt hạ xuống.

*

Thực ra chúng ta đã nhiều lần đọc Sách Thánh và tham dự Bí tích Thánh Thể. Nhưng tại sao khi đọc Sách Thánh lòng chúng ta không "cháy bừng lên", và khi tham dự Thánh Lễ mắt chúng ta không "mở ra"? Thưa vì chúng ta đọc Sách Thánh như đọc về Ðức Giêsu chứ không phải đọc với Ðức Giêsu như hai môn đệ Emmau; và chúng ta dâng Thánh Lễ như dâng lên cho Người chứ không phải cùng dâng với Người.

Chúng ta có thể làm mọi việc với Người, bởi vì Ðức Giêsu phục sinh luôn hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi với chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Ngày xưa đối với hai môn đệ Emmau cũng thế và ngày nay cũng vẫn thế.

3. Cuộc sống mới của các môn đệ

Có thể nói sau khi Ðức Giêsu chết thì các môn đệ cũng chết luôn, chết về mặt tinh thần và về luân lý: nhóm 12 đã rã rời, vì Giuđa đã tự vẫn, Tôma đã bỏ đi do khủng hoảng đức tin, những người còn lại thì co cụm với nhau trong căn phòng đóng kín cửa, lòng họ đầy sợ hãi, nghi ngờ, mặc cảm tội lỗi, buồn phiền và thất vọng.

Nhưng ngay sau khi sống lại, Ðức Giêsu phục sinh cũng làm cho họ sống lại: Người chủ động đến với họ chứ không chờ họ đi tìm Người, Người không nói một lời trách móc nhưng lại chúc bình an, Người ăn uống với họ để họ tin chắc Người vẫn sống, Người mở trí cho các ông hiểu ý nghĩa Thánh Kinh, Người lại còn sai họ ra đi rao giảng cho muôn dân. Tất cả những việc làm tế nhị và yêu thương ấy đã giúp cho các môn đệ

  • không còn sợ hãi
  • không còn nghi ngờ
  • không còn mặc cảm tội lỗi
  • không còn buồn phiền
  • không còn thất vọng

Con người cũ của các ông không còn, các ông như được sống lại trong con người mới, sẵn sàng ra đi khắp nơi loan báo Tin Mừng phục sinh cho mọi người.

4. "Hãy nhìn chân tay Thầy"

Một người con kia rất yêu thương cha mình. Người cha là một nông dân, suốt đời cần cù lao động để nuôi sống gia đình. Khi người cha chết đi, lòng người con rất buồn rầu. Anh cứ đứng gần thi thể của cha mà nhìn, nhất là nhìn đôi bàn tay của cha. Anh nói: "Nhìn đôi bàn tay sần sùi chai sạm ấy, tôi nhớ lại tất cả những cực nhọc khổ sở mà cha tôi đã chịu vì yêu thương tôi"

Khi hiện đến với các môn đệ, Ðức Giêsu cũng bảo họ hãy nhìn chân tay Người, những chân tay không phải chai sạm mà đầy những thương tích. Nhìn không phải chỉ để xác nhận Ðức Giêsu hôm nay cũng chính là Ðức Giêsu hôm qua bị đóng đinh, mà còn để nhận ra tình thương bao la vô bờ bến của Người: "Không có tình thương nào lớn hơn tình của người thí mạng sống cho người mình thương".

Khi hiện ra với Tôma, Ðức Giêsu cũng bảo ông hãy chạm đến các vết thương của Người, rồi Người nói: "Ðừng hồ nghi nữa, nhưng hãy tin" (Ga 20, 28). Tin gì? Không chỉ tin là Người đã sống lại, mà còn tin vào tình thương của Người.

Tình Chúa thương ta là một điều chắc chắn, đã được đóng dấu bằng những vết thương trên thân xác Người. Chúng ta hãy tin chắc như thế, không có gì lay chuyển được.

5. Biến cố làm đảo lộn lịch sử thế giới

Trong những ngày ấy, có hai người bước trên đường về Emau, một làng cách Giêrusalem vài cây số. Về Emau, có nghĩa là trở về hư vô, về cõi của những niềm hy vọng đã tan vỡ. Họ kiệt lực rồi, họ hết còn mơ mộng, họ cũng đã hết nhiệt tình. Trước đây, họ đã đi theo phong trào Giêsu với tất cả nhiệt huyết, họ cứ chắc mẩm rằng họ sẽ giải phóng thế giới khỏi cái ác, giải phóng dân tộc họ khỏi giới quí tộc Ðền thờ và khỏi ách đô hộ La Mã.. Nhưng nay thì hết rồi Thầy đã chết, chết quá dễ dàng không một biểu hiện tự vệ. Các thủ lãnh phong trào Giêsu, những bạn đồng hành thân cận nhất của Thầy, những người mà Thầy tín cẩn, cũng đã lánh mặt vì khiếp nhược, vì thất vọng. Có người thậm chí còn bảo, anh Phêrô nhiệt tình là thế, bao giờ cũng tranh ăn trên nói trước, thế mà người ta bảo anh đã thề độc, đã chứng minh anh không hề quen biết Giêsu.

