SỰ HIỆN HỮU CỦA GIA ĐÌNH TRONG TƯƠNG QUAN VỚI SỰ HIỆN HỮU CỦA XÃ HỘI HAY QUỐC GIA

John Phạm

Gia đình chính là cái nôi của tình yêu thương, để bạn được sinh ra và lớn lên; là điểm tựa tinh thần vững chắc để chắp cánh cho những ước mơ tươi đẹp của bạn được bay cao và bay xa. Trong tương quan với xã hội hay quốc gia, nhiều gia đình cảm thấy hạnh phúc và an tâm, nhờ những chính sách và luật lệ ưu tiên cho việc chăm sóc và bảo vệ các gia đình. Thế nhưng, lại cũng nhiều xã hội hay quốc gia đang làm cho các gia đình phải khổ sở và tan nát, vì những chính sách và đối xử đi ngược lại với chính bản chất của gia đình. Đối diện với thực trạng đang xảy ra, chúng ta cần có sự hiểu biết đúng cách khách quan, để có những hành động phù hợp với sự hiện hữu của gia đình trong tương quan với sự hiện hữu của xã hội hay quốc gia.

Người viết sẽ trình bày đề tài theo các mục sau: (I) Tìm hiểu về gia đình, (II) Vai trò của gia đình trong xã hội hay quốc gia, (III) Vai trò và trách nhiệm của xã hội hay quốc gia đối với gia đình.

I. Tìm hiểu về gia đình

Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về gia đình qua nguồn gốc, bản chất và khái niệm trong tương quan với xã hội hay quốc gia.

1. Nguồn gốc sự hiện hữu của gia đình

Theo Giáo lý Giáo Hội Công giáo khẳng định: “Chính Thiên Chúa đã thiết lập nên gia đình và đặt nền tảng căn bản cho gia đình khi tạo dựng người nam và người nữ.”1 Như thế, gia đình chính là một thực tại nằm trong chương trình của Thiên Chúa ngay từ những ngày đầu tạo dựng; gia đình là một cộng đoàn tiên khởi, là tổ ấm để con người được sinh ra và lớn lên về thể lý cũng như tinh thần.

2. Bản chất của gia đình

Từ nguồn gốc của gia đình cho ta dễ nhận ra đâu bản chất đích thực của gia đình: “Gia đình là một xã hội tự nhiên, trong đó người nam và người nữ được kêu gọi trao tặng bản thân mình trong tình yêu và trong việc trao tặng sự sống.”2 Như vậy, “sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân, cùng với con cái họ tạo thành một gia đình.”3 Điều này chứng tỏ tự bản chất, gia đình đã có trước khi được xã hội hay quốc gia công nhận.

3. Khái niệm về gia đình trong tương quan với xã hội

Trong tương quan với xã hội hay quốc gia, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: “Gia đình chính là cộng đồng các nhân vị, là tế bào xã hội nhỏ nhất, và như thế, nó là định chế cơ bản cho mọi xã hội sinh tồn.”4 Qua đó, cho ta thấy sự hiện hữu của gia đình không phụ thuộc vào xã hội hay quốc gia, nhưng nó nằm trong chương trình của Đấng Sáng Tạo, nó là nền tảng cho sự hiện diện của xã hội hay quốc gia. Vì thế, “gia đình không hiện hữu vì xã hội hay quốc gia, nhưng xã hội hay quốc gia hiện hữu vì gia đình.”5 Đây không phải là học truyết thiên về tôn giáo, nhưng nó được xây dựng trên chính bản chất của gia đình cách tự nhiên. Từ đó, giúp ta biết được gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội hay quốc gia.

II. Vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội hay quốc gia

Để có thể hiểu được đâu là vai trò chính yếu của gia đình đối với xã hội hay quốc gia, trước hết chúng ta cũng cần phải nắm được sự hiện hữu của gia đình chi phối và ảnh hưởng như thế nào đối với chính xã hội hay quốc gia đang hiện hữu?

1. Gia đình tạo nên một cộng đồng các ngôi vị

Theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: “Gia đình được thiết lập do tình yêu và được sinh động cũng do tình yêu, là một cộng đồng các ngôi vị: đôi bạn là nam và nữ, cha mẹ và con cái, họ hàng.”6 Nhờ sợi dây tình yêu liên kết giữa các ngôi vị, gia đình thể hiện đầy đủ hơn các tương quan ngôi vị trong cộng đồng. Tình yêu là nguyên lý nội tại để xây dựng tương quan vợ chồng, con cái và anh chị em; đó cũng chính là điều kiện cần và đủ để hướng tới sự hiệp thông lớn hơn trong xã hội qua tương quan “chúng ta.”

