Mẹ Cứu Giúp

ĐỪNG CHỦ QUAN

Một trong những đặc tính của các quốc gia tự do dân chủ là sự bầu cử để chọn người lãnh đạo. Người được đa số phiếu là người có quan điểm, chủ trương phù hợp với quan điểm, ước vọng của phần đông dân chúng.

Người Do Thái hồi xưa cũng có quan điểm, ước vọng về Đấng Thiên Sai. Vì đang trong sự nô lệ cho người La Mã, họ mong đợi đấng ấy có thể giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ thực sự bằng vũ lực. Gioan Tẩy Giả cũng có sự mong đợi ấy nên khi thấy Đức Giêsu xuất hiện và có những lời nói, hành động giải thoát con người khỏi sự đau khổ về thể xác và tinh thần, ông đã sai môn đệ của mình đến gặp Đức Giêsu và thẳng thắn đặt vấn đề: “Ngài có phải là đấng sẽ đến, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?”

Thay vì trực tiếp xác nhận, Đức Giêsu đã lập lại lời của Ngôn Sứ Isaia đã tiên báo trước đó khoảng 800 năm về Đấng Thiên Sai. Điểm khác biệt ở đây là Đức Giêsu chỉ đề cập đến phần sau của lời này: “Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” (Is 35:5-6), mà không nói đến phần trước, “Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em” (c. 4).

Nói chung, cái nhìn chủ quan của dân Do Thái về Đấng Mêsia thì không được thể hiện hoàn toàn nơi Đức Giêsu. Có lẽ Đức Giêsu đã nhìn thấy điểm này và hậu quả của nó nên Người nói “Phúc cho ai không xúc phạm đến tôi” (takes no offense at me - NABRE). Cho đến nay, người Do Thái vẫn không công nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, nên thay vì mừng lễ Thiên Chúa Giáng Sinh, họ mừng lễ Hanukkah, kỷ niệm việc tái thánh hiến đền thờ Giêrusalem sau khi lấy lại từ tay người Hy Lạp vào năm 165 trước khi Đức Giêsu giáng trần.

Là người Công Giáo, chúng ta có những mong đợi gì nơi Chúa Giêsu? Ngày xưa Chúa chữa người đui mù, què quặt, phong hủi, ngày nay chúng ta không bị mù, què hay phong hủi thì chúng ta có cần đến sự chữa lành của Chúa hay không?

Chúng ta mong đợi gì nơi Chúa Giêsu? Để tránh khỏi sai lầm của người Do Thái khi chủ quan nhìn đến Đấng Thiên Sai, chúng ta phải nhìn đến Đấng Cứu Thế từ quan điểm của Thiên Chúa.

Chúng ta không mù lòa về thể lý nhưng “tôi có mù lòa khi nhìn về chính mình không?” “Tôi có nhận ra những khuyết điểm của mình, có tự mãn, hay tự cao tự đại không?” hoặc “Tôi có cái nhìn rõ ràng về người khác không? Hay tôi thường có thành kiến về họ và không muốn thay đổi thành kiến ấy?” “Tôi có mù lòa về tâm linh khi tuân giữ lề luật của Chúa một cách máy móc không?”

Chúng ta không què quặt về thể lý nhưng “tôi có đi đúng đường của Chúa không?” “Đời sống của tôi không được ngay thẳng là vì lý do gì? Vì ham mê của cải nên gian dối? Vì ham mê xác thịt nên vi phạm sự chung thủy trong hôn nhân?”

Chúng ta không bị cùi hủi nơi thân xác, nhưng “tôi có những ô uế trong tâm hồn cần được tẩy xóa không?” “Những ô uế tâm hồn của tôi là gì? Có thể là nói xấu người khác, bịa chuyện để đề cao chính mình và hãm hại, vu khống người khác?”

Chúng ta không chết về thể lý nhưng “kể từ khi theo Chúa, đời sống của tôi có đổi mới không?” “Tôi có sống bác ác hơn, liêm chính hơn không?” “Tôi có tin vào sự sống đời sau không?”