Thế là hết. Hai anh tưởng đã được tham dự vào một cuộc phiêu lưu độc đáo, khiến cho đời các anh có một ý nghĩa rực sáng, mở ra cho hai anh, mở ra cho mọi người một tương lai chan chứa niềm vui và niềm hy vọng. Vậy mà giờ đây họ chỉ còn những nuối tiếc, hận đời và dằn vật.

Một người khách lạ nhập bọn với hai anh, bảo hai anh kể cho ông ta nghe về những nỗi buồn và niềm bất hạnh của họ. Cái ông khách này là một người hiếm hoi, biết nghe người khác nói. Rồi ông ta giải thích cho hai anh nghe về lịch sử thế giới, bắt đầu bằng kể về ông Môisê và các ngôn sứ. Hai anh thấy lòng ấm dần lên, cởi mở dần ra. Ðầu óc của hai anh, chậm hiểu hơn trái tim, chỉ nhận ra Người sau khi cùng Người chia sẻ bữa tối và sau khi Người khuất dạng.

Thế là hai anh quay lại, bước ra khỏi tăm tối và hư vô, trở về Giêrusalem. Những người các anh gặp lại ở Giêrusalem cũng đã từng trải qua những thất vọng não nề... Vậy mà những con người thảm hại ấy bỗng đứng lên, mạnh dạn tuyên bố rằng Ðức Kitô đang sống, và bằng chúng thuyết phục nhất là chính họ đã thấy Người, thậm chí đã cùng ăn uống với Người.

Những điều họ nói, thật ra không phải một bằng chứng bằng chứng thuyết phục nhất là chính họ, những người thấp hèn, nhát gan, ít chữ nghĩa, nay dám đương đầu với mọi hiểm nguy và làm phục sinh lại phong trào Giêsu. Ðến đâu họ cũng nhắc lại những lời yêu thương và giải phóng, những lời không hẳn được tất cả mọi người nghe theo, nhưng là những lời đã thay đổi lịch sử thế giới.

Vậy thì, trong những ngày ấy, đã có một biến cố xảy ra, như một vụ bùng nổ, làm xuất hiện niềm tin và thay đổi cuộc đời những người này. Ðối với họ, biến cố đã xảy ra đó là, Ðức Giêsu đang sống. Ðức Giêsu đã phục sinh, và họ đã loan truyền cái tin ấy đến nỗi dám hy sinh cả mạng sống. Chẳng ai có thể đưa ra những bằng chứng để chứng tỏ điều đó. Ai cũng có quyền nghi ngờ. Thiên Chúa mà Ðức Giêsu đã rao giảng thì tôn trọng tự do của con người đến độ đẻ họ nghi ngờ và phủ nhận Người... Tuy nhiên, trong những ngày ấy, một biến bố đã xảy ra làm đảo lộn những người đàn ông, những người phụ nữ ấy, và đã làm đảo lộn thế giới. Jacques Duquesne (Nhà văn Pháp)

6. Ðời sống chứng nhân

Albert Schweitzer là một cậu bé rất thông minh, lại say mê âm nhạc. Khi trưởng thành cậu chơi đàn Organ, và cuối cùng đã trở thành Tiến sĩ âm nhạc. Sau đó, Albert nghiên cứu các chủ đề về tôn giáo, và đã đậu Tiến Sĩ Triết Học. Ông làm Hiệu Trưởng trường Ðại Học.

Như thể học chưa đủ, ông từ chức Hiệu trưởng để theo ngành y khoa, 7 năm sau, trở thành bác sĩ với bằng Tiến sĩ Y Khoa. Với 3 bằng cấp Tiến sĩ, Albert Schweitzer dễ dàng trở thành một người giàu có, và nổi tiếng.

Thế nhưng, tiến sĩ Albert Schweitzer lại cùng với người vợ bán tất cả gia tài, sang tận Châu Phi thiết lập một bệnh viện ở Lambarene. Ông cứu giúp hàng ngàn người phong cùi và những người mắc bệnh buồn ngủ.

Ông huấn luyện y tá và điều dưỡng để phụ giúp ông. Khi hết tiền mua thuốc, ông trở về Âu Châu, trình diễn âm nhạc trong thành phố lớn, lấy tiền vé vào cửa để trả tiền mua thuốc cho bệnh viện của ông ở Lambarene. Ông tin rằng những người nghèo ở Châu Phi đều là những thành viên trong gia đình Thiên Chúa. Ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1953.

Sau khi dâng hiến cả cuộc đời cho người Châu Phi nghèo khổ, nhà truyền giáo đã đi về nhà Cha năm 1965 lúc 90 tuổi.

*

Tin mừng hôm nay, Ðức Giêsu Phục sinh kêu gọi các môn đệ hãy làm chứng nhân cho Người.

Chúng ta hãy là chứng nhân của sự sống mới. Thế giới ngày nay quay cuồng trong nỗi chết. Cái chết của chiến tranh, khủng bố khiến người ta chết không toàn thây. Cái chết của sida, ma tuý làm người ta chết không ra con người. Cái chết của phá thai, tự vẫn như cướp quyền Ðấng Tạo Hóa. Người tín hữu Kitô phải làm chứng cho sự sống mới.