Tất cả chiều kích cộng đồng trong xã hội đều khởi đi từ chiều kích cộng đồng trong gia đình. Khi các ngôi vị trong gia đình sống đúng phẩm giá của mình trên tình yêu và hướng đến sự hiệp thông, thì xã hội hay quốc gia nhận từ đó như nền tảng và những bài học quý giá, để tiếp tục tôn trọng và làm phát triển các tương quan trong sự gặp gỡ và đối thoại, yêu thương và phục vụ... hướng đến sự hiệp thông sâu xa trong cộng đồng xã hội hay quốc gia với nhiều ngôi vị.

2. Gia đình phục vụ cho sự sống

Theo Giáo lý của Giáo Hội Công giáo: “Gia đình chính là tế bào nguyên thủy của đời sống xã hội.”7 Sở dĩ như thế, vì trong ơn gọi gia đình, chính tình yêu có sự trao hiến thân xác cho nhau và mở ngõ cho sự sống mới, là sự chào đời của những đứa con. Sự ra đời của những đứa con làm cho gia đình tăng thêm số về các ngôi vị, điều này cũng đồng nghĩa với “gia đình nhân loại được thêm về số lượng và tương lai của xã hội hay quốc gia được đảm bảo.”8

Chính tình yêu đã cho sự sống mới, nhưng đồng thời tình yêu cũng gắn liền với bổn phận và trách nhiệm trong việc chăm sóc lẫn nhau đối với các thành viên trong gia đình. Sự yêu thương và chăm sóc mà các ngôi vị trong gia đình đang dành cho nhau, chính là để phục vụ cho sự sống con người cả về thể lý lẫn tinh thần. Đây cũng là điều kiện căn bản, để cho mọi công dân được đảm bảo về sự sống trong xã hội hay quốc gia. Sẽ không thể có một xã hội hay quốc gia sống động nếu như công dân đang bị tước đi quyền sống; không có xã hội hay quốc gia nhân bản nếu công dân đang bị xúc phạm đến nhân phẩm; sẽ không có xã hội hay quốc gia tự do mà người dân đang bị đàn áp, nô lệ và bóc lột mất quyền con người... đặc biệt sẽ không có một xã hội hay quốc gia nào tự do, công bằng, dân chủ và văn minh trong khi các gia đình đang bị đối xử không đúng với bản chất đích thực là gia đình.

Chính vì trách nhiệm và bổn phận phải phục vụ cho sự sống con người ngay từ những ngày đầu, nên vai trò của gia đình đặt nền tảng cho việc phục vụ sự sống là mục đích của xã hội hay quốc gia, như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Tương lai của nhân loại sẽ ngang qua gia đình.”9 Tuy nhiên, để có những người công dân tốt, thì người đó phải đảm bảo được những đức tính cần thiết của một người tốt, điều đó được hình thành ngay từ những ngày đầu ngang qua môi trường giáo dục của gia đình.

3. Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên

Trong ca dao tục ngữ Việt Nam có câu:           

“Uốn cây từ thuở còn non,
Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.”

Điều đó cho thấy được nhiệm vụ của cha mẹ mang tầm quan trọng không thể thay thế trong việc giáo dục con cái ngay từ những ngày đầu để trở thành người tốt. Thế nhưng, hiện nay quyền và bổn phận đó đang có nhiều bậc cha mẹ lơ là và chưa chu toàn bổn phận, nên dẫn đến tình trạng con cái hư hỏng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chính gia đình, đồng thời cũng ảnh hưởng đến với xã hội hay quốc gia. Trong thực trạng đó, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định quan điểm, vừa là với chính các gia đình, nhưng cũng là với xã hội hay quốc gia: “Gia đình chính là nơi phát sinh người công dân và là trường học đầu tiên dạy cho con người học được những nhân đức xã hội mà tất cả mọi xã hội đều cần đến. Chính trong gia đình mà người ta học biết trách nhiệm và liên đới.”10

Việc sinh con có trách nhiệm, ngoài việc đảm bảo cho đời sống của nó cần phải lo giáo dục nó thành người nữa, đó chính là bổn phận và cũng là quyền lợi của cha mẹ trong gia đình. Phải dạy nó từ những lời ru, tiếng hát đầu tiên về những phẩm chất của một con người tốt là biết yêu thương và phục vụ, trách nhiệm và liên đới, công bằng và thật thà, kiên trì và nhân hậu, dạy nó về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Chính những mục đích đó trong môi trường giáo dục gia đình là nền tảng và điểm xuất phát cho nền giáo dục trong xã hội hay quốc gia.

