MUỐI & ÁNH SÁNG

Pt Giuse Trần Văn Nhật

(Is 58:7-10; 1 Cor 2:1-5; Mt 5:13-16)

Chúng ta đang sống trong thời đại văn minh với nhiều tiến bộ về kỹ thuật nên có nhiều điều ngày xưa được coi là rất quan trọng mà ngày nay bị coi thường. Điển hình là muối và ánh sáng mà Chúa Giêsu đề cập đến trong bài phúc âm hôm nay.

Ngày xưa, ngoài ánh sáng trời người ta phải nhờ đến ánh lửa để nhìn thấy. Tạo ra lửa ngày xưa không dễ như ngày nay chúng ta có diêm quẹt. Ngày xưa người ta phải đập hai hòn đá lửa vào nhau, hay chà xát cành cây khô vào nhau để phát ra lửa. Một khi đã có lửa thì phải giữ cho lửa ấy cháy mãi để có ánh sáng. Thời của Chúa Giêsu, mỗi nhà đều có một đĩa đựng dầu để giữ lửa cháy và được treo lên cao để soi sáng cả nhà vào ban đêm. Trong ban ngày thì không cần đến lửa, để tiết kiệm dầu, họ cho lửa cháy nhỏ lại và đặt bên dưới một cái giạ lớn bằng đất.

Ngày xưa muối cũng có nhiều công dụng quan trọng. Ngoài việc giữ cho thức ăn khỏi hư thối hay để làm gia vị, người ta còn dùng muối để trao đổi trong việc mua bán, để trả lương, để trả thuế, và muối còn được dùng trong việc tế lễ, để sát trùng và để chữa bệnh.

Làm thế nào muối lại mất đi chất mặn? Chúng ta phải tìm về vùng Palestine thời của Chúa Giêsu để thấy muối và lửa có sự liên quan tương tác trong việc đốt lò. Bởi vì củi hay than khó kiếm, dân chúng lấy phân lạc đà và phân lừa trộn với muối rồi phơi khô thành từng mảng nhỏ. Khi đốt lò, các mảng này được đặt lên trên một phiến đá bằng muối. Muối có đặc tính xúc tác giúp cho phân dễ bốc cháy. Sau một thời gian sử dụng, phiến muối này không còn đặc tính xúc tác nữa – có thể nói mất chất mặn – nó trở nên vô dụng nên phải bỏ đi. Bởi thế, Chúa Giêsu mới nói, “[Nhưng] nếu muối mà nhạt đi thì lấy gì làm cho nó mặn lại? Nó trở thành vô dụng, bị quăng ra ngoài và bị chà đạp dưới chân”. (“But if salt loses its taste, with what can it be seasoned? It is no longer good for anything but to be thrown out and trampled underfoot” – NABRE)

Qua đặc tính của muối và lửa như vừa kể, chúng ta thử suy nghĩ về câu nói của Chúa Giêsu khi gọi chúng ta là “muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian”.

Nhìn ở một khía cạnh, Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta một vinh dự vô cùng lớn lao. Có thể nói, nếu không có tín hữu Kitô, đời sẽ hư thối; nếu không có tín hữu Kitô, trần gian sẽ tăm tối. Câu nói này không phải là một sự khoác lác mà đó là một tiên báo của Chúa Giêsu về tương lai thế giới và điều đó đã được minh chứng trong lịch sử.

Từ thời sơ khai Kitô Giáo, nhiều dân tộc được coi là man ri mọi rợ đã trở nên văn minh khi được tiếp cận với Kitô Giáo, ngày nay đó là các quốc gia hùng mạnh ở Âu Châu. Người ta văn minh là nhờ mở mang kiến thức, và các trường đại học đầu tiên trên thế giới là do Công Giáo thiết lập. Ngày nay, tuy nhân loại đã phát triển sau hơn 20 thế kỷ, vẫn còn các quốc gia có hành động được coi là man rợ, kém văn minh, vô nhân đạo, đó là những quốc gia hoặc vô thần hoặc không chịu ảnh hưởng của Kitô Giáo.

Điều đáng buồn là nhiều quốc gia văn minh trên thế giới nhờ ảnh hưởng của Kitô Giáo thì bây giờ lại đang tìm cách từ chối Thiên Chúa với trào lưu tục hóa. Họ tìm cách loại trừ Thiên Chúa ra khỏi sinh hoạt xã hội để tự do thao túng sự sống con người bằng việc phá thai nhằm tránh hậu quả của sự tự do luyến ái. Một vài quốc gia Âu Châu còn cho phép tự ý chấm dứt mạng sống con người một cách hợp pháp, gọi là “Euthanasia” (mê tử). Nói theo T. Gioan Phaolô II, chúng ta đang sống trong một nền “văn hóa sự chết” – một môi trường hư thối và tối tăm – vì thế, bổn phận của người theo Chúa Kitô là phải trở nên “muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian”.