Sự sống của Ðấng Phục sinh: Lôi cuốn, hấp dẫn gấp ngàn lần nỗi chết quay quắt điên loạn của con người. Sự sống của Ðấng Phục sinh tràn đầy niềm hy vọng. Nếu Ðức Kitô bị đóng đinh đã sống lại ra khỏi mồ, thì chúng ta có quyền tin tưởng vào chiến thắng của Người trên bạo lực, hận thù và nỗi chết.

Chúng ta hãy là chứng nhân của niềm vui. Nếu các môn đệ buồn phiền vì Thầy đã chịu khổ hình, thì các ông lại vui mừng biết bao khi nghe tin Thầy sống lại. Nếu các môn đệ lo âu vì sợ người ta đã giết Thầy sẽ bắt luôn cả trò, thì các ông lại trọn niềm hân hoan khi thấy Thầy sống lại ra khỏi mồ. Nếu chúng ta thực sự ra khỏi nỗi âu lo về mình, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui. Nếu chúng ta mang lại nụ cười cho những người bất hạnh, chúng ta đang công bố tin vui Phục sinh.

Ðức Hồng Y Danielou có nói: "Chúng ta hãy tự khai mở niềm hy vọng của người bất hạnh, cho dù điều đó đe dọa đến của cải chúng ta".

Cha Charles de Foucauld quả quyết: "Chỉ có một số người có khả năng làm chứng bằng lời nói, nhưng mọi người đều có thể làm chứng bằng đời sống lương thiện, gương mẫu, và bằng đời sống Kitô hữu sinh động".

Trong nghi thức rửa tội của Giáo hội Ấn Ðộ, người chịu phép Rửa tội đặt tay lên đầu và nói: "Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1Cr. 9, 16).

Vậy lời rao giảng Tin mừng sinh động nhất, hữu hiệu nhất và cao đẹp nhất chính là một cuộc đời quên mình phục vụ như nhà truyền giáo Albert Shweitzer đã làm cho những người phong cùi Châu Phi.

*

Lạy Chúa,

Khi chúng con u sầu, xin đem đến một ai đó để chúng con an ủi. Khi gánh nặng đè bẹp, xin chất thêm cho chúng con gánh nặng của người khác nữa.

Khi chúng con cần sự âu yếm vỗ về, xin cho người khác kêu gọi chúng con đến để vỗ về âu yếm họ.

Xin dạy chúng con trở nên chứng nhân của một Thiên Chúa phục vụ và yêu thương. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Ðức Giêsu đã truyền cho các môn đệ phải kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và phải làm chứng về Chúa Phục sinh cho muôn dân. Ý thức trách nhiệm đó, chúng ta hãy sốt sắng cầu nguyện:

1. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mọi người trong Hội thánh / luôn nêu gương khiêm tốn ăn năn sám hối về các thiếu sót lỗi lầm / và luôn kêu gọi mọi người ăn năn sám hối / để loại trừ bớt tội lỗi trong thế giới.

2. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền trên thế giới / biết cộng tác với nhau để ngăn chặn chiến tranh / diệt trừ tội ác, khủng bố, giết người / và xây dựng một thế giới hòa bình hạnh phúc hơn.

3. Chúng ta cùng cầu xin cho những nạn nhân của bất công khủng bố / những người vô tội bị bách hại / những người nghèo đói bị khinh chê / những người yếu đuối bị áp bức / được Ðức Giêsu Phục sinh nâng đỡ và ủi an.

4. Chúng ta cùng cầu xin cho anh chị em trong họ đạo chúng ta / luôn nhớ đến trách nhiệm làm chứng về Ðức Giêsu Phục sinh cho mọi người chung quanh chúng ta.

Chủ tế: Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn nhớ lệnh truyền của Ðức Giêsu Kitô là ăn năn sám hối và dùng tất cả đời sống làm chứng về Người, để chúng con thực sự là môn đệ của Người. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.

VI. Trong Thánh lễ

- Trước kinh Lạy Cha: Ðức Giêsu là Ðấng công chính nhưng đã hiến thân làm lễ vật đền tội cho loài người chúng ta. Chính vì công nghiệp của Người mà chúng ta dám thưa với Thiên Chúa là Cha chúng ta rằng: "Lạy Cha chúng con ở trên trời..."

- Chúc bình an: Ngày xưa Ðức Giêsu phục sinh đã "ở giữa các môn đệ và nói 'Bình an cho anh em". Hôm nay nguyện chúc bình an của Chúa cũng hằng ở cùng anh chị em.

- Trước rước lễ: Ðức Giêsu phục sinh đã mời các môn đệ đụng chạm vào thân thể Người và hãy tin. Bây giờ Người cũng mời chúng ta kết hợp với Mình Máu Thánh Người. "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng..."

VII. Giải tán

Anh chị em đã biết rằng Ðức Giêsu đã chịu nạn, chịu chết và sống lại để sinh on cứu rỗi cho loài người. Anh chị em phải làm chứng điều đó trước mặt mọi người. Chúc anh chị em về bình an.