CÁC BÍ TÍCH THÔNG BAN ÂN SỦNG DO SỰ (EX OPERE OPERATO)

John Phạm

Con người chúng ta là một tổng thể gồm cả hồn lẫn xác, nên trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Người cũng cần những phương thế cụ thể để thực hiện chương trình ấy. Phương thế vĩ đại hơn hết mà Thiên Chúa dùng là biến cố nhập thể của Đức Giêsu Kitô - Ngôi Hai Thiên Chúa. Chính Người đã trở nên con người cụ thể như chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Qua biến cố nhập thể, Đức Kitô đã thực hiện tròn đầy hai chức vụ quan trọng là thánh hóa và phụng tự. Trong cương vị là đại diện Thiên Chúa, Người đã thi hành chức vụ thánh hóa qua việc trao ban tình yêu, truyền thông ân sủng và gửi Chúa Thánh Thần xuống cho loài người. Người cũng đại diện cho con người và vũ trụ này dâng lên Thiên Chúa Cha tâm tình yêu mến, thờ lạy và cầu khẩn trong chức vụ phụng tự.

Sau cuộc thương khó và phục sinh, Chúa Kitô tiếp tục hiện diện hóa với chúng ta qua bí tích. Vì là những dấu chỉ khả giác, nên bí tích giả thiết phải có đức tin thông qua lời nói, hành động và sự vật trong bí tích mà đức tin của chúng ta được nuôi dưỡng; vì thế được gọi là bí tích của đức tin. Hơn nữa, bí tích còn được xem như là “máng thông ơn” mà qua đó Thiên Chúa ban ân sủng xuống cho con người, giúp họ thờ phượng và mỗi ngày một trở nên giống Chúa Kitô hơn (x. SC, số 59). Để hiểu rõ chức vụ thánh hóa của bí tích trong việc thông ban ân sủng, ta cần tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa thần học của khẳng định: “Các bí tích thông ban ân sủng do sự (Ex opere operato).”

Nguồn gốc của khẳng định: Ân sủng bí tích - Ex opere operato

Trước hết, sở dĩ có sự xuất hiện của thành ngữ này, vì trong quá khứ có sự tranh luận gắt gao về sự lẫn lộn tính thành sự và hiệu năng trong các bí tích; cách rõ nhất là với vấn nạn có nên rửa tội lại cho những người thuộc các giáo hội ly khai khi họ muốn trở lại, hay tha tội cho những người chối đạo không? Do đó, người ta đã phân biệt cái Opus operans (hành động của thừa tác viên khi cử hành bí tích) và Opus operatum (hiệu lực nội tại của bí tích - tính hữu hiệu của bí tích). Chính vì thế, mục đích chính của thành ngữ “Ân sủngbí tích - Ex opere operato” là xác định: Opus operatum - do hiệu lực của Chúa Kitô hay công hiệu do cuộc khổ nạn của Chúa Kitô; còn Opus operans là do sự chu toàn nghi thức bí tích với tinh thần đức tin của thừa tác viên và của thụ nhân.

Thành ngữ “Ân sủng bí tích - Ex opere operato” đã được Công đồng Trento sử dụng lần đầu tiên nhằm xác tín rõ ràng rằng: ơn thánh được ban do chính hành động bí tích và được thi hành một cách chính đáng (bí tích có hiệu lực nội tại) (x. DS. 1608), để chống lại thái độ của phái Tin lành. Họ cho rằng: Bí tích không có hiệu năng nội tại mà tùy thuộc ở những hành vi và lòng tin của chủ thể, tức là hiệu năng ngoại tại Ex opere operantis. Giáo hội không phủ nhận hiệu năng ngoại tại, nhưng nó chỉ là thứ yếu, là cái đến sau so với Ex opere operato.

Ý nghĩa thần học của khẳng định: Ân sủng bí tích - Ex opere operato

Ý nghĩa thần học đầu tiên của thành ngữ “Ân sủng bí tích- Ex opere operato”: muốn diễn tả rằng chính Thiên Chúa là nguyên lý hành động của bí tích chứ không phải là Giáo hội. Giáo hội chỉ là người được ủy thác mà thôi (x. GLGHCG, số 1131). Bí tích là một hành vi của Thiên Chúa, trước khi là hành vi của Giáo hội. Chính Chúa Giêsu thiết lập các bí tích, nhưng Người không ở ngoài bí tích mà chính quyền năng của Người và Chúa Thánh Thần luôn hoạt động và hiện tại hóa các cử hành bí tích (x. GLGHCG, số 1127).