Như vậy, cha mẹ cũng chính là mẫu gương cho các nhà giáo dục, vì họ là những người đầu tiên thi hành việc giáo dục qua vai trò là cha mẹ. Vì thế, quyền lợi và bổn phận giáo dục của cha mẹ trở nên như yếu tính và bất khả thay thế hay chuyển nhượng. Ngoài một số đức tính căn bản, cha mẹ còn phải lo giáo dục con cái về các lãnh vực tôn giáo, luân lý và văn hóa xã hội... giúp hoàn thiện một người nhân bản, vì “gia đình là một trường học phát triển nhân tính.”11

Ngoài những vai trò căn bản trong môi trường gia đình đối với xã hội hay quốc gia như: tạo nên một cộng đồng ngôi vị, phục vụ sự sống và giáo dục đầu tiên, các gia đình còn phải luôn nhận ra và cố gắng chu toàn các nhiệm vụ khác như: lo cho người nghèo, tham gia vào chính trị..., để phát triển xã hội hay quốc gia cách vững chắc. Chính những yếu tố đó làm cho ta thấy rõ được sự hiện diện của gia đình không phải là vì xã hội hay quốc gia (gia đình là đối tượng), mà đúng hơn là “cho” hay “trao ban” (gia đình là chủ thể) vì: “Gia đình chính là một cộng đồng tự nhiên trong đó người ta nghiệm ra bản chất xã hội của mình, chính là một đóng góp độc nhất vô nhị, không thể thay thế được cho ích lợi xã hội.”12 Vì thế, xã hội hay quốc gia phải có trách nhiệm phục vụ các gia đình.

III. Vai trò của xã hội hay quốc gia đối với gia đình

Qua những gì đã trình bày cho ta thấy được vai trò của gia đình: “Gia đình phải được đặt trên xã hội và quốc gia: đó là một điều cần được khẳng định.”13 Do đó, xã hội hay quốc gia phải nhìn nhận và luôn tôn trọng quyền của gia đình, bảo vệ đời sống gia đình, đồng hành cùng gia đình và ưu tiên quyền lợi của gia đình so với bất kỳ một tổ chức nào khác.

1. Xã hội hay quốc gia phục vụ gia đình

Công đồng Vaticanô II đã khẳng định rằng: “Tất cả những ai có ảnh hưởng trên các cộng đồng và tập thể xã hội, phải góp công hữu hiệu thăng tiến hôn nhân và gia đình. Chính quyền phải nhìn nhận, bênh vực và phát huy tính chất đích thực của hôn nhân và gia đình, phải bảo vệ nền luân lý và giúp cho gia đình được sung túc, vì đó là những bổn phận mà chính quyền phải coi như một sứ mệnh thiêng liêng phải chu toàn. Lại phải bảo đảm cho cha mẹ quyền sinh sản và giáo dục con cái trong khung cảnh gia đình. Phải soạn thảo được những bộ luật biết tiên liệu và đề ra được nhiều sáng kiến để bảo vệ và nâng đỡ cả những người vì rủi ro mà không có gia đình.”14

Khẳng định này của Công đồng, được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiếp tục triển khai trong “Thư gửi các gia đình,” khẳng định về mối tương quan giữa gia đình và xã hội như sau: “Gia đình là một cộng đoàn các nhân vị, là tế bào xã hội nhỏ nhất, và như thế, nó là định chế cơ bản cho mọi xã hội sinh tồn. Và như là định chế thì gia đình chờ đợi gì nơi xã hội? Trước tiên, là được nhận theo đúng căn tính gia đình và chấp nhận là một chủ thể xã hội. Bản tính là chủ thể này được gắn với căn tính riêng của hôn nhân và gia đình.”15

Qua khẳng định trên của Giáo Hội, cho thấy nhiệm vụ cũng như trách nhiệm đầu tiên của xã hội hay quốc gia đối với gia đình chính là nhìn nhận về gia đình theo đúng căn tính của nó, từ nguồn gốc, bản chất và mục đích sự hiện hữu. Sự hiện hữu của gia đình không phải là một đối tượng của xã hội hay quốc gia, nhưng nó là chủ thể. Vì là chủ thể, nên xã hội hay quốc gia phải có bổn phận và trách nhiệm trong việc phục vụ cho các gia đình. Sở dĩ vừa là bổn phận vừa là trách nhiệm, vì khi xã hội hay quốc gia chu toàn trách nhiệm phục vụ gia đình, thì cũng là chu toàn trách nhiệm đối với những người công dân của mình, vì họ dù là ai đi nữa cũng thường xuất phát từ một gia đình.

Tuy nhiên, tinh thần phục vụ đó phải dựa trên một nguyên tắc hỗ trợ để trách sự lạm quyền, vượt quá giới hạn và gây ảnh hưởng đến quyền và bổn phận của gia đình, vì trong gia đình có những quyền và nghĩa vụ bất khả xâm phạm và bất khả thay thế. Xã hội hay quốc gia “phải lo đảm bảo cho các gia đình mọi sự trợ giúp về kinh tế, xã hội, giáo dục, chính trị, văn hóa - mà họ cần có để hoàn thành các nghĩa vụ của họ một cách nhân bản”16.

