Cau Xin Me

GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
Ở CHÂU ÂU

Giới thiệu

“Giáo Hội Công giáo và chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Âu (1917-1989). Từ Lênin đến Gioan-Phaolô II”: đó là đầu đề một nghiên cứu lịch sử rất lý thú mà Giáo sư Philippe Chenaux mới xuất bản  ở Paris năm ngoái vào lúc Châu Âu suy nghĩ về những nguyên nhân và hậu quả của sự kiện bức tường Berlin sụp đổ (1989).

Bài trả lời phỏng vấn sau đây của tác giả tóm tắt những giai đoạn phát triển quyết định của chủ nghĩa CS và giải thích ý nghĩa cốt yếu của chúng. Bài này soi sáng cho ta hiểu rõ hơn thái độ của Giáo Hội Công giáo đối với CS qua từng thời kỳ.

- Hỏi (Hãng tin Zenit) : Thưa ông Philippe Chenaux, ông là giáo sư lịch sử Giáo Hội hiện đại và đương đại tại đại học giáo hoàng Latran, ở Rôma. Ông vừa cho in ở nhà xuất bản Le Cerf một cuốn sách phân tích lý thú nhan đề “GH CG và, v.v.” Tại sao nói tới hai thời điểm 1917 và 1989?

- Đáp (Gs Philippe Chenaux) : 1917 là năm xảy ra hai cuộc cách mạng Nga: cuộc cách mạng tháng 2 đánh dấu sự sụp đổ của chế độ Sa-hoàng, cuộc cách mạng tháng 10 đưa Lênin và người cộng sản lên nắm quyền. Còn năm 1989 là năm bức tường Berlin cùng với chế độ công sản trong các nước Đông Âu sụp đổ. Giữa hai thời điểm này là giai đoạn mà người ta đã có thể gọi là “thế kỷ XX ngắn ngủi”.

- H : Sau một chương về GH và cách mạng, ông nói tới cái “ảo vọng Nga”, nó là gì?

- Đ :  Sự sụp đổ của triều đại (gia đình) Romanov là người bảo vệ lâu đời của Chính thống giáo, đã được đón nhận một cách “không khó chịu” tại Vatican sau cuộc cách mạng tháng 2. Nó thậm chí còn làm nảy sinh giấc mơ về sự trở lại của nước Nga ly khai về với đức tin công giáo Rôma. Đó là điều tôi gọi là “ảo vọng (về nước) Nga”, chính nó đã có ảnh hưởng lớn trên chính sách của Toà Thánh đối với Điện Kremlin trong những năm hai mươi. Nó đưa tới việc tìm kiếm một hiệp định theo kiểu thoả ước với chính quyền sô-viết, rồi vì không thể đạt tới một hiệp định như thế, người ta lại tìm cách xâm nhập bí mật vào Nga, - một kế hoạch được thực hiện bởi Đức cha Michel d’Herbigny dòng Tên Pháp.

- H : Và ông muốn nói gì khi dùng mấy tiếng “bàn tay chìa ra” (La main tendue)? Rồi sau đó lại nói tới “sự từ chối ‘thập tự chinh’”?

- Đ : Chính sách “bàn tay chìa ra” là chính sách cởi mở của Đảng Cộng sản Pháp đối với người công giáo. Ta nhớ lại lời kêu gọi nổi tiếng của Marice Thorez, Tổng bí thư Đảng đưa ra trước cuộc bầu cử năm 1936. Lời đề nghị cộng tác này được đón nhận nhiều cách khác nhau, nhưng Vatican của Đức Giáo Hoàng Piô XI đã đối lại bằng một lời từ chối trong thông điệp Divini Redemptoris (1937), trong đó chủ nghĩa cs được định nghĩa là một ý thức hệ “tự bản chất là xấu xa”. Còn kiểu nói “Từ chối thập tự chinh” ám chỉ sự từ chối của chính Đức Piô XI không chịu kêu gọi thánh chiến chống lại cộng sản nhân cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Đức Piô XII cũng có thái độ dè dặt như thế trong chiến tranh thế giới thứ hai và thời đầu chiến tranh lạnh.

- H : Sau phần đầu trên đây với nhan đề “Giữa Charybde và Scylla (1917-1945)” [ý nghĩa gần như câu tục ngữ của ta: tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa], ông đề cập tới “Giáo Hội trong thời chiến tranh lạnh”, và điều mà ông gọi là “những cuộc khủng hoảng của phe Cấp tiến Kitô giáo”: vậy nét tiêu biểu của thời kỳ này là gì?

- Đ : Là thời đối đầu mạnh mẽ nhất giữa GH và CS thế kỷ XX. GH bị tấn công từ mọi phía: ở phía Tây, sự gia tăng quyền lực của các đảng cộng sản trong những cuộc thăm dò dư luận trước bầu cử lần đầu tiên sau chiến tranh được tổ chức tại Pháp và Ý, cho thấy có những điều xấu nhất đang chờ đợi; còn phía Đông việc người cộng sản dành được chính quyền đánh dấu bước đầu của một chính sách đe doạ và bắt bớ.  Năm 1949, một sắc lệnh của bộ Thánh Vụ sẽ cấm mọi hình thức cộng tác với cộng sản, ai bất tuân sẽ bị vạ tuyệt thông. Tuy thế, “khuynh hướng liên minh” với cộng sản vẫn tiếp tục thắng thế trong một số môi trường công giáo Pháp và buộc Vatican phải can thiệp. Khủng hoảng nặng nề nhất của phe cấp tiến sẽ là khủng hoảng của phong trào linh mục-thợ (prêtres-ouvriers) năm 1954.