Để diễn tả điều đã nói trên, chúng ta quan sát hình ảnh người gieo giống, khi gieo vào lòng đất, cho dù người gieo đó tốt hay xấu hoặc thế nào đi nữa, nếu điều kiện tốt thì hạt giống ấy vẫn nẩy mầm và không ngừng vươn lên. Vậy sự lớn lên của hạt mầm là nội tại bên trong nó chứ không phải phụ thuộc vào tình trạng của người gieo. Chính thánh Augustinô đã khẳng định rằng: “Khi Phêrô làm phép rửa là chính Chúa Kitô làm phép rửa; khi Phaolô làm phép rửa là chính Chúa Kitô làm phép rửa; khi Giuđa làm phép rửa là chính Chúa Kitô làm phép rửa.”

Điểm quan trọng nữa mà thành ngữ Ân sủng bí tích - Ex opere operato muốn khẳng định: ân sủng của bí tích được trao ban không tùy thuộc vào chủ thể nào khác ngoài Thiên Chúa qua cái chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô - Chúa chúng ta. Cho dù thừa tác viên và thụ nhân có ở trong tình trạng nào đi nữa, thì ân sủng Thiên Chúa vẫn không ngừng tuôn đổ cách dồi dào qua các cử hành bí tích. Điều này muốn diễn tả cho chúng ta thấy bí tích chính là quà tặng của Thiên Chúa, một món quà xuất phát từ một tình yêu và lòng thương xót đi bước trước.

Trong bí tích Thiên Chúa ban ân sủng, ân sủng xuất phát từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho chúng ta, cách cụ thể nơi bí tích Thánh Thể, chính Người ngự trong bí tích cách trọn vẹn, để ở cùng chúng ta và cho chúng ta được chiêm ngắm và kết hiệp với Người. Ơn thánh xuất phát tự nghi thức được thi hành một cách đúng đắn trong đức tin, chứ không phụ thuộc vào những hành vi chủ quan của thừa tác viên cử hành. Một linh mục đang trong tình trạng mắc tội trọng nhưng cử hành Thánh Lễ vẫn thành sự khi cử hành đúng với các nghi thức của Giáo hội và ân sủng vẫn được trao ban cho mọi người (tuy nhiên vị linh mục không nhận được ơn thánh qua bí tích này) (x. GLGHCG, số 1128).

Tránh hiểu biết tiêu cực về khẳng định: Ân sủng bí tích - Ex opere operato

Chúng ta cũng cần phải tránh những tiêu cực thường có trong thành ngữ Ân sủng bí tích - Ex opere operato.

Thứ nhất, tránh sự tương đồng giữa nghi thức bí tích và ma thuật, các nghi thức trong bí tích không phải tự nó trao ban ân sủng, nhưng chính Thiên Chúa đã dùng nó như những khí cụ để qua đó, với lòng tin con người được đón nhận ân ban nhưng không của Thiên Chúa.

Thứ hai, tránh coi thường đời sống của thừa tác viên khi cử hành: Vì khi cử hành bí tích nếu đời sống của thừa tác viên không tốt thì chính họ cũng không nhận được ân sủng Thiên Chúa ban qua bí tích đó; hơn nữa họ còn gây gương mù, gương xấu và ảnh hưởng đến những thụ nhân của các bí tích do họ cử hành, nhất là về đời sống đức tin và chiều kích mục vụ trong Giáo hội.

Thứ ba, cách đặc biệt đối với thụ nhân: dù bí tích ban ân sủng, nhưng để đón nhận được ân sủng của Thiên Chúa thì thụ nhân phải có sự chuẩn bị về tâm hồn, để xứng đáng đón nhận ơn thánh do bởi tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Bí tích không phải là một nghi thức cứng nhắc, nhưng đó là một cuộc gặp gỡ sống động với Chúa Kitô. Vì thế, cả thừa tác viên và người thụ nhân cũng phải chuẩn bị cho mình tâm tình tốt nhất, bên trong lẫn bên ngoài, để chúng ta được đón nhận cách tròn đầy ân sủng của Thiên Chúa ban.

Tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm, đã nói qua bí tích là phương thế Thiên Chúa dùng để biểu lộ một tình yêu, lòng thương xót nhưng không dành cho loài người chúng ta. Người dùng chúng như những phương tiện để gặp gỡ chúng ta trong hành trình đức tin, tiếp tục ơn cứu độ mà Người đã khởi sự để đưa chúng ta vào trong đời sống của Người, tức đời sống trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính vì thế, bí tích thông ban ân sủng là do sự (Ex opere operato).