Mặc dù trách nhiệm và nghĩa vụ của xã hội hay quốc gia trong việc phục vụ gia đình là tự bản chất, nhưng thực tế thì điều đó không được theo như ý muốn, nhiều lúc nhiều nơi còn đi ngược lại, dẫn đến những khủng hoảng nơi các gia đình. Do đó, cần phải có sự cụ thể và rõ ràng về quyền của các gia đình trong xã hội hay quốc gia hoặc bất kỳ một tổ chức nào khác. Xét thấy tầm quan trọng đó, Giáo Hội Công giáo đã chính thức có một bản liệt kê những quyền của gia đình và có thể gọi là: “Hiến chương về quyền gia đình.”

2. Hiến chương về quyền gia đình17

Hiến chương này được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Familiaris Consortio trình bày và Cuốn Giáo lý của Giáo Hội Công giáo tóm lại, để cho xã hội hay quốc gia hay bất kỳ tổ chức nào phải tôn trọng và giúp gia đình chu toàn những quyền căn bản này.

  • Quyền tự do lập gia đình, quyền sinh con cái và giáo dục chúng theo những xác tín luân lý và tôn giáo của mình;
  • Quyền bảo toàn sự vững bền của dây liên kết phu phụ và thể chế gia đình;
  • Quyền tự do tuyên xưng đức tin, lưu truyền và giáo dục đức tin cho con cái bằng những phương tiện và thể chế cần thiết;
  • Quyền tư hữu, tự do kinh doanh, có việc làm, có nhà ở, quyền di cư;
  • Quyền được chăm sóc y tế, trợ cấp tuổi già, phụ cấp gia đình, theo thể chế của quốc gia;
  • Quyền được bảo vệ về an ninh và cuộc sống lành mạnh, nhất là tránh được các nguy cơ như xì ke ma túy, sự khiêu dâm, thứ nghiện rượu...
  • Quyền tự do liên kết với các gia đình khác để lập các hiệp hội và như thế, được có đại diện trước các quyền bính dân sự.

Trên đây là “Hiến chương về quyền gia đình” như là kim chỉ nam để giúp xã hội hay quốc gia hướng tới phục vụ quyền lợi của gia đình, tất cả là đều phải dựa trên nguyên tắc “sự hiện diện của xã hội hay quốc gia là vì hạnh phúc gia đình.”

Qua những gì đã trình bày ở trên khởi đi từ nguồn gốc, bản chất sự hiện diện của gia đình, cho thấy được gia đình đích thực là gì? Vai trò của gia đình như thế nào trong tương quan với xã hội hay quốc gia? Và xã hội hay quốc gia phải làm gì để phục vụ quyền lợi gia đình? Gia đình hiện hữu khi con người được tạo dựng, gia đình tiếp tục phát triển sự sống tạo nên một cộng đồng các ngôi vị, có tổ chức, có giáo dục và các mối tương quan liên vị. Từ chính trong gia đình, các ngôi vị ngày một gia tăng và phát triển về thể lý, luân lý và tinh thần... Vì thế, cần có sự hiện diện của xã hội hay quốc gia, để cùng với gia đình, các tổ chức này sẽ giúp cho con người được sống đúng với nhân phẩm của mình hơn và hướng đến một hạnh phúc toàn diện.

Ghi chú
1 Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2203, bd. Hội đồng Giám mục Việt Nam - Ủy ban Giáo lý Đức tin (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2012), 627.
2 Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2207.
3 Ibid., số 2202.
4 Gioan Phaolô II, Thư Gửi Các Gia Đình, số 17.
5 Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo,số 214,bd. Hội đồng Giám mục Việt Nam -  Ủy ban Bác ái Xã hội (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2007), 166.
6 Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 18, bd. Hội đồng Giám mục Việt Nam - Ủy ban Mục vụ Gia đình (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2011), 72.
7 Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2207.
8 Nguyễn Văn Dụ, Hướng Dẫn Mục Vụ Gia Đình, (Trung Tâm Mục Vụ Việt – Ý, 2014), 166.
9 Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 86.
10 Công đồng Vaticanô II, Tuyên ngôn Gravissimum Educationis, số 3, bt. Phân khoa Thần học – Giáo hoàng Học viện thánh Piô X (Đà Lạt – Việt Nam, 1972), 447.
11 Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 52.
12 Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo, số 213.
13 Ibid., số 214.
14 Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 52.
15 Gioan Phaolô II, Thư Gửi Các Gia Đình, số 17.
16 Gioan Phaolô II, Tông Huấn Familiaris Consortio, số 45.
17 Ibid., số 46; Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2211.