Để có thể phát ra ánh sáng, chúng ta phải có lửa ở trong mình, hay nói khác đi phải có nhiệt huyết. Câu “tình yêu nồng cháy” hay “tình yêu bốc lửa” rất đúng trong trường hợp này. Nếu chúng ta không tha thiết gì đến lời của Chúa Giêsu hôm nay chúng ta sẽ không có lửa ở trong mình. Nếu chúng ta không thực sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân để thay đổi, để rèn luyện bản thân, chúng ta sẽ không có “lửa” để soi sáng bất cứ ai.

Chúng ta cần rèn luyện bản thân để có “lửa”. “Lửa” ấy phát ra ánh sáng nhờ bởi sự hãm mình, sự học hỏi trau dồi, sự mài dũa bản thân để bớt đi những góc cạnh sắc bén của “cái tôi” to lớn và để những tham vọng xấu xa và ích kỷ trở thành vị tha và bác ái. Đó là một trong những mục đích khi chúng ta tham gia các đoàn thể, các sinh hoạt trong giáo xứ hay cộng đoàn. Khi tiếp xúc, va chạm với người khác, chúng ta sẽ nhận ra những ưu và khuyết điểm của mình. Nhưng chỉ với tinh thần Kitô Giáo và qua “lăng kính Phúc Âm” chúng ta mới khiêm tốn thấy rõ con người của mình, và thay vì từ bỏ sinh hoạt khi bị chạm tự ái, chúng ta vẫn tiếp tục hoạt động để trở nên hoàn thiện hơn.

Muối là một chất xúc tác để biến những gì tầm thường như phân tro trở nên hữu ích. Tương tự như vậy, người theo Chúa Kitô phải là muối khi hòa đồng với người khác để giúp họ nhận ra những giá trị cao đẹp trong cuộc đời.

Chúng ta trở nên muối cho đời khi đem yêu thương vào nơi oán thù mà nhiều khi chính trong gia đình chúng ta lại là nơi đầy ghen ghét – giữa mẹ chồng và con dâu, hay giữa anh chị em với nhau vì tranh giành của cải.

Chúng ta trở nên muối cho đời là sẵn sàng tha thứ hơn căm thù, sẵn sàng xây dựng hơn đả phá, sẵn sàng đem an hòa vào nơi tranh chấp, và luôn tôn trọng sự thật để đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Chúng ta là muối cho đời khi sống chân thành để đem tin cậy vào những nơi nghi ngờ và thất vọng. Chúng ta là muối cho đời khi sẵn sàng hy sinh thời gian, sức lực, của cải để đem niềm vui cho những ai đang u sầu. Chính khi đó chúng ta đã giúp bừng cháy lên những tâm hồn đang lạnh lẽo vì cô đơn, vì những bất hạnh trong đời sống, vì đổ vỡ hôn nhân, vì là nạn nhân của một xã hội tục hóa, hay vì thiếu vắng tình người.

Chúng ta trở nên muối cho đời khi noi gương Chúa Kitô – từ một địa vị cao sang của Thiên Chúa, Người đã hạ mình xuống, trở nên phàm nhân – đem lại giá trị cho loài người thì chúng ta cũng đừng tự hào kiêu hãnh về sự đạo đức, tốt lành của mình mà xa cách kẻ tội lỗi. Trái lại chúng ta dám hòa đồng với họ để giúp họ khôi phục lại phẩm giá của một con người. Chúng ta hòa đồng nhưng đừng để mất căn tính của mình là tín hữu Kitô, đừng để người đời đồng hóa chúng ta vì sức quyến rũ của tiền tài, danh lợi và quyền thế – đó là khi “muối” của chúng ta không còn “mặn”, chẳng còn ích lợi gì. Trái lại, chúng ta hòa đồng để thêm hương vị cho cuộc đời, hay nói đúng hơn, để đem ý nghĩa cho cuộc đời.

Cuộc đời của bất cứ ai – dù giầu hay nghèo, dù tài giỏi hay không –  đều có thể trở nên có ý nghĩa khi phục vụ. Đó là tấm gương của Chúa Giêsu. Phục vụ để người ta biết đến tình yêu của Thiên Chúa chứ không phải biết đến mình. Phục vụ từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Khi phục vụ là khi chúng ta trở nên “muối cho đời” và “ánh sáng cho thế gian.”

Sự phục vụ của chúng ta sẽ được Chúa đền đáp. Đó là lời Chúa hứa trong bài đọc một hôm nay. Qua miệng Ngôn Sứ Isaia, Thiên Chúa nói, “hãy chia cơm cho người đói, hãy rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, đừng ngoảnh mặt làm ngơ trước tình cốt nhục. Và rồi ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương của ngươi sẽ mau lành. Đức công chính của ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi. Và rồi khi ngươi lên tiếng, Đức Chúa sẽ nhận lời; ngươi cầu xin giúp đỡ, Người sẽ đáp lại: ‘Có Ta đây!’”

Đó là một lời hứa tuyệt vời và dễ dàng cho chúng ta. Và như thế, khi chúng ta trở nên “muối cho đời” và “ánh sáng cho thế gian”, thành thực mà nói, chúng ta không bị thiệt hại mà lại có lợi cho chúng ta.