Chúng ta sẽ không thất vọng khi Chúa Giêsu giáng trần nếu chúng ta khiêm tốn thay đổi quan điểm của mình để theo quan điểm của Chúa.

Chúa Nhật III Mùa Vọng thường được Giáo Hội dùng phẩm phục và nến mầu hồng thay vì mầu tím để nói với chúng ta hãy vui lên vì Chúa sắp đến. Đặc biệt trong đoạn phúc âm hôm nay, chúng ta hiểu được rõ hơn lý do tại sao chúng ta vui mừng khi Chúa giáng trần.

Gioan Tẩy Giả là ngôn sứ sau cùng thời Cựu Ước và ông là một con người rất đặc biệt. Ông tu luyện trong hoang địa để có thể chu toàn vai trò ngôn sứ cách tốt đẹp. Đức Giêsu nhìn nhận ông là “trong số các phàm nhân, không ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả”. Nếu Đức Giêsu chỉ công bố như vậy, điều đó không có gì đặc biệt, nhưng Người nói tiếp, “Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong vương quốc Thiên Chúa thì cao trọng hơn ông”! (Mt 11:11)

Chúng ta bàng hoàng và rúng động, vì một người mẫu mực như Gioan Tẩy mà còn thấp hơn kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời thì làm sao chúng ta – những người thua xa Gioan Tẩy Giả – lại có thể được cứu độ!

Chúng ta chỉ có thể hiểu câu này qua biến cố Nhập Thể và Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu. Trước khi Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần, loài người bị tách biệt với Thiên Chúa vì lỗi lầm của tổ tiên, và cửa trời đã đóng lại mà không ai có thể mở ra được. Dù tốt lành thánh thiện như Gioan Tẩy Giả, ông vẫn chỉ là một con người với công nghiệp giới hạn thì làm thế nào có thể chuộc được tội lỗi của cả nhân loại từ A-Dong E-Và cho đến lúc tận thế? Đây là lý do Ngôi Hai Thiên Chúa phải xuống thế làm người để đại diện cho loài người mà “xin lỗi” Thiên Chúa bằng sự vâng lời tuyệt đối qua cái chết trên thập giá. Sự vâng lời của Chúa Giêsu đã đẹp lòng Thiên Chúa Cha, Người đã cho Đức Giêsu sống lại và lên trời vinh hiển. Đức Giêsu, đại diện cho loài người, mở lại cổng trời cho những người công chính bước vào. Nói cách khác, chúng ta được vào vương quốc Thiên Chúa không phải vì công trạng của chúng ta mà tất cả là nhờ vào công nghiệp của Chúa Giêsu.

Cũng nhờ sự Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa mà giờ đây loài người chúng ta có thể làm được điều gì đó tốt lành cho Thiên Chúa. Bởi vì, khi chúng ta cho người đói ăn, cho kẻ khát uống, giúp đỡ người cùng khốn, v.v., chúng ta đã làm cho chính Chúa Giêsu (xem Mt 25:31-46). Nói cách khác, khi vâng theo lời của Chúa Giêsu thi hành những việc bác ái, chúng ta đã tạo được “công trạng” cho chính mình để được hưởng hạnh phúc Nước Trời.

Đây là niềm vui Giáng Sinh! Chúng ta không phải cực khổ tu luyện như Gioan Tẩy Giả để được cứu độ. Chúng ta chỉ cần khiêm tốn nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Cứu Chúa và sống theo đường lối của Người. Đây là một mối lợi vô cùng lớn lao cho loài người chúng ta.

Để chấp nhận Đức Giêsu và sự giảng dậy của Người, chúng ta phải thay đổi quan điểm của mình và phải có lập trường vững chắc chứ không như “cây lau sậy” ngả nghiêng theo các luồng gió thế tục, hay chỉ theo đuổi sự hòa nhoáng bề ngoài nay còn mai mất. Vinh dự của Thiên Chúa thì cao trọng hơn mọi giầu sang thế lực ở đời này.

Pt Giuse Trần Văn Nhật