- H : Sau đó là thời “tan băng” và “sụp đổ” (1959-1989) : trước tiên cùng với cuộc “cách mạng” của ĐGH Gioan XXIII: sao gọi là cách mạng?

- Đ : Danh từ “cách mạng” có lễ hơi quá đáng.Nó chỉ muốn chỉ ra lên rằng với việc hồng y Angelo Roncalli được bầu làm giáo hoàng, một cái gì đó đã thay đổi trong thái độ Giáo Hội đối với chủ nghĩa cộng sản. Không còn những tuyệt thông và lên án nữa, nhưng là đối thoại và hoà bình. Trong một vài tháng, Đức Thánh Cha đã tạo được một bầu khí tin tưởng trong các mối liên hệ với Matcơva, đến mức đã đón tiếp con rể ông Khrouchtchev và con gái ông ta tại Vatican vào tháng ba năm 1963. Công đồng Vaticanô II không đưa ra lời lên án chính thức nào đối với cộng sản như nhiều nghị phụ mong muốn.

- H : Mô tả thế nào chính sách phương Đông (Ostpolitik) của Vatican?

- Đ : Việc đề ra cái mà người ta gọi là Ostpolitik của Toà Thánh Vatican là hậu quả trực tiếp của những nỗ lực trên đây để cổ vũ hoà bình và hoà hoãn. Người ta muốn nói đến việc theo đuổi những hiệp định giới hạn với các nước cộng sản Đông Âu nhằm bảo đảm cho sự sống còn của Giáo Hội cơ chế trong các nước này. Chính sách này do Đức Gioan XXIII khởi xướng và được Đức Phaolô VI tiếp tục dù có những mối nghi ngờ và đạt ít kết quả cụ thể; về sau nó sẽ là đối tượng cho những lời phê bình ngay bên trong GH, nhất là trong giới người di cư [từ các nước cộng sản]. Nó sẽ cho phép Vatican liên kết ngay từ đầu với quá trình đưa tới những hiệp ước Helsinki tháng tám năm 1975. Nhà thiết kế lớn của chính sách hoà hoãn này là Agostino Casaroli về sau sẽ được thăng chức hồng y.

- H : Tại sao nói tới “ sự đoạn chung của một ảo tưởng” ?

- Đ :  Tôi dùng cách nói này khi qui chiếu về tác phẩm lớn của Francois Furet nhan đề “ Quá khứ của một ảo tưởng, Tiểu luận về ý tưởng cộng sản trong thế kỷ XX”, xuất bản năm 1995. Cuốn sách cho thấy rằng ảo tưởng cộng sản, nghĩa là ảo tưởng về một tương lai xán lạn và một xã hội vô giai cấp đã chấm hết bên Phương Tây với sự ra đời của cuốn Archipel du Goulag [Quần đảo Goulag, hay Trại cải tạo] của nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne. Từ đó, chủ nghĩa chống cộng trở thành thái độ duy nhất có thể chấp nhận được về mặt luân lý đối với giới trí thức.

- H : Đối với ông Lech Walesa, sự sụp đổ của bức tường Berlin trước tiên là do ảnh hưởng của ĐGH Gioan Phaolô II, còn những tác nhân khác vào thời đó như ông Gorbatchev thì mờ nhạt hơn. Trong tư cách nhà sử học, ông đánh giá thế nào ảnh hưởng này và ảnh hưởng của Ba-lan?

- Đ : Không thể chối cãi rằng phong trào đưa tới sự sụp đổ của hệ thống cộng sản trong các nước Đông Âu đã phát xuất từ Ba-lan. Vai trò của Đức Gioan Phaolô II về phương diện này là quyết định. Qua những chuyến đi liên tiếp của ngài về đất nước mình, ngài đã làm cho dân tộc Ba-lan lấy lại được niềm tin vào khả năng nắm lại lịch sử của mình trong tay. Sự ủng hộ ngài dành cho công đoàn Đoàn Kết [của Lech Walesa] không hề suy giảm. Dầu vậy, cũng phải nói thêm rằng hiển nhiên là nếu không có một người như Gorbatchev lên nắm quyền ở Matcơva thì mọi chuyện đã không biến chuyển theo cách như thế.

- H : Trong phần bốn của cuốn sách, ông nhắc tới giả thuyết mang tính “khiêu khích” là: chủ nghĩa cộng sản, dị giáo cuối cùng của Kitô giáo. Ông có thể giải thích điều đó được không?

- Đ : Tôi lấy làm của mình một nhận định của [triết gia] Maritain đuợc nêu rõ trong sách, Maritain trình bày chủ nghĩa CS như “dị giáo sau cùng của Kitô giáo”. Quả thực, tôi tin rằng người ta không thể tư duy chủ nghĩa cộng sản bên ngoài một nền văn hoá là văn hoá Do-thái và Kitô giáo. Như Maritain nói, người ta tìm thấy trong các giá trị của cộng sản (công bằng xã hội, bình đẳng, tính cộng đồng, v.v.) mà cả trong niềm hy vọng thế tục mà nó đã khơi dậy, một “chút dư thừa” của di sản Do - thái và Kitô giáo bị tách khỏi phần còn lại của di sản này và tháp nhập – nếu nói được như thế - vào trong một quan niệm duy vật vô thần về cuộc sống và về lịch sử. Chính cái chút dư thừa này giải thích phần lớn sức thu hút mạnh mẽ của nó đối với quần chúng Tây phương.

(Zenit 9.12.2009)

Linh mục Nguyễn Hồng Giáo phiên dịch

(15.3.2010)